Banner giua trang

Hành Trình Vào Cõi U Minh Và Xán Lạn

Đăng lúc: Thứ hai - 09/03/2015 15:21 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Một tia sáng, từ đâu đó lọt vào khoang cấm, tắm gội ngài bằng sự an bình và thắp sáng cho ngài niềm hoan hỷ, và ngài vẫn tiếp tục hát lên: Te Deum laudámus: te Dominum confitémur. Te ætérnum Patrem omnis terra venerátur.
HÀNH TRÌNH VÀO CÕI U MINH VÀ XÁN LẠN

 
Nguyên tác tiếng Anh:
JOURNEYS INTO DARKNESS AND LIGHT. By Andre Nguyen Van Chau (*)
 
Người dịch: Micae Hoàng Xuân Tịnh AN41
 
1. Biệt Giam
 
Tôi đã từng phỏng vấn vị Tổng Giám Mục cả trăm lần. Tôi đã từng trải qua nhiều ngày sống trong phòng khách nhỏ hẹp của căn hộ bề bộn của ngài, tại chung cư Palazzo San Callisto (một trong những tài sản ngoại thành của Tòa Thánh) ở Rôma. Chúng tôi đã bàn đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất của cuộc đời ngài, thế nhưng có những vùng xám chúng tôi đành phải bỏ lại cho hồi sau, mặc dù chúng có thể rất thiết yếu trong cuộc sống ngài. Những vùng xám đó ví như những khoảng trống trên một bức tranh sơn dầu phần lớn đã hoàn thành. Lần ngài đến thăm Geneva nơi tôi từng cư ngụ và sinh hoạt đã được xem như để lấp vào một trong những khoảng trống đó.
 
Đã ba ngày qua những cụm hoa tử đinh hương đầu tiên đang nở rộ. Lúc này bầu không khí của toàn công viên Parc de la Grange đang tràn ngập mùi hương ngào ngạt của cả ngàn chòm cây phơn phớt màu xanh nhạt. Khách nhàn du vẫn còn cảm thấy ngần ngại nếu chỉ mặc chiếc sơ mi mà nhoài người xuống trên thảm cỏ, vì rằng mùa đông chưa lùi bước hẳn tại Geneva; dù vậy ánh mặt trời non nớt cơ hồ đã làm được việc xua tan làn khí còn sót lại của cơn gió lạnh.
 
Chúng tôi vẫn với chiếc sơ mi và cứ thế mà nằm trên cỏ. Vốn thích điều bình dị, nên việc soải người trên thảm cỏ thế này có vẻ là điều thú vị đối với người bạn của tôi, Đức Tổng Giám mục. Ngài cực kỳ hứng thú được thoát ra ngoài, sống giữa không trung, trong công viên, với những người khách lạ, trẻ có già có, đang tản bộ đó đây chung quanh chúng tôi.
 
Chúng tôi nhìn lên bầu trời không gợn một áng mây. Ở một khoảng cách, từ đàng xa của công viên đang vẳng lại tiếng rì rầm của những chú chim câu thấp thoáng. Bên ngoài hàng rào của công viên, tiếng xe cộ lưu thông cuối tuần đã trở nên mơ hồ và hư ảo.
 
Vẫn với giọng nói đều đều quen thuộc, ngài tiếp tục tâm sự: "Lúc đó người ta nhốt mình vào khoang biệt giam gần bốn năm trời. Từng chút, từng chút một, sự sống cứ cạn dần khỏi cơ thể và tâm trí mình. Thời gian ngừng trôi và những khoảnh khắc biến thành vô tận. Mình tiếc nhớ cái âm thanh giọng nói của con người. Nhớ đến nỗi về đêm có những lúc nằm mơ thấy mình bị lăng nhục và chửi bới, bị chà đạp và trù dập, bị đòn roi và văng tục; thế mà, ôi thôi, sáng ra thức giấc lại cảm thấy hạnh phúc … hạnh phúc dài dài, và ước gì cái giấc mộng đó được trở lại đều đều.
 
Ngài ngừng lại và quay qua nói với tôi: "Ước gì Châu đừng bao giờ phải trải nghiệm để thấy cái sự cô độc nó thật sự như thế nào."
 
