Một người Việt được Vatican kính trọng

Thứ ba - 15/09/2026 09:53
Điều đẹp nhất để nói về ngài không phải chỉ là “một người Việt được Vatican kính trọng”, mà là “một người Việt đã sống và được đào tạo đến mức quê hương mình có một món quà thật để trao cho Giáo hội Hoàn Vũ”.
le gio 24


MỘT NGƯỜI VIỆT ĐƯỢC VATICAN KÍNH TRỌNG – CUỘC ĐỜI, TRÍ TUỆ, BẢN LĨNH VÀ DI SẢN CỦA ĐỨC HỒNG Y FRANÇOIS-XAVIER NGUYỄN VĂN THUẬN

Có những con người mà cuộc đời nếu chỉ nhìn từ bên ngoài sẽ giống như một chuỗi biến cố trái ngược nhau đến khó tin: đang đi lên thì bị chặn lại, đang có mọi điều kiện để làm việc thì bị tước mất tự do, đang đứng giữa một trách nhiệm lớn thì bị đưa ra khỏi dòng chảy bình thường của lịch sử, tưởng đã bị quên lãng thì nhiều năm sau lại xuất hiện ở một không gian rộng lớn hơn, tưởng một sự nghiệp đã kết thúc thì một sứ mạng khác lại bắt đầu ở tuổi mà phần đông người ta nghĩ mình đã đi gần hết con đường. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận là một trong những con người như thế.

Nếu chỉ đọc vài dòng tiểu sử, người ta đã thấy những điều đặc biệt: sinh ra tại Huế, vào chủng viện từ tuổi thiếu niên, được truyền chức linh mục khi còn rất trẻ, được gửi sang Roma học Giáo luật và hoàn tất học vị tiến sĩ với kết quả xuất sắc, trở về Việt Nam làm giáo sư, nhà đào tạo, Giám đốc Tiểu chủng viện, Tổng Đại diện, rồi được chọn làm Giám mục Nha Trang khi mới ba mươi chín tuổi, sau chưa đầy tám năm lại được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Phó Sài Gòn; thế nhưng ngay khi một con đường trách nhiệm rất lớn vừa mở ra, ngài bị bắt, rồi sống mười ba năm trong cảnh bị giam giữ, trong đó có chín năm bị cô lập. Nếu chỉ nhìn bằng thước đo thông thường, đó phải là điểm kết thúc của một đời hoạt động.

Mười ba năm không phải vài tháng tạm ngưng. Mười ba năm đủ để một con người mất liên lạc với những mạng lưới mình từng có, đủ để những người cùng thời bước sang giai đoạn khác, đủ để những kế hoạch từng ấp ủ tan biến, đủ để một thế hệ mới xuất hiện, đủ để vị trí cũ không còn chờ mình, đủ để con người sau khi bước ra có thể cảm thấy mình như người bị bỏ lại bên lề lịch sử. Thế nhưng điều lạ lùng chính là sau khi được tự do, Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận không chỉ bước trở lại đời sống Giáo hội mà còn bước vào một sứ mạng rộng hơn trước: làm việc về di cư, công lý, hòa bình, nhân quyền, phát triển, phẩm giá con người, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tin tưởng trao những trách nhiệm cao trong Giáo triều Roma, được giao tham gia những công trình trí tuệ quan trọng của Giáo hội, được mời giảng tĩnh tâm cho chính Đức Giáo Hoàng và các vị lãnh đạo cao cấp của Tòa Thánh, rồi được nâng lên hàng Hồng y. Nhưng nếu chỉ kể như thế, câu chuyện vẫn còn dễ bị hiểu sai. Người ta có thể biến cuộc đời ngài thành một câu chuyện “thất bại rồi thành công”, “bị giam rồi được vinh danh”, như thể cuối cùng điều quan trọng nhất là tước vị.

Không phải vậy. Điều lớn nhất nơi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận không phải là việc người bị cắt khỏi dòng lịch sử cuối cùng được lịch sử nhìn nhận; điều lớn hơn là trong chính khoảng thời gian tưởng như bị lấy đi ấy, ngài không để mình trở thành một con người bị phá hủy từ bên trong. Người ta có thể ngăn ngài điều hành một giáo phận, nhưng không ngăn được ngài sống ơn gọi mục tử. Có thể lấy khỏi ngài văn phòng, lịch làm việc, các cuộc họp, những chuyến kinh lý, những lớp đào tạo, nhưng không lấy được khả năng nghĩ về đoàn chiên. Có thể lấy tự do bên ngoài nhưng không hoàn toàn kiểm soát được phần tự do cuối cùng bên trong, nơi con người quyết định mình sẽ trở thành ai trước điều mình không thể lựa chọn. Chính ở đó, sự vĩ đại thật của Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận bắt đầu được nhìn thấy. Và muốn hiểu vì sao một người có thể đứng vững trong mười ba năm như thế, chúng ta phải trở lại thật xa, trở lại Huế, trở lại Phú Cam, trở lại gia đình, trở lại những bài học đầu đời, bởi không có sự bền bỉ lớn nào xuất hiện trong một đêm.

Những ngày rất khó thường chỉ làm lộ ra những gì đã được xây từ những ngày bình thường. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận được sinh ra ngày 17 tháng 4 năm 1928 tại Phú Cam, Huế, trong một gia đình Công giáo lâu đời, nơi đức tin không phải chỉ là chuyện đi lễ nhưng thấm vào nếp sống, vào cách kể chuyện, vào ký ức gia đình, vào lòng kính trọng các chứng nhân tử đạo, vào cách cha mẹ dạy con phải nhớ mình thuộc về ai và sống vì điều gì. Người mẹ có ảnh hưởng sâu sắc đến ngài thường kể Kinh Thánh, kể cuộc đời các thánh, kể những gương trung thành của các vị tử đạo Việt Nam, đồng thời gieo vào con hai điều sẽ đi theo suốt đời: yêu quê hương và học tha thứ. Đó là hai bài học nếu tách riêng thì ai cũng thấy đẹp, nhưng đặt cạnh nhau mới thấy chiều sâu. Yêu quê hương có thể rất dễ bị biến thành thái độ khép kín nếu người ta không có khả năng tha thứ; tha thứ lại có thể trở thành thứ tình cảm mơ hồ nếu không gắn với tình yêu cụ thể đối với con người, cộng đồng và lịch sử mình thuộc về. Nơi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận, hai điều ấy không triệt tiêu nhau. Ngài yêu Việt Nam rất sâu, nhưng không để tình yêu quê hương trở thành lý do nuôi thù hận. Ngài không quên những biến cố đau đớn, nhưng cũng không cho phép ký ức đau đớn quyết định toàn bộ cách mình nhìn con người. Đó là một bài học cực khó. Người chưa từng bị xúc phạm thường dễ nói “hãy tha thứ”. Người có đủ lý do để hận nhưng không để hận làm chủ tâm hồn mới cho ta thấy tha thứ thật là gì. Và có thể nói hạt giống của khả năng ấy đã được gieo từ gia đình trước khi lịch sử đưa ngài vào những thử thách mà không ai có thể chuẩn bị đầy đủ bằng sách vở.

