Banner giua trang

Hành Trình Vào Cõi U Minh Và Xán Lạn

Đăng lúc: Thứ hai - 09/03/2015 15:21 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Một tia sáng, từ đâu đó lọt vào khoang cấm, tắm gội ngài bằng sự an bình và thắp sáng cho ngài niềm hoan hỷ, và ngài vẫn tiếp tục hát lên: Te Deum laudámus: te Dominum confitémur. Te ætérnum Patrem omnis terra venerátur.
HÀNH TRÌNH VÀO CÕI U MINH VÀ XÁN LẠN

 
Nguyên tác tiếng Anh:
JOURNEYS INTO DARKNESS AND LIGHT. By Andre Nguyen Van Chau (*)
 
Người dịch: Micae Hoàng Xuân Tịnh AN41
 
1. Biệt Giam
 
Tôi đã từng phỏng vấn vị Tổng Giám Mục cả trăm lần. Tôi đã từng trải qua nhiều ngày sống trong phòng khách nhỏ hẹp của căn hộ bề bộn của ngài, tại chung cư Palazzo San Callisto (một trong những tài sản ngoại thành của Tòa Thánh) ở Rôma. Chúng tôi đã bàn đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất của cuộc đời ngài, thế nhưng có những vùng xám chúng tôi đành phải bỏ lại cho hồi sau, mặc dù chúng có thể rất thiết yếu trong cuộc sống ngài. Những vùng xám đó ví như những khoảng trống trên một bức tranh sơn dầu phần lớn đã hoàn thành. Lần ngài đến thăm Geneva nơi tôi từng cư ngụ và sinh hoạt đã được xem như để lấp vào một trong những khoảng trống đó.
 
Đã ba ngày qua những cụm hoa tử đinh hương đầu tiên đang nở rộ. Lúc này bầu không khí của toàn công viên Parc de la Grange đang tràn ngập mùi hương ngào ngạt của cả ngàn chòm cây phơn phớt màu xanh nhạt. Khách nhàn du vẫn còn cảm thấy ngần ngại nếu chỉ mặc chiếc sơ mi mà nhoài người xuống trên thảm cỏ, vì rằng mùa đông chưa lùi bước hẳn tại Geneva; dù vậy ánh mặt trời non nớt cơ hồ đã làm được việc xua tan làn khí còn sót lại của cơn gió lạnh.
 
Chúng tôi vẫn với chiếc sơ mi và cứ thế mà nằm trên cỏ. Vốn thích điều bình dị, nên việc soải người trên thảm cỏ thế này có vẻ là điều thú vị đối với người bạn của tôi, Đức Tổng Giám mục. Ngài cực kỳ hứng thú được thoát ra ngoài, sống giữa không trung, trong công viên, với những người khách lạ, trẻ có già có, đang tản bộ đó đây chung quanh chúng tôi.
 
Chúng tôi nhìn lên bầu trời không gợn một áng mây. Ở một khoảng cách, từ đàng xa của công viên đang vẳng lại tiếng rì rầm của những chú chim câu thấp thoáng. Bên ngoài hàng rào của công viên, tiếng xe cộ lưu thông cuối tuần đã trở nên mơ hồ và hư ảo.
 
Vẫn với giọng nói đều đều quen thuộc, ngài tiếp tục tâm sự: "Lúc đó người ta nhốt mình vào khoang biệt giam gần bốn năm trời. Từng chút, từng chút một, sự sống cứ cạn dần khỏi cơ thể và tâm trí mình. Thời gian ngừng trôi và những khoảnh khắc biến thành vô tận. Mình tiếc nhớ cái âm thanh giọng nói của con người. Nhớ đến nỗi về đêm có những lúc nằm mơ thấy mình bị lăng nhục và chửi bới, bị chà đạp và trù dập, bị đòn roi và văng tục; thế mà, ôi thôi, sáng ra thức giấc lại cảm thấy hạnh phúc … hạnh phúc dài dài, và ước gì cái giấc mộng đó được trở lại đều đều.
 
Ngài ngừng lại và quay qua nói với tôi: "Ước gì Châu đừng bao giờ phải trải nghiệm để thấy cái sự cô độc nó thật sự như thế nào."
 