Biết bao lần ngài nói với tôi về những ngày tháng ngài phải sống với những tù nhân khác chung quanh ngài. Có một số những người bạn tù được phóng thích sớm và đã kể lại cho tôi những giai thoại của thời gian họ cùng sống với ngài. Tất cả họ đều nói với tôi rằng trong các bữa ăn, ngài luôn luôn chia sẻ phần lớn phần ăn của ngài cho kẻ khác và rằng ngài đã luôn luôn tự nguyện gánh vác hầu hết những việc nặng nhọc, những công việc hạ tiện, như chùi rửa nhà cầu, khiêng những thùng phân người đi rất xa. Họ kể cho tôi về chuyện ngài chịu đựng bất cứ những trận mắng chửi và hành hung nào bởi những người cai tù, với một sự bình thản và khiêm tốn.
 
Xem ra những ngày cùng sống với các tù nhân khác đối với ngài là những chuỗi ngày hạnh phúc so với những tháng dài không mặt mũi và không tiếng nói của loài người.

Ngài tiếp tục câu chuyện của ngài mà tôi không cần phải ghi chép vì biết rằng mình không thể nào quên được từng lời, từng lời một, những gì mà ngài nói ra.
 
"Châu chịu làm người viết tiểu sử của mình hí!" Ôi, tôi còn nhớ, và tôi ân hận không biết tại sao mình đã điên dại chấp nhận lời yêu cầu của ngài trong một đêm gió lộng trên bờ biển gần Rôma! Đâu đó ở Anzio? hoặc là Sperlonga, hay Fregene? Mặc dù tôi đã kịch liệt chống lại cái ân huệ đó; nhưng cuối cùng cũng phải đành chào thua sự khẩn khoản của ngài. Ngài từng là bạn của tôi và tôi sẽ không do dự một mảy may nào để trở thành người viết tiểu sử của ngài, nếu đó là những dòng tường thuật được giới hạn trong cuộc đời ngài, gia đình ngài, trong quỹ đạo từ lúc ngài còn là một Cha Xứ, đến Giám Mục, rồi Phó Tổng Giám Mục, và mười ba năm dài tù đày của ngài. Nhưng làm sao một người nào đó có thể viết lên tiểu sử của ngài mà không đào sâu vào linh đạo của ngài?
 
Tôi hoảng sợ đến chết người khi phải đụng chạm đến khía cạnh đó của cuộc đời ngài. Trên thực tế ta không thể xử lý tiểu sử của bản thân ngài mà bỏ qua được sư liên hệ của ngài với Thiên Chúa, vì rằng đối với ngài, linh đạo còn quan trọng hơn cả cuộc sống mình. Thế nhưng, làm thế nào để một người trần tục như tôi có thể chạm tay vào lĩnh vực đó của ngài? Ngài từng nói một cách quyết liệt rằng: "Nhà ngươi hoàn toàn có thể viết được linh đạo của ta vì nhà ngươi là Cha Giải Tội của ta". Vâng, ngài nói thế đó, nhưng tôi không thể nào là một Cha Giải Tội được, vì dù có mở to mắt đến đâu, tôi cũng chỉ thoáng nhìn được một tí chút trong tận cùng đáy sâu của tâm hồn ngài.
 
Ngài nói: "Mình biết, mình biết … Châu cũng đã từng chịu khổ. Nhưng mình bị nhốt trong một khoang xà-lim lớn vỏn vẹn chưa đầy một mét vuông, không cửa sổ, không đèn đuốc, không có giường, không bàn, không ghế. Trong xà-lim chỉ có một tấm chiếu cũ, một chiếc mền ẩm ướt mốc meo và môt cái gối bằng cây. Một cánh cửa lem luốc được mở hai lần một ngày hướng ra một hành lang để mình được sử dụng nhà vệ sinh ở cuối hành lang. Mình không thấy được ai là người mở và đóng cửa. Mỗi ngày một lần, thức ăn được đựng trong một chiếc đĩa bằng thiếc và được đẩy vào xà-lim; nó được chuồi vào xuyên qua thanh gỗ bên dưới cánh cửa. Một khi chiếc đĩa được lọt vào xà-lim là thanh gỗ được sập trở lại tại chỗ. Dĩ nhiên, cùng một thể thức ấy được tái diễn khi mình ăn xong: Một chiếc khay trống được chuồi vào, và lại được rút ra với chiếc đĩa trống của mình bên trên."
 