Năm mười ba tuổi, Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận bước vào Tiểu chủng viện An Ninh. Mười ba tuổi là độ tuổi rất trẻ để bắt đầu một đời sống có giờ giấc, kỷ luật, học tập, cầu nguyện, sinh hoạt chung, vâng phục và một hành trình phân định kéo dài. Người trẻ hôm nay đôi khi nhìn một nhân vật lớn và nghĩ bản lĩnh của họ là bẩm sinh, nhưng sự thật thường rất khác. Bản lĩnh là kết quả của hàng nghìn việc nhỏ được lặp đi lặp lại. Một người có thể đứng vững nhiều năm trong thử thách không phải vì một ngày bỗng trở nên mạnh, mà vì trước đó đã học giữ nhịp đời sống khi không có cảm hứng. Chủng viện dạy những bài học ấy theo cách rất âm thầm: đến giờ thì thức dậy, đến giờ thì học, đến giờ thì cầu nguyện, đến giờ thì làm việc chung; không phải ngày nào cũng hứng thú, không phải bài nào cũng dễ, không phải cộng đoàn lúc nào cũng êm, nhưng chính sự trung thành với những điều rất nhỏ ấy tạo ra một cấu trúc nội tâm. Sau này, khi bị tước mất hầu hết cấu trúc bên ngoài, cấu trúc nội tâm ấy có thể đã trở thành một trong những điều giữ ngài đứng.

Ngày 11 tháng 6 năm 1953, Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận được truyền chức linh mục khi mới hai mươi lăm tuổi. Một linh mục trẻ có thể có nhiều nhiệt huyết, nhưng Giáo hội không chỉ cần nhiệt huyết. Giáo hội cần trí tuệ, sự trưởng thành, khả năng đọc con người, khả năng quản trị, khả năng phân định. Chỉ ba năm sau, ngài được gửi sang Roma học Giáo luật tại Đại học Giáo hoàng Urbaniana. Việc học Giáo luật đôi khi bị người ngoài nhìn như học các điều khoản khô cứng, nhưng người thật sự hiểu Giáo hội biết Giáo luật liên quan rất sâu đến con người: quyền và nghĩa vụ, cấu trúc hiệp thông, việc phân định trách nhiệm, đời sống bí tích, hôn nhân, quản trị, nhân sự, kỷ luật và trật tự phục vụ công ích. Người học Giáo luật nghiêm túc phải tập suy nghĩ chính xác, phân biệt điều cốt yếu với điều phụ, phân biệt trường hợp phổ quát và trường hợp ngoại lệ, đọc văn bản cẩn trọng, không để cảm tính thay thế lý trí. Luận án của cha Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận về các tuyên úy quân đội được đánh giá ở mức Summa cum laude, tức mức xuất sắc cao nhất.

Điều ấy quan trọng không phải để tô cho tiểu sử một huy chương học thuật, mà vì nó chứng minh ngay từ giai đoạn đào tạo ngài đã có khả năng làm việc trí tuệ ở mức rất cao, có tư duy hệ thống, khả năng nghiên cứu và khả năng xử lý những vấn đề phức tạp. Sau này, khi ngài điều hành giáo phận, đào tạo chủng sinh, lãnh đạo cơ quan tại Vatican hay tham gia chuẩn bị những tài liệu học thuyết xã hội, những năng lực ấy không phải tự nhiên xuất hiện; chúng là hoa trái của nhiều năm học tập nghiêm túc. Đây là một bài học rất quan trọng cho đời sống Giáo hội: đức tin không chống lại tri thức, đời sống thiêng liêng không phải lý do để làm việc cẩu thả, lòng đạo đức không thay thế sự chuẩn bị.

Nếu yêu người khác thật, ta phải muốn phục vụ họ bằng khả năng tốt nhất. Một bác sĩ Công giáo không thể chỉ hiền; phải giỏi y khoa. Một giáo viên Công giáo không thể chỉ đạo đức; phải dạy tốt. Một linh mục không thể chỉ sốt sắng; phải học Kinh Thánh, thần học, Giáo luật, tâm lý, xã hội, phải biết chuẩn bị bài giảng, phải học lắng nghe. Nguyên tắc ấy được thấy rất rõ trong đời Nguyễn Văn Thuận. Sau khi hoàn tất việc học, năm 1959 ngài trở về Việt Nam. Ngài được giao giảng dạy, rồi trở thành Giám đốc Tiểu chủng viện Hoan Thiện từ năm 1964 đến 1967, đồng thời giữ nhiệm vụ Tổng Đại diện của Tổng Giáo phận Huế. Nếu nhìn kỹ, đây là một giai đoạn đào tạo thứ hai: không còn học trong trường mà học qua trách nhiệm. Là giáo sư đòi phải hiểu và biết truyền đạt. Là giám đốc chủng viện đòi phải biết đọc người: không thể nhìn ơn gọi chỉ bằng điểm số, phải nhìn nhân cách, khả năng sống cộng đoàn, đời sống thiêng liêng, sự trưởng thành tình cảm, tinh thần phục vụ. Là Tổng Đại diện lại đòi hỏi năng lực quản trị: làm việc với linh mục, cơ sở, những vấn đề phát sinh, các quyết định mục vụ. Ba loại công việc rất khác nhau ấy dần tạo nơi ngài một sự kết hợp hiếm: trí tuệ của học giả, cái nhìn của nhà đào tạo và sự thực tế của nhà quản trị. Một người chỉ có học thức mà không hiểu con người có thể trở thành lãnh đạo rất lạnh. Người chỉ thương người mà không biết quản trị có thể gây hỗn loạn vì quyết định cảm tính. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận được huấn luyện để kết hợp hai phía.

Vì thế khi Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm ngài làm Giám mục Nha Trang ngày 13 tháng 4 năm 1967, lúc mới ba mươi chín tuổi, đó không chỉ là một cuộc bổ nhiệm “sớm” theo nghĩa tuổi đời, mà là việc trao một trách nhiệm rất lớn cho một người đã trải qua nhiều lớp đào tạo. Nha Trang lúc ấy nằm trong một đất nước chiến tranh, xã hội bất ổn, người dân di chuyển, nhiều cộng đoàn chịu ảnh hưởng, những vấn đề mục vụ không dừng ở việc tổ chức phụng vụ. Vị giám mục trẻ phải đối diện đồng thời với đào tạo, mục vụ, xã hội, chiến tranh, di cư, giáo dân, linh mục, người trẻ. Và một điều nổi bật là ngài không để hoàn cảnh chiến tranh khiến mình chỉ chạy theo khủng hoảng trước mắt. Người lãnh đạo ngắn hạn luôn hỏi “hôm nay giải quyết sao?”, còn người có tầm nhìn hỏi thêm “mười năm nữa sẽ thế nào?”. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận chọn nhìn dài. Khi ngài bắt đầu lãnh đạo Nha Trang, Đại chủng viện có bốn mươi hai chủng sinh; trong thời gian làm giám mục, con số tăng lên một trăm bốn mươi bảy. Ở bốn tiểu chủng viện, số chủng sinh tăng từ khoảng hai trăm lên khoảng năm trăm. Không nên đọc những con số ấy bằng tinh thần khoe thành tích, mà phải hỏi: tại sao giữa chiến tranh một giám mục lại đầu tư mạnh vào đào tạo? Bởi ngài hiểu một giáo phận không thể dựa vào một vị giám mục giỏi. Nếu không có thế hệ kế tiếp, mọi thành tựu của người lãnh đạo sẽ chết theo người lãnh đạo. Một tòa nhà có thể được xây nhanh, nhưng một linh mục cần nhiều năm. Một cơ sở có thể được mua, nhưng một nhân cách cần thời gian. Một chương trình có thể tổ chức trong vài tháng, nhưng một thế hệ mục tử phải được hình thành trong hàng thập niên. Đó là tư duy rất căn bản của Nguyễn Văn Thuận: xây con người trước khi chỉ nghĩ đến xây công trình.