Biết bao lần ngài nói với tôi về những ngày tháng ngài phải sống với những tù nhân khác chung quanh ngài. Có một số những người bạn tù được phóng thích sớm và đã kể lại cho tôi những giai thoại của thời gian họ cùng sống với ngài. Tất cả họ đều nói với tôi rằng trong các bữa ăn, ngài luôn luôn chia sẻ phần lớn phần ăn của ngài cho kẻ khác và rằng ngài đã luôn luôn tự nguyện gánh vác hầu hết những việc nặng nhọc, những công việc hạ tiện, như chùi rửa nhà cầu, khiêng những thùng phân người đi rất xa. Họ kể cho tôi về chuyện ngài chịu đựng bất cứ những trận mắng chửi và hành hung nào bởi những người cai tù, với một sự bình thản và khiêm tốn.
 
Xem ra những ngày cùng sống với các tù nhân khác đối với ngài là những chuỗi ngày hạnh phúc so với những tháng dài không mặt mũi và không tiếng nói của loài người.

Ngài tiếp tục câu chuyện của ngài mà tôi không cần phải ghi chép vì biết rằng mình không thể nào quên được từng lời, từng lời một, những gì mà ngài nói ra.
 
"Châu chịu làm người viết tiểu sử của mình hí!" Ôi, tôi còn nhớ, và tôi ân hận không biết tại sao mình đã điên dại chấp nhận lời yêu cầu của ngài trong một đêm gió lộng trên bờ biển gần Rôma! Đâu đó ở Anzio? hoặc là Sperlonga, hay Fregene? Mặc dù tôi đã kịch liệt chống lại cái ân huệ đó; nhưng cuối cùng cũng phải đành chào thua sự khẩn khoản của ngài. Ngài từng là bạn của tôi và tôi sẽ không do dự một mảy may nào để trở thành người viết tiểu sử của ngài, nếu đó là những dòng tường thuật được giới hạn trong cuộc đời ngài, gia đình ngài, trong quỹ đạo từ lúc ngài còn là một Cha Xứ, đến Giám Mục, rồi Phó Tổng Giám Mục, và mười ba năm dài tù đày của ngài. Nhưng làm sao một người nào đó có thể viết lên tiểu sử của ngài mà không đào sâu vào linh đạo của ngài?
 
Tôi hoảng sợ đến chết người khi phải đụng chạm đến khía cạnh đó của cuộc đời ngài. Trên thực tế ta không thể xử lý tiểu sử của bản thân ngài mà bỏ qua được sư liên hệ của ngài với Thiên Chúa, vì rằng đối với ngài, linh đạo còn quan trọng hơn cả cuộc sống mình. Thế nhưng, làm thế nào để một người trần tục như tôi có thể chạm tay vào lĩnh vực đó của ngài? Ngài từng nói một cách quyết liệt rằng: "Nhà ngươi hoàn toàn có thể viết được linh đạo của ta vì nhà ngươi là Cha Giải Tội của ta". Vâng, ngài nói thế đó, nhưng tôi không thể nào là một Cha Giải Tội được, vì dù có mở to mắt đến đâu, tôi cũng chỉ thoáng nhìn được một tí chút trong tận cùng đáy sâu của tâm hồn ngài.
 
Ngài nói: "Mình biết, mình biết … Châu cũng đã từng chịu khổ. Nhưng mình bị nhốt trong một khoang xà-lim lớn vỏn vẹn chưa đầy một mét vuông, không cửa sổ, không đèn đuốc, không có giường, không bàn, không ghế. Trong xà-lim chỉ có một tấm chiếu cũ, một chiếc mền ẩm ướt mốc meo và môt cái gối bằng cây. Một cánh cửa lem luốc được mở hai lần một ngày hướng ra một hành lang để mình được sử dụng nhà vệ sinh ở cuối hành lang. Mình không thấy được ai là người mở và đóng cửa. Mỗi ngày một lần, thức ăn được đựng trong một chiếc đĩa bằng thiếc và được đẩy vào xà-lim; nó được chuồi vào xuyên qua thanh gỗ bên dưới cánh cửa. Một khi chiếc đĩa được lọt vào xà-lim là thanh gỗ được sập trở lại tại chỗ. Dĩ nhiên, cùng một thể thức ấy được tái diễn khi mình ăn xong: Một chiếc khay trống được chuồi vào, và lại được rút ra với chiếc đĩa trống của mình bên trên."
 