"Mình phát hiện được một kẻ hở bên dưới cánh cửa ngay ngày đầu tiên mình bị nhốt vào xà-lim: Người mình ướt đẫm mồ hôi ngay sau vài tiếng trong xà-lim hâm nóng, nhỏ hẹp, vào lúc giữa mùa hè, và mình cơ hồ không thở được. Thế rồi mình khám phá ra một tia nhỏ của một luồng sáng vàng vọt le lói bên dưới cánh cửa. Mình áp mạnh mặt xuống giữa khoảng sàn nhà sần sùi và vết nứt nẻ dưới cánh cửa, và như thế mình có thể thở được. Vết nứt bé nhỏ đó vẫn không đủ rộng cho phép mình được nhìn thấy những gì bên ngoài xà-lim. Mặc dù thế nó cũng giúp mình phân biệt được ngày và đêm: luồng sáng có màu vàng ban đêm vì nó đến từ một ngọn đền dầu hỏa, và nó lại sáng hơn một chút vào ban ngày khi mặt trời ló dạng. Nó cũng lôi cuốn được một số ít loài côn trùng nhỏ."
 
Tôi đã biết ngài đang lúc bụng đói, và biết rằng ngài đã phải làm gì với những vị khách bé nhỏ này, nhưng tôi dứt khoát không muốn ngài nói cho mình hay bao nhiêu chú dán và bao nhiêu chú dế mà ngài đã tiêu thụ tươi sống trong những ngày khốn khổ đó.
 
Tôi ngắt ngang ngài và nhắc ngài rằng: "Thế thì, thưa Đức Tổng, Cha nói là sự sống đã cạn dần khỏi cơ thể và tâm trí Cha; vậy con muốn nghe thêm cuối cùng tâm trí Cha sụp đổ như thế nào."
 
Ngài cau mày, có vẻ như khó chịu về sự thiếu nhẫn nại của tôi. Ngài giữ tư thế yên lặng một hồi lâu, rồi chọn lựa ngôn từ một cách thận trọng, ngài nói: "Chuyện xảy ra vào năm thứ ba của thời gian biệt giam. Đêm nọ, mình quỳ gối đọc kinh chiều như thường lệ. Bỗng nhiên, bầu trời sụp xuống và thế giới quay cuồng, quay cuồng và quay cuồng. Mình không còn nhớ được một câu kinh nào nữa."
 
Tôi hỏi: "Đức Tổng có mất trí nhớ liền một khi không?"
 
Ngài lắc đầu lia lịa: “Châu cũng biết mình có một trí nhớ tốt ngay hồi còn bé. Người ta bảo mình có một trí nhớ nhãn tiền (=trực quan: thấy lại sự việc như hiện tại trước mắt [ND]). Trong nhà tù tất cả chúng tôi đều biết mình cần nuôi dưỡng trí nhớ để sống còn vì mỗi ngày chúng tôi phải viết một bản tự khai. Chúng tôi phải nhớ từng chữ mà chúng tôi đã viết lần đầu tiên. Nếu bất cứ một tờ khai nào kế tiếp mà chúng tôi thay đổi một chữ, chỉ một chữ thôi, thế là họ nghi ngờ sự thành thật của chúng tôi và chất vấn chúng tôi cho đến lúc ngã gục. Không, chúng tôi đã tự luyện để nhớ. Trí nhớ là tấm ván cứu tinh vậy.
 
Thế nhưng đó là chuyện xảy ra từ lâu rồi, trước cái giai thoại mà mình kể ra đây. Không ai hỏi han gì, không ai chất vấn mình gì nữa trong suốt hai năm trường. Cảnh tăm tối xâm nhập vào tâm trí mình từng ly từng tý một. Nỗi cô đơn và sự ẩm ướt của xà-lim ngấm ngầm vào tâm hồn mình. Không bao lâu sự tăm tối trong người mình xóa nhòa những niềm vui mà mình đã nhận được trên đời, những nụ cười mà mình đã chiêm ngắm, những vẻ đẹp của thiên nhiên mà mình đã thưởng thức, và chỉ để lại trong người mình sự đay nghiến và bất mãn chính mình."
 
Thấy ngài rùng mình, tôi quẳng lên người ngài chiếc khăn quàng dài màu xám mà ngài đã cởi ra từ trước. Cạnh tiếng lao xao của xe cộ bên sau tường rào của công viên, tôi nghe rõ âm thanh của giòng nước hồ Leman chạy vào bờ, đang vỗ vào những mỏm đá đen ngòm.
 