Trong những năm tại Nha Trang, Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận không chỉ phát triển chủng viện. Ngài tổ chức những chương trình thường huấn cho linh mục, bởi hiểu rằng đào tạo không kết thúc ngày chịu chức. Một linh mục nếu nghĩ ngày chịu chức là lúc “học xong” sẽ nhanh chóng không còn khả năng đọc thế giới đang thay đổi. Thời đại mới sinh ra những câu hỏi mới về gia đình, người trẻ, truyền thông, đạo đức, kinh tế, chiến tranh, hòa bình, phát triển. Linh mục không thể dùng một vài công thức học từ quá khứ cho mọi tình huống. Vì vậy việc thường huấn cho thấy vị giám mục trẻ muốn một linh mục đoàn tiếp tục trưởng thành. Song song với đó, ngài còn phát triển những hoạt động liên quan đến công lý và hòa bình, phong trào Cursillo, Focolare, Hướng đạo, người trẻ, giáo dân và các hội đồng mục vụ. Chỉ riêng chi tiết ấy đã cho thấy cái nhìn Giáo hội học khá rộng: Giáo hội không chỉ là hàng giáo sĩ.

Một giáo phận trưởng thành không thể vận hành theo kiểu linh mục làm hết, giáo dân chỉ đến nghe. Giáo dân có sứ mạng trong gia đình, nghề nghiệp, giáo dục, kinh tế, xã hội. Người giáo dân trưởng thành không chỉ biết đọc kinh mà phải biết làm chứng cho Tin Mừng trong đời sống công cộng. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận  nhận ra điều ấy từ sớm. Trong tám năm làm Giám mục Nha Trang, ngài ban hành sáu thư mục vụ nói về cầu nguyện, đức tin, hòa bình, sứ mạng, đổi mới và hòa giải. Nếu xếp những chủ đề ấy cạnh nhau, ta thấy rõ một đường hướng: bên trong là cầu nguyện và đức tin; hướng ra ngoài là sứ mạng; để sứ mạng có sức sống phải đổi mới; sống giữa đất nước chia rẽ thì hòa bình và hòa giải là điều không thể bỏ. Đây cũng là nơi một chủ đề sẽ theo ngài suốt đời bắt đầu hiện ra: hòa giải không phải một kỹ thuật xã hội mà là một chiều kích của Tin Mừng. Hòa giải không có nghĩa xóa sự thật hay làm mọi khác biệt trở nên không quan trọng. Hòa giải là không để quá khứ biến con người thành tù nhân của thù hận.

Một xã hội chỉ có công lý mà không có khả năng tha thứ có thể tiếp tục sống trong vòng trả đũa; một xã hội chỉ nói tha thứ mà không tôn trọng sự thật lại trở thành giả tạo. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận dường như luôn cố giữ hai điều với nhau. Và kinh nghiệm quản trị ở Nha Trang nhanh chóng đưa ngài vượt ra ngoài phạm vi một giáo phận. Trong Hội đồng Giám mục miền Nam Việt Nam, ngài đảm trách các lĩnh vực như công lý và hòa bình, truyền thông xã hội, phát triển; ngài liên quan đến Caritas trong việc tái thiết và hỗ trợ người dân phải di chuyển vì chiến tranh; tham gia Radio Veritas và tiến trình hình thành Liên Hội đồng Giám mục Á Châu.

Đến đây, ta thấy sự nghiệp sau này tại Vatican không phải một bước ngoặt hoàn toàn xa lạ. Công lý, hòa bình, di cư, truyền thông, phát triển, hợp tác quốc tế đã có mặt trong kinh nghiệm Việt Nam của ngài từ rất sớm. Đây là một quy luật thú vị của đời người: nhiều việc hôm nay tưởng chỉ phục vụ một hoàn cảnh nhỏ lại đang âm thầm chuẩn bị mình cho điều rất xa. Khi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận làm việc với người di dời do chiến tranh, ngài chưa thể biết một ngày sẽ tham gia những vấn đề di cư ở bình diện quốc tế. Khi thúc đẩy hòa giải trong Việt Nam, ngài chưa thể biết sau này sẽ lãnh đạo một cơ quan của Tòa Thánh về công lý và hòa bình. Khi đào tạo chủng sinh ở Huế và Nha Trang, ngài chưa thể biết mình sẽ được giao kinh lý các cơ sở đào tạo ở châu Phi. Nhưng một kinh nghiệm được sống nghiêm túc không mất. Nó tích tụ thành năng lực. Tháng 4 năm 1975, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI bổ nhiệm Đức cha François-Xavier Nguyễn Văn Thuận làm Tổng Giám mục Phó Sài Gòn. Ngài mới bốn mươi bảy tuổi. Nhìn theo logic sự nghiệp, đây là một bước tiến rất lớn. Nhưng chỉ vài tháng sau, ngày 15 tháng 8 năm 1975, ngài bị bắt.

Toàn bộ nhịp đời bị cắt ngang. Người đã quen quản trị, giảng dạy, tổ chức, đi lại, gặp gỡ nay bị đưa vào tình trạng nơi rất nhiều khả năng không thể sử dụng như trước. Điều này không chỉ là mất chức năng; nó là một thử thách căn tính. Khi ta quen biết mình qua điều mình làm, ngày không còn làm được nữa ta có thể không biết mình là ai. Một giám mục không được điều hành giáo phận có còn là giám mục không? Một nhà đào tạo không còn chủng sinh trước mặt có còn là nhà đào tạo không? Một người lãnh đạo không có người để lãnh đạo có còn giá trị không? Những câu hỏi ấy không chỉ thuộc thần học mà rất con người. Một bác sĩ về hưu có thể thấy mình mất căn tính; một người mất việc cảm thấy mình trở thành vô dụng; cha mẹ khi con lớn có thể không biết vai trò mình còn gì. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận bị đẩy vào một tình huống cực đoan của câu hỏi ấy. Và câu trả lời dần hiện ra: căn tính sâu hơn chức năng. Ngài là linh mục, là giám mục, là môn đệ Đức Kitô trước khi là người đứng đầu một cơ cấu. Nếu chức năng bị chặn, sứ mạng vẫn có thể tìm hình thức khác. Đây là điểm rất quan trọng. Ngài không thể điều hành giáo phận, nhưng vẫn có thể cầu nguyện cho giáo dân. Không thể đứng giảng, nhưng có thể viết. Không thể tổ chức chủng viện, nhưng có thể sống như một chứng nhân. Không thể thay đổi điều người khác quyết định, nhưng vẫn có thể quyết định mình phản ứng thế nào. Đây là nơi mười ba năm giam giữ, trong đó chín năm cô lập, trở thành trường học của tự do nội tâm.

Cô lập lâu dài có khả năng bào mòn con người ở mức rất sâu. Con người được tạo dựng để sống trong tương quan. Không được trò chuyện, không được chia sẻ, không biết ngoài kia xảy ra gì, không biết khi nào tình trạng kết thúc, tất cả có thể làm ý thức về thời gian và hy vọng suy yếu. Nếu ngày nào cũng chỉ hỏi “bao giờ được ra?”, toàn bộ hiện tại trở thành phòng chờ. Mười ba năm như vậy sẽ là mười ba năm bị mất. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận dần học một con đường khác: sống giây phút hiện tại. Đây là một trong những tư tưởng nổi tiếng nhất của ngài, nhưng nếu tách khỏi bối cảnh, người ta dễ biến nó thành một câu truyền cảm hứng nhẹ nhàng. Thực ra nó được sinh ra trong một hoàn cảnh rất nghiêm trọng. Sống hiện tại đối với Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận không có nghĩa hưởng thụ phút giây. Nó nghĩa từ chối để tương lai chưa đến đánh cắp khả năng yêu hôm nay. Nếu không biết ngày nào tự do, thì hôm nay vẫn phải là một ngày sống. Hôm nay vẫn có Chúa.