"Mình phát hiện được một kẻ hở bên dưới cánh cửa ngay ngày đầu tiên mình bị nhốt vào xà-lim: Người mình ướt đẫm mồ hôi ngay sau vài tiếng trong xà-lim hâm nóng, nhỏ hẹp, vào lúc giữa mùa hè, và mình cơ hồ không thở được. Thế rồi mình khám phá ra một tia nhỏ của một luồng sáng vàng vọt le lói bên dưới cánh cửa. Mình áp mạnh mặt xuống giữa khoảng sàn nhà sần sùi và vết nứt nẻ dưới cánh cửa, và như thế mình có thể thở được. Vết nứt bé nhỏ đó vẫn không đủ rộng cho phép mình được nhìn thấy những gì bên ngoài xà-lim. Mặc dù thế nó cũng giúp mình phân biệt được ngày và đêm: luồng sáng có màu vàng ban đêm vì nó đến từ một ngọn đền dầu hỏa, và nó lại sáng hơn một chút vào ban ngày khi mặt trời ló dạng. Nó cũng lôi cuốn được một số ít loài côn trùng nhỏ."
 
Tôi đã biết ngài đang lúc bụng đói, và biết rằng ngài đã phải làm gì với những vị khách bé nhỏ này, nhưng tôi dứt khoát không muốn ngài nói cho mình hay bao nhiêu chú dán và bao nhiêu chú dế mà ngài đã tiêu thụ tươi sống trong những ngày khốn khổ đó.
 
Tôi ngắt ngang ngài và nhắc ngài rằng: "Thế thì, thưa Đức Tổng, Cha nói là sự sống đã cạn dần khỏi cơ thể và tâm trí Cha; vậy con muốn nghe thêm cuối cùng tâm trí Cha sụp đổ như thế nào."
 
Ngài cau mày, có vẻ như khó chịu về sự thiếu nhẫn nại của tôi. Ngài giữ tư thế yên lặng một hồi lâu, rồi chọn lựa ngôn từ một cách thận trọng, ngài nói: "Chuyện xảy ra vào năm thứ ba của thời gian biệt giam. Đêm nọ, mình quỳ gối đọc kinh chiều như thường lệ. Bỗng nhiên, bầu trời sụp xuống và thế giới quay cuồng, quay cuồng và quay cuồng. Mình không còn nhớ được một câu kinh nào nữa."
 
Tôi hỏi: "Đức Tổng có mất trí nhớ liền một khi không?"
 
Ngài lắc đầu lia lịa: “Châu cũng biết mình có một trí nhớ tốt ngay hồi còn bé. Người ta bảo mình có một trí nhớ nhãn tiền (=trực quan: thấy lại sự việc như hiện tại trước mắt [ND]). Trong nhà tù tất cả chúng tôi đều biết mình cần nuôi dưỡng trí nhớ để sống còn vì mỗi ngày chúng tôi phải viết một bản tự khai. Chúng tôi phải nhớ từng chữ mà chúng tôi đã viết lần đầu tiên. Nếu bất cứ một tờ khai nào kế tiếp mà chúng tôi thay đổi một chữ, chỉ một chữ thôi, thế là họ nghi ngờ sự thành thật của chúng tôi và chất vấn chúng tôi cho đến lúc ngã gục. Không, chúng tôi đã tự luyện để nhớ. Trí nhớ là tấm ván cứu tinh vậy.
 
Thế nhưng đó là chuyện xảy ra từ lâu rồi, trước cái giai thoại mà mình kể ra đây. Không ai hỏi han gì, không ai chất vấn mình gì nữa trong suốt hai năm trường. Cảnh tăm tối xâm nhập vào tâm trí mình từng ly từng tý một. Nỗi cô đơn và sự ẩm ướt của xà-lim ngấm ngầm vào tâm hồn mình. Không bao lâu sự tăm tối trong người mình xóa nhòa những niềm vui mà mình đã nhận được trên đời, những nụ cười mà mình đã chiêm ngắm, những vẻ đẹp của thiên nhiên mà mình đã thưởng thức, và chỉ để lại trong người mình sự đay nghiến và bất mãn chính mình."
 