Ngài thở dài: "Lúc đó thế giới nội tâm mình bị nhạt nhòa, giống như những gương mặt, những hoa lá cây cối trong một bức hình cũ. Mọi sự vật đều bị xóa mờ, càng lúc càng nhanh, cho đến lúc toàn bộ đều tan biến. Mình cố gắng chống chọi trở lại. Mình đã tập trung vào chi tiết của một vài ký ức và cười khúc khích cứ mỗi lúc mình thu lượm được một nắm thắng lợi nho nhỏ chống lại sự quên lãng.
 
Thế nhưng mình thấy rằng mình đang thua trận. Sự lãng quên ngày này qua ngày khác càng lớn dần trong trí mình, lãng vãng trên người mình. Thế rồi, đêm đó mình nhận ra sự thất bại đã toàn thành và rằng "họ" sẽ sớm phát giác ra là mình đã mất trí hẳn. Thế rồi ngay cái cảm giác ghê rợn đó cũng tan biến luôn."
 
Ngài chìm đắm trong sự im lặng. Người ta bảo tôi rằng sau một thời gian kéo dài trong cảnh biệt giam dù một người khép kín bao nhiêu cũng trở thành người già lời. Thế nhưng ở đây không phải là minh chứng cho phát biểu ấy. Ngài vẫn vốn là con người ít nói. Dù rằng ngài ở trong vai trò phải đọc cho tôi viết về đời ngài, ngài vẫn không phải là người đa ngôn. Có lúc ngài ngồi trầm ngâm hằng giờ, phung phí thời gian quý giá, như lúc tôi phải bay từ phía Nam lên Rome, hay ngài phải bay ngược từ Bắc xuống Geneva để chúng tôi có được cơ hội gặp gỡ dù chỉ là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.
 
Ngài rùng mình khi ném cái nhìn về phía tôi. Và tôi cảm giác được sự kinh hoàng đương quấn lấy và kéo lôi ngài từng bước từng bước xuống đáy của địa ngục.

Tôi nhắc khéo: "Cha đã thoát ra khỏi chỗ đó, vẫn còn sống, thưa Đức Tổng!"

Ngài nhắm mắt lại, xua đuổi sự sợ hãi của mình và nói: "Phải, mình đã sống sót, hãy để cho mình kể anh nghe thế nào và tại sao… Sự bất tỉnh quả là một ân phước! Không, mình nằm sóng soài trên chiếc chiếu và ý thức rõ ràng mình đang bị bao bọc bằng một bức tường thinh không, trong đó ngay tiếng đập của nhịp tim cũng biến mất. Mình nhận ra rằng mình đang ở trong địa ngục và địa ngục đó là sự vắng bóng của tất cả. Như đã nói, mình nằm dài trên chiếc chiếu không biết là bao lâu. Nhưng đột nhiên một thứ giọng ngọng nghịu phát ra từ cổ họng mình: "Eloi, Eloi, lema sabachtani!" Mình hổn hển: "Cái gì thế? Tôi đã làm gì? Tôi đã hóa điên thật sự rồi sao? Thế này là nghĩa thế nào?"
 
Từng tí từng tí một, mình nghe tiếng vi vu của đầu não mình đang hoạt đông trở lại. Vâng, mình hiểu ý nghĩa của tiếng gào: Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa, tại sao Chúa bỏ con? Đó là những lời Chúa Giêsu đã thốt ra trong cơn hấp hối, lúc Ngài đang chết dần trên thập tự. Máu, máu nóng đang trào vào não bộ của mình, tiếng lùng bùng bắt đầu đập hai bên màng tai. Đầu óc mình cơ hồ muốn nổ tung. Thế nhưng sự kinh hoàng thoát chốc biến mất, địa ngục biến mất, sự trống vắng tiêu tan. Mình nhớ lại mồn một Thánh Vịnh 22, nhớ mãi nó và nhớ nó mãi trở lại trong trí mình trong suốt những ngày lao lung mãi đến tận bây giờ. Không, đó không phải là tiếng kêu tuyệt vọng. Đó là một thánh vịnh tuyệt đẹp được kết thúc rằng: Con cháu hậu duệ sẽ phục vụ Ngài; thế hệ tương lai sẽ nói về Đức Chúa, và sẽ tuyên xưng ơn cứu độ của Ngài ngay cả đối với những người chưa được sinh ra, vì rằng Ngài cũng đã cứu chuộc họ!"
 