Hôm nay vẫn có một người ở cạnh để đối xử tử tế. Hôm nay vẫn có thể cầu nguyện. Hôm nay vẫn có thể tập tha thứ. Hôm nay vẫn có thể không để mình trở nên con người đầy độc tố. Chính điều đó làm tư tưởng của ngài rất phù hợp với bất kỳ ai trải qua hoàn cảnh không thể thay đổi ngay. Không phải ai cũng ở tù, nhưng rất nhiều người sống trong những “phòng chờ”: chờ bệnh hết, chờ công việc tốt, chờ người kia thay đổi, chờ con cái trưởng thành, chờ có tiền, chờ nghỉ hưu. Người ta trì hoãn sự sống đến một ngày lý tưởng không biết bao giờ tới. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận cho thấy cuộc đời thật luôn mang tên hôm nay. Tương lai khi đến cũng sẽ đến dưới dạng một hôm nay khác. Nếu ta không biết sống hôm nay, ta sẽ không biết sống tương lai. Chính trong thời gian bị quản thúc ở Cây Vông năm 1975, câu hỏi mục tử vẫn không để ngài yên: có thể làm gì cho giáo dân khi không thể ở với họ? Câu hỏi ấy là chìa khóa. Người chỉ nghĩ đến mình hỏi “bao giờ tôi được ra?”. Người mục tử hỏi “ngay bây giờ tôi còn phục vụ bằng cách nào?”. Ngài nhớ đến Thánh Phaolô, người từng viết thư cho các cộng đoàn khi bị giam, rồi bắt đầu viết những suy niệm ngắn trên mặt sau những tờ lịch cũ. Một cậu bé tên Quang và gia đình giúp chuyển những tờ lịch ra ngoài để chép lại. Từ đó dần hình thành một nghìn lẻ một suy niệm, sau này trở thành Đường Hy Vọng. Cảnh tượng ấy mang một ý nghĩa biểu tượng rất lớn: một con người bị giới hạn không gian lại tạo ra những câu chữ sẽ vượt biên giới; một người không có bục giảng lại nói được với nhiều thế hệ; một người không có văn phòng, máy đánh chữ hay thư viện lại viết nên tác phẩm có đời sống lâu hơn nhiều công trình xây bằng gạch đá.

Đường Hy Vọng có sức mạnh không phải vì văn chương quá cầu kỳ. Ngược lại, nó ngắn, trực tiếp, giống những lời có thể bỏ vào túi mà mang theo cả ngày. Nhưng sức mạnh nằm ở sự thật phía sau câu chữ. Khi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận nói về hy vọng, ngài chưa biết ngày nào tự do. Khi nói về hiện tại, hiện tại của ngài là điều mà phần đông người ta muốn trốn. Khi nói về yêu thương, ngài sống trong hoàn cảnh có mọi lý do để cay đắng. Khi nói về tha thứ, đó không phải khái niệm trên lớp học. Lời được trả giá bằng đời sống nên có trọng lượng. Đây là điểm người giảng Tin Mừng cần suy nghĩ rất nhiều. Người ta có thể học kỹ thuật nói, học cách tạo cảm xúc, học cách kể chuyện, nhưng không kỹ thuật nào thay được sự thật của đời sống. Một người giảng tha thứ mà sống thù dai, lời sẽ rỗng. Người nói đơn sơ nhưng đã trả giá cho điều mình nói có thể chạm sâu hơn nhiều. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận trở thành một nhà giảng thuyết lớn về hy vọng không phải vì ngài nghĩ ra khẩu hiệu hay, mà vì lịch sử buộc ngài phải sống câu hỏi ấy từng ngày. Và đây cũng là lý do Đường Hy Vọng đi ra ngoài Việt Nam.

Hoàn cảnh xuất bản có tính lịch sử, nhưng câu hỏi thì phổ quát. Con người ở Paris, Manila, Mexico hay Roma đều có lúc đối diện với những điều không thể kiểm soát. Ai cũng có vết thương. Ai cũng có ngày thất vọng. Ai cũng có một điều phải chờ. Vì thế lời sinh ra trong một hoàn cảnh rất Việt Nam lại có thể nói với thế giới. Điều riêng đã chạm điều chung. Và đây là một trong những đóng góp đẹp nhất của một người Việt cho Giáo hội Hoàn Vũ.

Ngày 21 tháng 11 năm 1988, Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận được trả tự do. Người ta có thể tưởng tự do đồng nghĩa mọi thứ trở lại như cũ, nhưng đời thật không vận hành như thế. Sau một biến cố kéo dài, nhiều khi cái “cũ” không còn tồn tại. Mười ba năm đã đi qua. Ngài không thể đơn giản quay lại năm 1975 và tiếp tục nơi mọi thứ dừng. Năm 1991, ngài rời Việt Nam và không thể trở lại. Ở tuổi ngoài sáu mươi, một con người phải bắt đầu chương mới ở xa quê, không còn vị trí cũ, không còn bối cảnh quen thuộc. Đây là một trong những khía cạnh phi thường nhất nhưng ít được nói đủ: khả năng bắt đầu lại khi đã ngoài sáu mươi. Người trẻ bắt đầu lại dễ hơn vì họ cảm thấy trước mặt còn nhiều năm. Người lớn tuổi thường có xu hướng thu hẹp kỳ vọng, nhất là sau một cú đứt gãy lớn. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận lại bước vào một thế giới mới. Năm 1992, ngài tham gia Ủy ban Công giáo Quốc tế về Di cư tại Geneva.

Ngày 24 tháng 11 năm 1994, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình; ngày 24 tháng 6 năm 1998, ngài trở thành Chủ tịch. Chỉ riêng những mốc ấy đã cho thấy Tòa Thánh không chỉ nhìn ngài như một “biểu tượng của đau khổ”. Một cơ quan cấp quốc tế cần một người làm việc được. Cần đọc hồ sơ, hiểu văn bản, gặp chuyên gia, làm việc với giám mục, nhà ngoại giao, tổ chức quốc tế, hiểu những vấn đề phức tạp về nhân quyền, chiến tranh, nghèo đói, phát triển, di cư và hòa bình. Câu chuyện tù đày có thể làm người khác kính phục, nhưng không đủ để điều hành một cơ quan như vậy.

Vì thế việc ngài được trao trách nhiệm chứng minh một điều quan trọng: những năm tù không lấy được năng lực đã được xây trước đó. Kiến thức thật sự đã trở thành tài sản bên trong. Kỷ luật đã trở thành thói quen. Kinh nghiệm đào tạo, quản trị, làm việc xã hội và quốc tế vẫn còn. Đây là bài học lớn cho bất kỳ ai: chức vụ có thể mất, hoàn cảnh có thể đổi, nhưng những gì ta đã thực sự học, đã biến thành nhân cách và năng lực, không dễ bị lấy. Vì vậy đầu tư vào bản thân bằng học tập và kỷ luật không bao giờ thừa. Một người có thể mất công việc nhưng không nhất thiết mất khả năng. Có thể bị buộc rời một vị trí nhưng không mất vốn nội tâm. Nơi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận, điều ấy còn được bổ sung bằng một thứ không trường đại học nào cấp bằng: chiều sâu được mua bằng đau khổ. Một người từng mất tự do giờ làm việc về phẩm giá con người. Một người từng sống giữa chiến tranh làm về hòa bình. Một người phải rời quê làm về di cư. Một người từng bị cô lập lại tham gia những mạng lưới quốc tế. Kinh nghiệm không khiến ngài tự động trở thành chuyên gia, nhưng nó đem vào chuyên môn một chiều sâu nhân bản. Người đọc báo cáo về người tị nạn khác với người biết cảm giác bị buộc rời nơi mình thuộc về. Người viết về tự do khác với người từng mất tự do. Người nói hòa giải khác với người phải đấu tranh thật để không biến mình thành con người cay đắng.