Thấy ngài rùng mình, tôi quẳng lên người ngài chiếc khăn quàng dài màu xám mà ngài đã cởi ra từ trước. Cạnh tiếng lao xao của xe cộ bên sau tường rào của công viên, tôi nghe rõ âm thanh của giòng nước hồ Leman chạy vào bờ, đang vỗ vào những mỏm đá đen ngòm.
 
Ngài thở dài: "Lúc đó thế giới nội tâm mình bị nhạt nhòa, giống như những gương mặt, những hoa lá cây cối trong một bức hình cũ. Mọi sự vật đều bị xóa mờ, càng lúc càng nhanh, cho đến lúc toàn bộ đều tan biến. Mình cố gắng chống chọi trở lại. Mình đã tập trung vào chi tiết của một vài ký ức và cười khúc khích cứ mỗi lúc mình thu lượm được một nắm thắng lợi nho nhỏ chống lại sự quên lãng.
 
Thế nhưng mình thấy rằng mình đang thua trận. Sự lãng quên ngày này qua ngày khác càng lớn dần trong trí mình, lãng vãng trên người mình. Thế rồi, đêm đó mình nhận ra sự thất bại đã toàn thành và rằng "họ" sẽ sớm phát giác ra là mình đã mất trí hẳn. Thế rồi ngay cái cảm giác ghê rợn đó cũng tan biến luôn."
 
Ngài chìm đắm trong sự im lặng. Người ta bảo tôi rằng sau một thời gian kéo dài trong cảnh biệt giam dù một người khép kín bao nhiêu cũng trở thành người già lời. Thế nhưng ở đây không phải là minh chứng cho phát biểu ấy. Ngài vẫn vốn là con người ít nói. Dù rằng ngài ở trong vai trò phải đọc cho tôi viết về đời ngài, ngài vẫn không phải là người đa ngôn. Có lúc ngài ngồi trầm ngâm hằng giờ, phung phí thời gian quý giá, như lúc tôi phải bay từ phía Nam lên Rome, hay ngài phải bay ngược từ Bắc xuống Geneva để chúng tôi có được cơ hội gặp gỡ dù chỉ là trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.
 
Ngài rùng mình khi ném cái nhìn về phía tôi. Và tôi cảm giác được sự kinh hoàng đương quấn lấy và kéo lôi ngài từng bước từng bước xuống đáy của địa ngục.

Tôi nhắc khéo: "Cha đã thoát ra khỏi chỗ đó, vẫn còn sống, thưa Đức Tổng!"

Ngài nhắm mắt lại, xua đuổi sự sợ hãi của mình và nói: "Phải, mình đã sống sót, hãy để cho mình kể anh nghe thế nào và tại sao… Sự bất tỉnh quả là một ân phước! Không, mình nằm sóng soài trên chiếc chiếu và ý thức rõ ràng mình đang bị bao bọc bằng một bức tường thinh không, trong đó ngay tiếng đập của nhịp tim cũng biến mất. Mình nhận ra rằng mình đang ở trong địa ngục và địa ngục đó là sự vắng bóng của tất cả. Như đã nói, mình nằm dài trên chiếc chiếu không biết là bao lâu. Nhưng đột nhiên một thứ giọng ngọng nghịu phát ra từ cổ họng mình: "Eloi, Eloi, lema sabachtani!" Mình hổn hển: "Cái gì thế? Tôi đã làm gì? Tôi đã hóa điên thật sự rồi sao? Thế này là nghĩa thế nào?"
 