Giọng nói ngài lê thê và tôi nhìn ra phía khác. Rất nhiều cánh hải âu đang lượn vòng một cách vô vọng trên công viên vắng bóng những con cá dù nhỏ nhoi nhất và những mảnh bánh mì dù vụn vặt nhất.
 
Ngài hắng giọng và nói: "Mình còn chưa tin được là sự phục hồi trí nhớ của mình là sự thật. Mình cảm thấy ngoài Thánh Vịnh 22, một màn sương dày đặc vẫn còn bao phủ tất cả những kinh nguyện mà mình học được từ tấm bé. Nhưng rồi từ chính giữa màn sương bỗng phát ra tiếng "Eva". "Eva"! Mình ngạc nhiên không hiểu tại sao lại "Eva", thế rồi một ít mảng sương tan đi và mình nghe chính tiếng mình thốt ra "Ave". Toàn thân mình run rẩy và, vừa khóc vừa quỳ lên, mình đọc luôn một mạch ba kinh Kính Mừng. Với giòng lệ tuôn trào xuống trên hai gò má hốc hác, niềm vui trong người mình bừng lên và mình đứng bật dậy, say sưa với ý niệm của một chiến công, mình hát to lên chỉ một bài ca chiến thắng mà mình còn thuộc, bài Te Deum".

Chúng tôi nhìn nhau và cười một hồi. Vâng, hai chúng tôi đều nhớ lại trong ít lần chúng tôi đã từng hát kinh Te Deum thế nào và làm rung chuyển cả kính màu cửa sổ trong nhà nguyện của Chủng Viện.
 
Bây giờ thì gương mặt của ngài sáng hẳn lên như hồi còn trẻ. Ngài nói: "Mình hát cho đến khi người canh tù đến và bảo mình đừng hát lớn như vậy. Mình biết rằng họ nhận ra mình không bao giờ bị đánh bại và hủy diệt được. Ngày hôm sau họ tạm thời liệng mình vào một phòng lớn với khoảng năm chục tù nhân khác. Thế nhưng những ngày dài biệt giam của mình cũng chưa kết thúc. Bởi lẽ sau vài ngày họ lại dẫn mình đến một xà-lim hẹp khác. Nhưng lần này mình không còn khiếp sợ. Vài ngày sống với các nội tù khác đã hàn gắn lại tinh thần mình. Mình ghi nhớ tiếng nói họ, gương mặt họ, những ưu tư và tiếng cười của họ. Mình ghi chặt những nỗi niềm trân quý đó trong lòng. Những ký ức này sẽ ở lại với mình trong một thời gian khá lâu dài. Mình không còn sợ sệt vì rằng nếu có chăng một hình phạt biệt giam khác cũng không còn nghĩa lý gì đối với mình nữa.
 
Ngài quay qua hỏi như muốn thách đố tôi: "Phải chăng đó hẳn là một kỳ tích?"
 
Năm năm sau, khi cuốn tiểu sử ngài, Kỳ Tích của Hy Vọng, mà tôi viết và ấn hành xong, ngài qua đời do một loại ung thư, kết quả của đôi cuộc phẫu thuật bừa bãi trong thời gian mười ba năm tại tù. Ngài chết đi trong năm ngài được tấn phong Hồng Y. Trong lúc Giáo Hội gọi ngài là Tôi Tá Chúa và đang khởi hành một tiến trình phong chân phước lâu dài, hình ảnh của khoảnh khắc tuyệt vọng trong khoang xà-lim hẹp được ngài tiết lộ không còn gây đau đớn cho tôi. Một tia sáng, từ đâu đó lọt vào khoang cấm, tắm gội ngài bằng sự an bình và thắp sáng cho ngài niềm hoan hỷ, và ngài vẫn tiếp tục hát lên:
 
Te Deum laudámus: te Dominum confitémur.
Te ætérnum Patrem omnis terra venerátur.
 
(Ngài Thượng Đế phàm nhân ca tụng,
Ngài Đức Chúa thần chúng tuyên dương
Ngài là Thánh Phụ Thiên Đường,
Trái đất toàn cõi khôn lường phụng tôn.) [ND]
 
Và trong tâm trí tôi những khuông cửa sổ kính màu trong nhà nguyện của Chủng viện chúng tôi vẫn còn rung động.