Vì thế, Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận có khả năng nối lý thuyết với đời sống. Trong thời gian ở Roma, ngài được mời giảng, thuyết trình, làm việc tại nhiều quốc gia, từng nói với đông đảo người trẻ, được trao bằng tiến sĩ danh dự, được giao kinh lý những chủng viện tại châu Phi. Các nhiệm vụ ấy khác nhau rất nhiều và đòi khả năng thích ứng. Nói với hàng chục nghìn người trẻ không giống làm việc với chuyên gia; đánh giá một chủng viện không giống giảng tĩnh tâm; điều hành cơ quan quốc tế không giống mục vụ giáo phận. Một người có thể đi qua những không gian khác nhau như thế phải có một lõi rất vững nhưng phương pháp rất linh hoạt. Đây là điều Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận đã học từ rất sớm: nguyên tắc phải vững, hình thức có thể thay đổi. Đức tin không đổi, nhưng cách phục vụ phải đọc hoàn cảnh.

Chính khả năng đó giải thích vì sao ngài không bị “lỗi thời” sau mười ba năm tách khỏi dòng công việc. Một người quá gắn với một phương pháp dễ bị thời đại vượt qua; một người bám nguyên tắc nhưng linh hoạt trong hình thức có thể học lại. Ngoài sáu mươi tuổi, ngài đã làm điều rất nhiều người trẻ cũng khó: bước vào môi trường mới mà không đòi nó phải giống quá khứ. Đó là sự khiêm nhường. Người từng giữ trách nhiệm lớn nhưng khi hoàn cảnh đổi vẫn học lại, không lấy quá khứ làm lý do đòi hiện tại phải trả lại vị trí cũ. Có thể nói phần đời tại Roma không chỉ chứng minh năng lực, mà còn chứng minh sự tự do đối với chính sự nghiệp của mình. Ngài không sở hữu sứ vụ. Nếu Chúa đóng một hình thức, ngài tìm cách phục vụ trong hình thức khác. Đây là bài học đặc biệt cho linh mục và người lãnh đạo: đừng đồng nhất ơn gọi với một chức danh. Một linh mục không chỉ là cha xứ. Một giám mục không chỉ là người điều hành giáo phận. Một Kitô hữu không chỉ có giá trị khi còn ở ban này hội kia. Nếu căn tính lệ thuộc chức vụ, ngày mất chức vụ ta thấy mình biến mất. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận bị lấy khỏi một trách nhiệm lớn nhưng không biến mất, bởi căn tính sâu hơn.

Năm 1999, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II giao Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình chuẩn bị một công trình lớn nhằm hệ thống hóa học thuyết xã hội của Giáo hội. Công trình ấy đụng đến những chủ đề hết sức rộng: gia đình, lao động, kinh tế, chính trị, công ích, hòa bình, chiến tranh, môi trường, cộng đồng quốc tế, phẩm giá con người, người nghèo, quyền và trách nhiệm. Không thể hoàn thành loại dự án này bằng cảm hứng. Nó đòi hỏi phối hợp cơ quan, chuyên gia, văn bản, lịch sử giáo huấn, chỉnh sửa, phê bình và khả năng nhìn toàn cảnh. Đức Hồng y Renato Martino, người kế nhiệm Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận, về sau ghi nhận rằng ngài đã hướng dẫn giai đoạn chuẩn bị phức tạp bằng sự khôn ngoan, kiên quyết và tầm nhìn xa. Chi tiết này vô cùng quan trọng, bởi nó phá vỡ một hình ảnh đơn giản hóa về Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận  như chỉ là “người của hy vọng” theo nghĩa cảm xúc. Ngài là một nhà lãnh đạo có khả năng điều hành dự án trí tuệ lớn. Một trong những cám dỗ trong đời sống đạo là đối lập thánh thiện với chuyên nghiệp. Có người nghĩ chỉ cần có lòng tốt là đủ. Không phải vậy. Một dự án cho người nghèo mà quản trị tệ có thể làm hại người nghèo. Một trường Công giáo nếu quản lý yếu sẽ làm khổ giáo viên và học sinh. Một linh mục rất nhiệt tình nhưng không biết quản trị tài chính có thể đẩy giáo xứ vào khủng hoảng. Một người phục vụ tốt phải có lòng và có năng lực. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận là mẫu hiếm của sự kết hợp ấy.

Năm 2000, một sự kiện khác cho thấy mức độ tin tưởng đặc biệt của Giáo hội đối với ngài: Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mời ngài giảng tuần tĩnh tâm Mùa Chay cho Giáo triều Roma. Người nghe gồm chính Đức Giáo Hoàng và nhiều vị Hồng y, Tổng Giám mục đang giữ những trách nhiệm quan trọng nhất tại Vatican. Đứng trước một cử tọa như thế không thể chỉ dựa vào danh tiếng. Người giảng cần học vấn, chiều sâu thiêng liêng, khả năng cấu trúc suy niệm, một đời sống làm lời nói đáng tin. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận chọn chủ đề “Chứng nhân Hy vọng”. Hai chữ ấy gần như tóm tắt cuộc đời. Ngài không phải nhà lý luận về hy vọng; ngài là người buộc phải sống hy vọng khi không có lý do bên ngoài để lạc quan. Cần phân biệt hai điều này. Lạc quan là dự đoán hoàn cảnh sẽ tốt. Hy vọng Kitô giáo là biết rằng ngay khi hoàn cảnh chưa tốt, đời vẫn có thể được sống có ý nghĩa trước mặt Thiên Chúa. Người lạc quan nói: chắc sắp ổn. Người hy vọng nói: dù chưa biết khi nào ổn, hôm nay tôi vẫn có thể yêu.

Đó là điều Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận đã sống. Sau tuần tĩnh tâm, Đức Giáo Hoàng trao tặng ngài một chén thánh bằng vàng. Đặt món quà ấy cạnh những Thánh lễ ngài từng cử hành trong điều kiện tù đầy, người ta thấy cả một vòng cung kỳ lạ của lịch sử. Nhưng chiếc chén thánh không phải điểm lớn nhất; lớn hơn là việc những suy niệm ấy để lại dấu ấn sâu nơi Đức Giáo Hoàng. Lời đi ra từ một đời sống được trả giá luôn có khả năng ở lại.

Năm 2001, Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận được nâng lên hàng Hồng y. Không nên hiểu tước vị này như phần thưởng để bù cho mười ba năm tù. Trước khi bị bắt, ngài đã là một trí thức có năng lực, một nhà đào tạo, một giám mục đã chứng minh khả năng quản trị. Sau khi tự do, ngài lại chứng minh có thể làm việc ở môi trường quốc tế phức tạp. Tước Hồng y vì thế nằm ở cuối một hành trình gồm học thuật, quản trị, mục vụ, đau khổ, tái khởi đầu và phục vụ toàn cầu. Và điều đặc biệt là những người từng biết ngài thường không chỉ nhắc chức vụ. Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, người gọi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận là “chú”, nhớ một con người có thể kể về những điều đau đớn mà không toát ra cay đắng.