Từng tí từng tí một, mình nghe tiếng vi vu của đầu não mình đang hoạt đông trở lại. Vâng, mình hiểu ý nghĩa của tiếng gào: Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa, tại sao Chúa bỏ con? Đó là những lời Chúa Giêsu đã thốt ra trong cơn hấp hối, lúc Ngài đang chết dần trên thập tự. Máu, máu nóng đang trào vào não bộ của mình, tiếng lùng bùng bắt đầu đập hai bên màng tai. Đầu óc mình cơ hồ muốn nổ tung. Thế nhưng sự kinh hoàng thoát chốc biến mất, địa ngục biến mất, sự trống vắng tiêu tan. Mình nhớ lại mồn một Thánh Vịnh 22, nhớ mãi nó và nhớ nó mãi trở lại trong trí mình trong suốt những ngày lao lung mãi đến tận bây giờ. Không, đó không phải là tiếng kêu tuyệt vọng. Đó là một thánh vịnh tuyệt đẹp được kết thúc rằng: Con cháu hậu duệ sẽ phục vụ Ngài; thế hệ tương lai sẽ nói về Đức Chúa, và sẽ tuyên xưng ơn cứu độ của Ngài ngay cả đối với những người chưa được sinh ra, vì rằng Ngài cũng đã cứu chuộc họ!"
 
Giọng nói ngài lê thê và tôi nhìn ra phía khác. Rất nhiều cánh hải âu đang lượn vòng một cách vô vọng trên công viên vắng bóng những con cá dù nhỏ nhoi nhất và những mảnh bánh mì dù vụn vặt nhất.
 
Ngài hắng giọng và nói: "Mình còn chưa tin được là sự phục hồi trí nhớ của mình là sự thật. Mình cảm thấy ngoài Thánh Vịnh 22, một màn sương dày đặc vẫn còn bao phủ tất cả những kinh nguyện mà mình học được từ tấm bé. Nhưng rồi từ chính giữa màn sương bỗng phát ra tiếng "Eva". "Eva"! Mình ngạc nhiên không hiểu tại sao lại "Eva", thế rồi một ít mảng sương tan đi và mình nghe chính tiếng mình thốt ra "Ave". Toàn thân mình run rẩy và, vừa khóc vừa quỳ lên, mình đọc luôn một mạch ba kinh Kính Mừng. Với giòng lệ tuôn trào xuống trên hai gò má hốc hác, niềm vui trong người mình bừng lên và mình đứng bật dậy, say sưa với ý niệm của một chiến công, mình hát to lên chỉ một bài ca chiến thắng mà mình còn thuộc, bài Te Deum".

Chúng tôi nhìn nhau và cười một hồi. Vâng, hai chúng tôi đều nhớ lại trong ít lần chúng tôi đã từng hát kinh Te Deum thế nào và làm rung chuyển cả kính màu cửa sổ trong nhà nguyện của Chủng Viện.
 
Bây giờ thì gương mặt của ngài sáng hẳn lên như hồi còn trẻ. Ngài nói: "Mình hát cho đến khi người canh tù đến và bảo mình đừng hát lớn như vậy. Mình biết rằng họ nhận ra mình không bao giờ bị đánh bại và hủy diệt được. Ngày hôm sau họ tạm thời liệng mình vào một phòng lớn với khoảng năm chục tù nhân khác. Thế nhưng những ngày dài biệt giam của mình cũng chưa kết thúc. Bởi lẽ sau vài ngày họ lại dẫn mình đến một xà-lim hẹp khác. Nhưng lần này mình không còn khiếp sợ. Vài ngày sống với các nội tù khác đã hàn gắn lại tinh thần mình. Mình ghi nhớ tiếng nói họ, gương mặt họ, những ưu tư và tiếng cười của họ. Mình ghi chặt những nỗi niềm trân quý đó trong lòng. Những ký ức này sẽ ở lại với mình trong một thời gian khá lâu dài. Mình không còn sợ sệt vì rằng nếu có chăng một hình phạt biệt giam khác cũng không còn nghĩa lý gì đối với mình nữa.
 
Ngài quay qua hỏi như muốn thách đố tôi: "Phải chăng đó hẳn là một kỳ tích?"
 