------------------------------------------

(*) André Nguyễn Văn Châu
cựu chủng sinh Huế AN47, tiến sĩ Khoa học Nhân văn (Docteur en Sciences humaines) tại Đại học Sorbonne, nguyên giáo sư Đại học Sư Phạm Huế và Đại học Sư phạm Sàigòn trước năm 1975.
Tác giả bài viết: André Nguyễn Văn Châu
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 30 trong 6 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Avata
Nguyễn Cả - Đăng lúc: 09/03/2015 19:39
Nỗi lòng của ĐHY, văn chương phong phú của tác già và hồn thơ lai láng của người dịch như hòa quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh sống động, gây ấn tượng mạnh trong tôi - một trong cả trăm ngàn cựu tù nhân cũng đã ít nhiều trải nghiệm tù tội và còng chân, đã khao khát tột cùng một chút ánh nắng chiếu lên da thịt để còn sự sống và hy vọng ngày trở về.
Hồi tưởng giai đoạn kinh hoàng đã qua không phải để hận thù, nhưng tạ ơn Chúa. Như tâm tình của ĐHY: "Phải chăng đó hẳn là một kỳ tích?" Hỏi là trả lời rồi.
Như lời Kinh Te Deum được niên trưởng Hoàng Xuân Tịnh chuyển thành thơ thật tuyệt vời:
Ngài Thượng Đế phàm nhân ca tụng
Ngài Đức Chúa thần chúng tuyên dương
Ngài là Thánh Phụ thiên đường
Trái đất toàn cõi khôn lường phụng tôn
Giá trị của bản dịch là độc giả không biết rằng đó là bản dịch. Có lẽ hiếm người dịch xuất sắc hơn.
Tạ ơn Chúa. Cám ơn tác giả và người dịch. Xin nhớ đến TTC ĐHY và cầu nguyện với Ngài, cho Ngài.

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 09/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/9/2017 

- Let us work together to find concrete solutions to help the poor, refugees, victims of modern forms of slavery, in order to promote peace.
Chúng ta hãy cùng nhau làm việc nhằm tìm kiếm giải pháp cụ thể để giúp đỡ người nghèo, người tị nạn, các nạn nhân nô lệ kiểu mới và thúc đẩy hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/9/2017 

- Let us find the courage to purify our hearts by removing the rocks and thorns which choke the Word of God.
Chúng ta hãy can đảm thanh tẩy con tim, gỡ bỏ những tảng đá và gai nhọn bóp nghẹt Lời Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/9/2017 

- Global action is needed in order to reduce pollution and at the same time promote development in poorer countries.
Cần hành động trên bình diện toàn cầu nhằm giải quyết cùng lúc giảm thiểu nạn ô nhiễm và sự phát triển của các nước nghèo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/9/2017 

- I encourage world leaders to set aside partisan and ideological interests and seek together the common good of all humanity.
Tôi khuyến khích các nhà lãnh đạo trên thế giới gạt lợi ích đảng phái và ý thức hệ sang một bên và cùng nhau tìm kiếm lợi ích chung của toàn thể nhân loại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/9/2017 

- Dear Colombian brothers and sisters, thank you! I have met so many people who have touched my heart. You have done me a world of good!
Xin cám ơn anh chị em Colombia! Tôi đã gặp rất nhiều người làm tôi xúc động. Anh chị em đã mang lại cho tôi điều tuyệt vời!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/9/2017 

- To “take the first step” is, above all, to go out and meet others with Christ the Lord.
“Đi bước trước”, trước hết là ra đi gặp gỡ tha nhân cùng với Đức Kitô, Chúa chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/9/2017 

- Charity helps us to know the truth and truth calls for acts of kindness.
Đức ái giúp chúng ta hiểu biết chân lý, và chân lý đòi hỏi thực thi điều thiện.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/9/2017 

- Our contagious joy must be our first testimony to the closeness and love of God.
Niềm vui lây lan của chúng ta phải là chứng tá cho sự gần gũi và tình yêu thương của Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/9/2017 

- Today there are many who hunger for God, who hunger for dignity. As Christians, we must help them to be satiated by God.
Ngày nay, nhiều người khao khát Chúa, khao khát phẩm giá con người. Là người Kitô hữu, chúng ta phải giúp họ được thỏa mãn trong Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/9/2017 

- Truth is an inseparable companion of justice and mercy.
Sự thật là người đồng hành không thể tách rời của công lý và lòng thương xót.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/9/2017 