Điều này rất quan trọng. Một người có thể diễn sự bình an trong một bài nói ba mươi phút, nhưng rất khó diễn nhiều năm trước người thân cận. Nếu những người sống gần vẫn thấy sự thanh thản, đó là dấu hiệu của một tiến trình nội tâm thật. Đức Hồng y Tagle còn nhớ rằng ngay cả khi đau đớn vì ung thư, người chú tinh thần ấy vẫn tìm cách đưa người khác đi ăn, làm người khác vui. Một chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều. Bệnh tật tự nhiên làm thế giới thu lại quanh cơn đau. Một người vẫn còn không gian trong tâm hồn để nghĩ đến người bên cạnh là người đã tập sống cho người khác rất lâu. Tại tang lễ, lời “chú đã làm rất tốt, chú thật xuất sắc” gây xúc động vì nó không phải văn phong nghi lễ; đó là lời của một người biết ngài trong đời sống thật. Những chứng từ khác của các Hồng y và các Giáo hoàng cũng gặp nhau ở sự kính trọng dành cho một con người không chỉ giỏi nhưng có nhân cách. Có người nổi tiếng khi đứng trên bục nhưng rất khó làm việc cùng. Có người viết rất hay về khiêm nhường nhưng lại tự ái trong đời thường. Cái lớn nơi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận là sự nhất quán tương đối cao giữa điều ngài nói và cách ngài sống. Ngài nói tha thứ và người khác thấy ít cay đắng nơi ngài. Ngài nói hy vọng và đã sống nhiều năm không biết tương lai. Ngài nói giây phút hiện tại và chính mình đã học cách không để mười ba năm thành phòng chờ. Chính sự thống nhất ấy làm lời nói đáng tin.

Nếu muốn hiểu sâu hơn sự tha thứ nơi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận, phải tránh biến nó thành một cảm xúc dịu dàng. Tha thứ là một cuộc chiến giành lại tự do. Khi một người làm ta đau, điều đã xảy ra có thể chỉ diễn ra một lần nhưng ký ức có thể lặp lại hàng nghìn lần. Nếu ta tiếp tục nuôi hận, người ấy vẫn chiếm một căn phòng trong tâm hồn. Tha thứ không xóa sự thật, không nói điều xấu là tốt, không từ bỏ công lý; tha thứ là từ chối để người gây tổn thương quyết định mình sẽ trở thành ai. Đó là quyền tự do rất sâu. Người khác có thể làm ta đau nhưng không có quyền buộc ta trở thành người đầy độc tố trừ khi ta trao quyền ấy. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận dường như hiểu điều này bằng kinh nghiệm.

Và chính điều ấy giải thích vì sao một người từng mất tự do bên ngoài lại trở thành chứng nhân của tự do bên trong. Đây là một trong những lý do rất phù hợp khi ngài làm việc về nhân quyền và phẩm giá con người. Phẩm giá không chỉ là quyền chính trị hay điều kiện vật chất. Con người có chiều sâu tinh thần. Có thể có cơm mà vẫn bị làm nhục. Có thể có nhà mà không có tự do. Có thể có luật nhưng không có tôn trọng. Một người đã trải qua bất lực hiểu rằng phát triển con người phải toàn diện. Học thuyết xã hội Công giáo mà ngài góp phần chuẩn bị luôn nhìn con người như một hữu thể có thân xác, tinh thần, gia đình, cộng đồng, tự do và trách nhiệm. Đây là một trong những điểm khiến sứ mạng của ngài tại Vatican gắn chặt với lịch sử đời mình chứ không phải một công việc xa lạ. Nhưng ngài không biến kinh nghiệm cá nhân thành lý do để nói mãi về bản thân. Đây cũng là dấu hiệu của trưởng thành. Có người bị thương rồi để vết thương trở thành trung tâm mọi cuộc trò chuyện. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận  dùng vết thương như cửa sổ để nhìn người khác. Vì từng đau, ngài có khả năng hiểu người đau. Vì từng mất tự do, ngài quan tâm phẩm giá. Vì từng xa quê, ngài hiểu người di cư. Đó là cách biến vết thương thành sứ mạng. Đau khổ tự nó không làm ai tốt hơn. Nó có thể làm người ta cay hơn. Điều quyết định là cách người ta đáp lại. Có những người bị đối xử tệ rồi về sau dùng chính kinh nghiệm ấy để đối xử tệ với người yếu hơn: “Tôi đã chịu, anh cũng phải chịu.” Đó là vòng tròn bạo lực. Người được chữa lành nói khác: “Tôi đã chịu, tôi không muốn người khác phải chịu như thế.”

Đó là cách lịch sử được đổi hướng. Nơi Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận, người ta thấy khá rõ tiến trình ấy. Những năm bị mất không chỉ là khoảng trắng. Lịch sử bên ngoài tạm dừng, nhưng lịch sử bên trong vẫn đi. Điều này đem lại một ánh sáng rất mạnh cho người đang thấy đời mình “không tiến triển”. Có những mùa cây không ra hoa nhưng đang mọc rễ. Không phải giai đoạn không có thành tựu nhìn thấy là giai đoạn vô ích. Người chăm người thân bệnh nhiều năm có thể không làm được gì “lớn”, nhưng nhân cách được hình thành. Một linh mục ở giáo xứ nhỏ không nổi tiếng có thể đang thay đổi cuộc đời vài gia đình. Một người đang điều trị bệnh có thể học những điều về sự sống mà người khỏe chưa biết.

Thế giới đo thành quả bằng cái nhìn thấy; Thiên Chúa thường làm việc rất sâu nơi không ai nhìn. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận sống chín năm cô lập, nghĩa là có những giai đoạn hầu như không có sân khấu. Nhưng chính nơi ấy một trong những chứng tá quan trọng nhất hình thành. Điều đó đặc biệt cần cho thời đại mạng xã hội, nơi người ta dễ nghĩ điều không được nhìn thấy là không có giá trị. Nếu không có ảnh đăng, không có lượt thích, không có phản hồi, ta dễ mất động lực. Cuộc đời ngài hỏi một câu rất nghiêm: nếu không ai biết việc tốt này do tôi làm, tôi còn muốn làm không? Nếu bài giảng không được đăng, tôi còn soạn kỹ không? Nếu không ai khen, tôi còn chăm người bệnh không? Nếu không ai biết, tôi còn trung thực không? Những câu trả lời ấy cho thấy ta đang phục vụ điều đúng hay đang phục vụ hình ảnh của mình. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận sống quá lâu không có công chúng nên khi bước vào công chúng, dường như ông ít bị công chúng nuốt. Người đã biết mình có thể tồn tại không cần tiếng vỗ tay sẽ tự do hơn trước tiếng vỗ tay. Đây là phẩm chất rất quý cho người lãnh đạo. Người lệ thuộc công nhận thường sợ người giỏi, sợ phản biện, cần kiểm soát hình ảnh. Người tự do có thể đào tạo người khác lớn lên. Có lẽ vì thế từ Nha Trang đến Roma, Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận luôn gắn với đào tạo và việc xây người.

Cuộc đời ngài cũng là một bài học đặc biệt về tuổi tác và khả năng bắt đầu lại. Xã hội hiện đại tôn sùng tuổi trẻ đến mức nhiều người ngoài năm mươi, sáu mươi cảm thấy phần đóng góp lớn đã xong. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận bước vào một trong những giai đoạn ảnh hưởng quốc tế nhất khi đã ngoài sáu mươi. Điều đó không phủ nhận giới hạn tuổi tác, nhưng nhắc rằng có những sứ mạng chỉ người đã đi qua nhiều năm mới có thể thực hiện. Người trẻ có tốc độ, người lớn tuổi có thể có chiều sâu. Xã hội khôn ngoan biết dùng cả hai. Giáo hội cũng vậy. Không phải đời phục vụ kết thúc khi rời một chức vụ. Có thể chuyển từ điều hành sang đồng hành, từ xây dựng sang truyền kinh nghiệm, từ hoạt động mạnh sang giảng dạy, viết, cầu nguyện. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận không còn trở lại đúng con đường trước năm 1975, nhưng sứ mạng không vì thế nhỏ hơn.