Năm năm sau, khi cuốn tiểu sử ngài, Kỳ Tích của Hy Vọng, mà tôi viết và ấn hành xong, ngài qua đời do một loại ung thư, kết quả của đôi cuộc phẫu thuật bừa bãi trong thời gian mười ba năm tại tù. Ngài chết đi trong năm ngài được tấn phong Hồng Y. Trong lúc Giáo Hội gọi ngài là Tôi Tá Chúa và đang khởi hành một tiến trình phong chân phước lâu dài, hình ảnh của khoảnh khắc tuyệt vọng trong khoang xà-lim hẹp được ngài tiết lộ không còn gây đau đớn cho tôi. Một tia sáng, từ đâu đó lọt vào khoang cấm, tắm gội ngài bằng sự an bình và thắp sáng cho ngài niềm hoan hỷ, và ngài vẫn tiếp tục hát lên:
 
Te Deum laudámus: te Dominum confitémur.
Te ætérnum Patrem omnis terra venerátur.
 
(Ngài Thượng Đế phàm nhân ca tụng,
Ngài Đức Chúa thần chúng tuyên dương
Ngài là Thánh Phụ Thiên Đường,
Trái đất toàn cõi khôn lường phụng tôn.) [ND]
 
Và trong tâm trí tôi những khuông cửa sổ kính màu trong nhà nguyện của Chủng viện chúng tôi vẫn còn rung động.

------------------------------------------

(*) André Nguyễn Văn Châu
cựu chủng sinh Huế AN47, tiến sĩ Khoa học Nhân văn (Docteur en Sciences humaines) tại Đại học Sorbonne, nguyên giáo sư Đại học Sư Phạm Huế và Đại học Sư phạm Sàigòn trước năm 1975.
Tác giả bài viết: André Nguyễn Văn Châu
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 30 trong 6 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Avata
Nguyễn Cả - Đăng lúc: 09/03/2015 19:39
Nỗi lòng của ĐHY, văn chương phong phú của tác già và hồn thơ lai láng của người dịch như hòa quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh sống động, gây ấn tượng mạnh trong tôi - một trong cả trăm ngàn cựu tù nhân cũng đã ít nhiều trải nghiệm tù tội và còng chân, đã khao khát tột cùng một chút ánh nắng chiếu lên da thịt để còn sự sống và hy vọng ngày trở về.
Hồi tưởng giai đoạn kinh hoàng đã qua không phải để hận thù, nhưng tạ ơn Chúa. Như tâm tình của ĐHY: "Phải chăng đó hẳn là một kỳ tích?" Hỏi là trả lời rồi.
Như lời Kinh Te Deum được niên trưởng Hoàng Xuân Tịnh chuyển thành thơ thật tuyệt vời:
Ngài Thượng Đế phàm nhân ca tụng
Ngài Đức Chúa thần chúng tuyên dương
Ngài là Thánh Phụ thiên đường
Trái đất toàn cõi khôn lường phụng tôn
Giá trị của bản dịch là độc giả không biết rằng đó là bản dịch. Có lẽ hiếm người dịch xuất sắc hơn.
Tạ ơn Chúa. Cám ơn tác giả và người dịch. Xin nhớ đến TTC ĐHY và cầu nguyện với Ngài, cho Ngài.

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 11/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/11/2017 

- May Mary’s pure and simple smile be a source of joy for each one of us as we face life’s difficulties.
Mong sao nụ cười thuần khiết và đơn giản của Mẹ Maria trở thành nguồn vui cho mỗi người chúng ta khi đối diện với những khó khăn của cuộc sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/11/2017 

- Let us work together to ensure that children continue to smile: their faces serene, filled with joy and hope. #WorldChildrensDay
Chúng ta hãy cùng nhau hành động để trẻ em luôn cười: khuôn mặt hồn nhiên của chúng ngập tràn niềm vui và hy vọng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/11/2017 

- On this day, I invite the entire Church to keep its gaze fixed on those who hold out their hands asking for our solidarity.
Ngày hôm nay tôi mời gọi toàn thể Giáo hội hướng về những người đang chìa tay ra để kêu gọi tình liên đới giữa chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/11/2017 

- Without the support of the prayers of the faithful, the Successor of Peter cannot fulfill his mission in the world. I am counting on you too!
Nếu không có sự hỗ trợ bằng lời cầu nguyện của các tín hữu, người kế vị thánh Phêrô không thể hoàn thành sứ vụ trong thế giới. Tôi cũng tin tưởng vào các bạn!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/11/2017 