- Reconciliation is consolidated by the contribution of all. It enables us to build the future and makes hope grow.
Hòa giải được củng cố bằng sự đóng góp của tất cả mọi người. Nó cho chúng ta xây dựng tương lai và làm triển nở niềm hy vọng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/9/2017 

- Dear young people, do not be afraid of the future! Dare to dream big! Keep joy alive, a sign of a young heart that has encountered the Lord.
Hỡi các bạn trẻ, đừng sợ tương lai! Hãy nuôi mộng lớn! Hãy giữ niềm vui sống động, dấu chỉ một con tim trẻ trung đã gặp được Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/9/2017 

- I encourage you to entrust yourselves to the Lord, who is the only one who helps and inspires us to contribute to reconciliation and peace.
Tôi cổ vũ các bạn hãy phó mình cho Chúa, Đấng duy nhất có thể nâng đỡ chúng ta và truyền cảm hứng để chúng ta đóng góp cho hòa giải và hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/9/2017 

- Dear Friends, please pray for me and all of Colombia, where I will be travelling for a journey dedicated to reconciliation and peace.
Các bạn thân mến, xin hãy cầu nguyện cho tôi và toàn dân Colombia, nơi tôi sẽ thăm viếng vì mục tiêu hòa giải và hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/9/2017 

- Like Mother Teresa, may we open up opportunities of joy and hope for the many who are discouraged and need understanding and tenderness.
Noi gương Mẹ Têrêxa, chúng ta hãy mở ra những cơ hội của niềm vui mừng và hy vọng cho nhiều người đang thất vọng và đang cần sự thấu hiểu và tình thương mến.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/9/2017 

- Jesus is present in so many of our brothers and sisters who suffer today like He did.
Chúa Giêsu đang hiện diện trong những anh chị em chúng ta hôm nay đang phải chịu khổ nạn như Ngài đã trải qua.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/9/2017 

- It is much more important to realize how much God loves us, than how much we ourselves love Him.
Điều rất quan trọng là hiểu được Chúa yêu chúng ta dường nào hơn là chúng ta yêu Chúa bao nhiêu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/9/2017 

- Jesus is always there with an open heart. He throws open the mercy that he has in his heart. He forgives, embraces, and understands.
Chúa Giêsu luôn ở đó với con tim rộng mở. Ngài tuôn ra lòng thương xót mà Ngài có trong tim mình. Ngài thứ tha, ôm ấp và thấu hiểu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/9/2017 

- Lord, teach us to contemplate you in the beauty of creation and reawaken our gratitude and sense of responsibility.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết chiêm ngắm Ngài trong vẻ đẹp của tạo vật, và đánh thức lại lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 31/8/2017 

- If you pay attention to the heart, you will find you are close to the Lord and to others.
Nếu bạn lắng nghe tiếng con tim, bạn sẽ thấy bạn đang gần gũi Chúa và tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/8/2017 

- The Gospel invites us to answer first and foremost to God who loves us and saves us, recognising Him in our neighbour.
Tin mừng mời gọi chúng ta tiên vàn đáp lại tiếng Chúa, Đấng yêu thương và cứu chuộc chúng ta, bằng cách nhận ra Ngài nơi người lân cận.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/8/2017 

- “You made us unto Yourself, and our heart is restless until it rests in you”. (St Augustine’s “Confessions”)
“Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa” (Thánh Augustinô, “Tự Thú”).

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/8/2017 

- Today how many mothers shed tears, like St Monica, so that their children will return to Christ! Do not lose hope in God’s grace!
Ngày nay biết bao bà mẹ đã khóc như thánh Monica để con cái mình quay về với Đức Kitô. Đừng đánh mất niềm hy vọng nơi ân sủng Chúa!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/8/2017 

- May the Virgin Mary obtain for us the grace to be enlivened by the Holy Spirit, so we can witness to Christ with evangelical honesty.
Xin Đức Trinh nữ Maria ban cho chúng ta ơn Chúa Thánh Thần tác động mạnh mẽ để làm chứng cho Đức Kitô bằng sự công chính của Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/8/2017 

- Being men and women of the Church means being men and women of commUNI0N.
Là người của Giáo Hội có nghĩa là người của sự hiệp thông.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ





HIỆP THÔNG THÁNG 09/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 126
  • Hôm nay: 13566
  • Tháng hiện tại: 334521
  • Tổng lượt truy cập: 19184181