Đây là bài học cho người đang tiếc một con đường đã mất. Đôi khi ta đau vì cứ muốn Chúa trả lại đúng thứ cũ, trong khi một điều khác đang mở. Điều đó không phải lúc nào cũng lớn hơn theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng có thể phù hợp hơn với giai đoạn mới. Muốn nhận ra, con người phải không sở hữu hình thức sứ vụ. Một linh mục quá đồng nhất mình với giáo xứ nào đó sẽ khó khi bị chuyển. Một người quá đồng nhất giá trị với nghề nghiệp sẽ sụp khi mất việc. Một người quá đồng nhất bản thân với vai trò làm cha mẹ có thể khủng hoảng khi con trưởng thành. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận  bị buộc học một bài rất đau nhưng rất sâu: mình lớn hơn vị trí mình đang giữ. Và chính điều ấy giúp ngài bước từ Việt Nam sang Roma, từ lãnh đạo giáo phận sang phục vụ Giáo hội Hoàn Vũ.

Cũng từ đây ta hiểu cách đúng để nói “một người Việt được Vatican kính trọng”. Không nên nói theo kiểu tìm sự xác nhận từ bên ngoài, như thể giá trị của người Việt phải chờ Vatican hay phương Tây công nhận. Giá trị của Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận có trước sự công nhận. Vatican tin tưởng vì nhận ra năng lực và nhân cách đã được hình thành. Điều đáng tự hào không phải một người Việt “được người ngoài khen”, mà là một con người được hình thành trong gia đình, Giáo hội và lịch sử Việt Nam đã có điều thật sự để trao cho thế giới. Kinh nghiệm Việt Nam của ngài không bị bỏ lại khi ra quốc tế. Ngược lại, chính vì đã sống thật sâu trong một đất nước chiến tranh, chia rẽ, di cư, bất ổn, ngài có nhiều điều để đóng góp vào các vấn đề phổ quát. Người quốc tế thật không phải người mất gốc; người có gốc sâu thường có thể cho bóng rộng. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận mang Việt Nam theo cách trưởng thành: không biến quê hương thành khẩu hiệu, nhưng để những kinh nghiệm của quê hương trở thành khả năng hiểu người. Đây cũng là một lời gọi cho Giáo hội Việt Nam: đừng chỉ nghĩ mình là nơi nhận. Giáo hội Việt Nam có thể trao cho Giáo hội Hoàn Vũ. Những Thánh Tử đạo Việt Nam đã trao chứng tá. Những mục tử, thần học gia, giáo dân, tu sĩ Việt Nam cũng có thể trao kinh nghiệm, trí tuệ, đời sống thiêng liêng. Nhưng muốn trao, phải đào tạo thật.

Một Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận không từ trên trời rơi xuống. Có gia đình truyền đức tin. Có mẹ kể chuyện. Có chủng viện rèn kỷ luật. Có trường đại học đào tạo trí tuệ. Có bề trên nhận ra khả năng và dám trao trách nhiệm. Có một con người chịu học, chịu làm, chịu sửa. Nếu hôm nay chúng ta chỉ ngưỡng mộ các nhân vật lớn nhưng không đầu tư vào hệ sinh thái hình thành người, chúng ta đang muốn có trái mà không trồng cây. Tôn vinh Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận đúng nghĩa là đầu tư vào giáo dục, đào tạo chủng sinh, thường huấn linh mục, bồi dưỡng giáo dân, tạo không gian cho người trẻ học sâu, khuyến khích trí thức Công giáo dấn thân. Giáo hội không thể chỉ dựa vào vốn thánh thiện quá khứ. Mỗi thế hệ phải gieo lớp kế tiếp. Nếu hôm nay chỉ xây nhà mà không xây người, ngày mai nhà trống. Nếu chỉ tổ chức đại lễ mà không đào tạo trí tuệ, Giáo hội sẽ thiếu tiếng nói trong xã hội phức tạp. Nếu chỉ nói người trẻ là tương lai nhưng không trao trách nhiệm hiện tại, tương lai sẽ không tự xuất hiện. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận được giao làm giám mục lúc ba mươi chín tuổi bởi trước đó có một quá trình và có người dám tin. Đây là điều đáng suy nghĩ cho mọi nhà lãnh đạo: đào tạo rồi phải trao việc. Người trẻ cần cơ hội có hướng dẫn. Nếu người lớn giữ hết đến lúc yếu mới trao, người trẻ sẽ không có kinh nghiệm. Ngược lại, người trẻ cũng phải hiểu được trao việc không có nghĩa đã hoàn thiện; càng được tin càng phải học. Nơi Nguyễn Văn Thuận, khả năng học dường như không ngừng lại khi chức vụ tăng. Chính đó là dấu hiệu người trưởng thành: càng biết càng thấy điều chưa biết.

Có thể nói một trong những chủ đề đẹp nhất của đời Đức Hồng y là “không để điều đã xảy ra quyết định toàn bộ điều mình sẽ trở thành”. Điều này rất khác với phủ nhận quá khứ. Ngài không giả vờ mười ba năm chưa từng xảy ra. Ngài kể lại, viết lại, dùng kinh nghiệm ấy. Nhưng không để nó độc quyền định nghĩa mình. Đây là điều rất quan trọng cho chữa lành. Nhiều người sau một biến cố đau đớn vô tình biến vết thương thành tên gọi: “tôi là người bị phản bội”, “tôi là người thất bại”, “tôi là người bị bỏ rơi”, “tôi là bệnh nhân”. Điều xảy ra trở thành toàn bộ căn tính. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận đã bị giam nhưng không chỉ là “người tù”. Ngài còn là linh mục, giám mục, trí thức, nhà đào tạo, người Việt, người bạn, người chú, người lãnh đạo, tác giả, môn đệ Đức Kitô. Vết thương là một chương, không phải tên cuốn sách.

Đây là một bài học có sức giải phóng rất lớn. Tôi đã thất bại nhưng tôi không phải thất bại. Tôi có bệnh nhưng không chỉ là bệnh nhân. Tôi bị ai đó làm đau nhưng không phải cả đời chỉ là người bị hại. Khi con người nhớ mình lớn hơn điều đã xảy ra, tương lai mở. Đó là lý do Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận có thể bắt đầu sự nghiệp thứ hai tại Roma. Nếu tâm hồn ông vẫn sống mãi ở ngày bị bắt, ngày tự do sẽ không thực sự đến. Có những người đã ra khỏi nhà tù vật lý nhưng tiếp tục sống trong nhà tù tâm lý của quá khứ. Tự do bên ngoài vô cùng quan trọng, nhưng tự do bên trong cũng phải được xây.

Và tự do ấy không đến trong một đêm. Tha thứ là một tiến trình; hy vọng cũng vậy. Không phải sáng quyết định tha là chiều không còn đau. Không phải một lần cầu nguyện là mọi cay đắng tan. Có thể Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận cũng phải chiến đấu nhiều lần. Chính điều đó làm chứng tá thật hơn chứ không kém. Thánh thiện không phải không có đấu tranh; là không ngừng đưa cuộc đấu tranh về phía ánh sáng. Vì thế, khi người ta gọi ngài “chứng nhân hy vọng”, phải hiểu chứng nhân không phải người sở hữu cảm xúc tích cực liên tục. Chứng nhân là người đã phải chọn hy vọng trong hoàn cảnh chống lại nó. Và đây là lý do hy vọng của ngài vẫn nói được với người hôm nay. Thời đại kỹ thuật số có rất nhiều tiện nghi nhưng cũng rất nhiều lo âu: chiến tranh, biến đổi khí hậu, kinh tế, công việc, trí tuệ nhân tạo, tương lai gia đình, sự cô đơn. Người trẻ không cần nghe lời hứa “mọi thứ sẽ ổn”. Không ai có thể bảo đảm. Họ cần một dạng hy vọng có khả năng sống trong bất định. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận nói bằng chính đời mình: không cần kiểm soát hết mới có thể sống có ý nghĩa.