- We need to encounter the poor and learn how to share so that it becomes a way of life.
Chúng ta cần phải gặp gỡ những người nghèo khổ và học chia sẻ sao cho điều đó trở thành lối sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/11/2017 

- Poverty is not an accident. It has causes that must be recognized and removed for the good of so many of our brothers and sisters.
Nghèo đói không phải là một kiếp nạn. Cần phải nhận ra những nguyên nhân và loại bỏ chúng vì lợi ích của nhiều anh chị em chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/11/2017 

- Faith is a great life companion, allowing us to feel the presence of a Father who never leaves His creatures alone.
Đức tin là người bạn đồng hành tuyệt vời của cuộc sống: nó cho chúng ta cảm nhận sự hiện diện của một người Cha không bao giờ để tạo vật của Ngài đơn độc.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/11/2017 

- Nothing and nobody can block the light that Christ puts in our hearts and on the face of His friends.
Không có gì và không ai có thể che lấp ánh sáng mà Đức Kitô chiếu rọi trong con tim và trên khuôn mặt bạn hữu của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/11/2017 

- A Christian can never be a pessimist!
Một Kitô hữu không bao giờ có thể là người bi quan!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/11/2017 

- We cannot change the world alone, but together we can spread the joy of the Gospel by staying close to those most in need.
Chúng ta không thể thay đổi thế giới cách đơn độc, nhưng cùng với nhau chúng ta có thể gieo mầm niềm vui Tin Mừng bằng cách gần gũi những người bé mọn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/11/2017 

- Let us remember in our prayers all those who, with dedication and spirit of sacrifice, care for those who are ill.
Chúng ta hãy nhớ cầu nguyện cho những người chăm sóc các bệnh nhân với lòng tận tụy và hy sinh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/11/2017 

- Science expresses its full dignity when it serves the integral development of the person and the human family.
Khoa học bộc lộ đầy đủ phẩm giá của nó khi phục vụ cho sự phát triển toàn vẹn con người và gia đình nhân loại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/11/2017 

- May a culture of encounter always be promoted that is able to bring down the walls which still divide the world.
Mong sao nền văn hóa gặp gỡ luôn được lan rộng nhằm phá đổ những bức tường còn đang cách ngăn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/11/2017 

- Only faith can transform the end of our earthly life into the beginning of eternal life.
Chỉ đức tin mới có thể biến đổi hồi kết của cuộc sống trần thế thành sự khơi mào cuộc sống vĩnh cửu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/11/2017 

- War always causes serious damage to the environment. We must not mistreat our common home, but take care of it for future generations.
Chiến tranh luôn gây ra những thiệt hại sinh thái nặng nề. Chúng ta đừng tàn phá ngôi nhà chung của mình, nhưng giữ gìn cho thế hệ mai sau.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/11/2017 

- Christ was victorious over death. He is our resurrection and our life. Be witnesses to this message of hope.
Đức Kitô đã chiến thắng sự chết. Ngài là sự phục sinh và là sự sống của chúng ta. Hãy làm chứng cho sứ điệp hy vọng này.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/11/2017 

- The Church needs faithful people who proclaim the Gospel with enthusiasm and wisdom, instilling hope and faith.
Giáo Hội cần những con người loan báo Tin Mừng cách nhiệt tình và khôn ngoan, những người thấm nhuần niềm hy vọng và đức tin.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/11/2017 

- We are all small and defenceless before the mystery of death, but what a grace if at that moment we keep in our heart the flame of faith!
Tất cả chúng ta đều nhỏ bé và bất lực trước mầu nhiệm sự chết. Nhưng quả thật là nhờ ơn Chúa nếu lúc này chúng ta giữ được ngọn lửa đức tin!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/10/2017 

- I invite you to keep your eyes fixed on Jesus Christ in order to learn from Him how to love with all your heart.
Tôi mời gọi các bạn gắn chặt ánh mắt vào Chúa Giêsu Kitô để học nơi Ngài cách yêu thương bằng cả trái tim.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/10/2017 

- Remember the sufferings of every person in your heart. Then bring them all to God in your prayers.
Hãy ghi khắc trong tim bạn những khổ đau của từng con người và mang đến cho Chúa trong lời cầu nguyện.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/10/2017 

- The culture of encounter means recognizing that we are all children of God, despite our differences.
Văn hóa gặp gỡ là nhận ra rằng tất cả chúng ta đều là con Chúa, dù có khác biệt nhau.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/10/2017 

- Be courageous witnesses to Christ in the places where you live and work.
Hãy là những chứng nhân can trường nơi các bạn sống và làm việc.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/10/2017 

- It is the duty of the human family to help free every single person from poverty and hunger.
Gia đình nhân loại có nghĩa vụ giúp đỡ mỗi người thoát khỏi cảnh đói nghèo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/10/2017 

- Ensuring everyone’s right to food and nourishment is an imperative we cannot ignore. It is a right to which there are no exceptions!
Quyền được bảo đảm về lương thực thực phẩm là một đòi hỏi mà chúng ta không thể làm ngơ. Quyền đó không có ngoại lệ!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/10/2017 

- Along with the Saints, let the joy and beauty of living the Gospel shine through the witness of our lives.
Cùng với các Thánh, hãy để cho niềm vui và vẻ đẹp của Phúc Âm sống động qua lời chứng của cuộc sống của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/10/2017 

- God does not disappoint! He has placed hope in our hearts so that it can blossom and bear fruit.
Thiên Chúa không hề thất vọng! Ngài đã đặt vào con tim chúng ta niềm hy vọng để nó nẩy mầm và sinh hoa trái.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/10/2017 

- The search for peace is an open-ended task, a responsibility that never ends and that demands the commitment of everyone.
Việc tìm kiếm hòa bình là một nhiệm vụ mở, một trách nhiệm không có hồi kết và đòi hỏi sự cam kết của mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/9/2017 

- I have chosen this theme for World Communications Day 2018: “The truth will set you free” (Jn 8:32). Fake news and journalism for peace.
Tôi chọn chủ đề này cho Ngày Thế giới Truyền Thông: “Sự thật sẽ giải thoát bạn” (Gio 8, 32). Những tin giả và làm báo chí vì hòa bình.

Tin Mới

Tường trình Hội Ngộ III & Lễ Giỗ 15 năm Đấng Đáng Kính ĐHY PX. Nguyễn Văn Thuận, ngày 22-24/9/2017 tại Denver, Colorado [2]
Chúc mừng hồng ân Phó tế F1/HT65
Gia đình CCS Huế chung tay hỗ trợ Mái Ấm Tình Thương Lâm Bích, Đông Hà
Đức Phanxicô vào bàn với những người nghèo nhất
Robot Sophia được cấp quyền công dân có thể gây ra hệ lụy khôn lường gì?
Uỷ ban Giáo dục Công giáo/HĐGMVN: Thư gửi Anh Chị Em giáo chức Công giáo nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11-2017
Truyện ngắn: Huyền thoại
Tản mạn xích lô Huế
Sau tuổi 40...
Video clip “Người Cựu Chủng Sinh Huế”
Đức Phanxicô xin các linh mục “nhắm đến sự thánh thiện”
Nền giáo dục Việt Nam: Vẫn lạc đường sau 35 năm
Những điều đàn ông và phụ nữ sợ nhất khi về già
Ngày Thế giới Người nghèo: 4.000 người nghèo bên cạnh Đức Giáo hoàng
Lễ các thánh tử đạo Việt Nam. Kiên quyết không bỏ Đạo yêu thương
Tường trình Hội Ngộ III & Lễ Giỗ 15 năm Đấng Đáng Kính ĐHY PX. Nguyễn Văn Thuận, ngày 22-24/9/2017 tại Denver, Colorado
Tỉnh táo trước thông tin về y học trên mạng
Nghị lực của chàng trai Việt ngồi xe lăn làm việc cho công ty Singapore
Hội đồng Giám mục Việt Nam: Thư kêu gọi cầu nguyện và cộng tác cứu trợ nạn nhân lũ lụt
Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Trump
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 11/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 59
  • Hôm nay: 15689
  • Tháng hiện tại: 366226
  • Tổng lượt truy cập: 20210312