Điều ta không kiểm soát thì phó thác; điều nằm trong tay thì làm. Đây là công thức rất lành mạnh. Nhiều mệt mỏi của con người đến từ việc cố kiểm soát những gì ngoài tay và bỏ bê những gì trong tay. Ta lo người khác nghĩ gì nhưng không sửa thói quen mình. Lo tương lai xa nhưng không làm điều nhỏ hôm nay. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận trong tù không thể mở cửa nhà tù; nhưng có thể viết. Không thể quyết định ngày ra; nhưng có thể quyết định cách sống ngày này. Không thể điều hành giáo phận; nhưng có thể cầu nguyện cho giáo dân. Không thể thay đổi quá khứ; nhưng có thể không để quá khứ biến mình thành người cay nghiệt. Đó là hy vọng có tay chân, không phải hy vọng mơ hồ. Và đây là điều người Công giáo hôm nay cần học. Nhiều khi ta nói phó thác nhưng thực ra là thụ động. “Chúa lo” không có nghĩa mình không làm. Phó thác đúng làm người ta bớt lo phần ngoài tầm tay để làm tốt phần trong tầm tay. Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận là người của hành động. Bị giới hạn thì tìm phương tiện nhỏ. Không có giấy đẹp thì tờ lịch. Không có bục giảng thì câu suy niệm. Không có giáo phận thì phục vụ nơi khác. Không có tương lai rõ thì sống hiện tại. Chính cách sống ấy làm một cuộc đời có vẻ bị cắt thành hai lại trở thành một đường rất thống nhất.

Cuối cùng, nếu hỏi điều gì làm nên sự vĩ đại của Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận, có lẽ không thể chọn một yếu tố duy nhất. Trí tuệ quan trọng, nhưng trí tuệ không đủ. Năng lực quản trị quan trọng, nhưng quản trị không đủ. Đau khổ quan trọng trong hành trình, nhưng đau khổ tự nó không làm người ta thánh. Tước Hồng y đáng kể, nhưng chức vụ không phải nền tảng. Điều lớn nằm ở sự kết hợp: gia đình gieo đức tin, chủng viện xây kỷ luật, đại học đào luyện trí tuệ, trách nhiệm mục vụ rèn khả năng lãnh đạo, chiến tranh mở mắt ngài về những vết thương xã hội, nhà tù thử tự do bên trong, Đường Hy Vọng biến kinh nghiệm thành lời, Roma mở rộng bán kính phục vụ, bệnh tật cuối đời lại thử một lần nữa khả năng sống giây phút hiện tại. Mỗi phần dạy một điều, và ngài mang bài học của giai đoạn trước sang giai đoạn sau. Đây là một cách sống rất khôn ngoan: không ở mãi trong quá khứ nhưng không lãng phí bài học quá khứ. Khi ra khỏi tù, ngài mang theo hy vọng chứ không mang nhà tù làm căn tính. Khi rời Việt Nam, ngài mang theo tình yêu quê hương chứ không biến xa quê thành đóng cửa với thế giới. Khi đến Vatican, ngài mang kinh nghiệm Việt Nam nhưng không ngừng học môi trường mới.

Đó là trưởng thành. Và có lẽ vì thế điều đẹp nhất để nói về ngài không phải chỉ là “một người Việt được Vatican kính trọng”, mà là “một người Việt đã sống và được đào tạo đến mức quê hương mình có một món quà thật để trao cho Giáo hội Hoàn Vũ”. Món quà ấy là trí tuệ không kiêu, kỷ luật không khô cứng, đức tin không trốn đời, khả năng quản trị không đánh mất con người, lòng yêu quê hương không hóa thù hận, kinh nghiệm đau khổ không hóa cay đắng, tự do nội tâm không lệ thuộc hoàn cảnh, khả năng bắt đầu lại không bị tuổi tác khóa, và một niềm hy vọng không phải vì biết ngày mai sẽ dễ mà vì tin hôm nay vẫn có thể yêu. Nếu thế hệ trẻ Việt Nam chỉ nhớ Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận như một Hồng y từng ở tù, chúng ta kể chưa đủ. Hãy kể rằng ngài đã học rất giỏi trước khi đau khổ; đã đào tạo rất nghiêm túc trước khi bị gián đoạn; đã xây con người trước khi nói về hy vọng; đã quan tâm công lý và hòa bình trước khi đến Vatican; đã có khả năng quản trị thật chứ không chỉ có câu chuyện cảm động; đã bắt đầu lại ở tuổi mà nhiều người nghĩ mình đã quá muộn; đã làm việc với thế giới mà không đánh mất căn tính Việt Nam; đã giữ được khả năng làm người khác vui ngay trong bệnh tật; đã nói về tha thứ mà những người gần gũi không thấy một con người đầy cay đắng. Hãy kể như vậy để người trẻ hiểu thánh thiện không chống lại xuất sắc. Người Công giáo không được chọn giữa học giỏi và sống đạo, giữa chuyên nghiệp và cầu nguyện, giữa yêu Giáo hội và quan tâm xã hội. Một người có thể là tất cả nếu đời sống được thống nhất quanh điều cốt lõi. Và hãy nói với những ai đang thất vọng rằng Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận  không phải bằng chứng mọi đau khổ sẽ dẫn đến tước vị lớn. Không có lời hứa ấy. Nếu ngài không bao giờ trở thành Hồng y, sự trung thành trong những năm tù vẫn có giá trị. Điều đáng học không phải công thức “chịu đau rồi sẽ được bù”. Điều đáng học là: đừng trao câu cuối cho tuyệt vọng. Đừng để một thất bại viết toàn bộ tiểu sử. Đừng để một người đã làm đau mình quyết định nhân cách mình. Đừng chờ hoàn cảnh hoàn hảo mới yêu. Đừng nghĩ sáu mươi tuổi là quá muộn để bắt đầu một sứ mạng mới. Đừng nghĩ điều nhỏ không đáng làm. Một tờ lịch có thể thành sách. Một câu viết trong đêm có thể đến với nhiều quốc gia. Một người mẹ kể chuyện các thánh có thể gieo hạt cho một chứng nhân mà hàng chục năm sau thế giới mới hiểu. Một chủng sinh học kỷ luật hôm nay có thể nhờ kỷ luật ấy mà đứng vững trước khủng hoảng ba mươi năm sau. Một linh mục học nghiêm túc hôm nay có thể một ngày được giao những trách nhiệm mà chính mình không tưởng tượng. Không việc tốt nào được sống thật sự là hoàn toàn vô ích.

Có những hạt nằm rất lâu dưới đất. Có những câu chuyện chỉ cuối đời mới thấy bố cục. Năm 1975 nếu kết tiểu sử Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận ở đó, người ta có thể viết: một giám mục trẻ đầy triển vọng bị cắt ngang. Năm 1988: một người vừa ra khỏi mười ba năm giam giữ. Năm 1991: một mục tử sống xa quê. Năm 1998: người đứng đầu một cơ quan của Tòa Thánh. Năm 2001: Hồng y. Cùng một đời nhưng nếu dừng ở từng trang, kết luận khác nhau.

Vì vậy, một người đang ở giữa trang khó đừng vội tuyên bố cuốn sách đã hết. Có thể không có chức lớn, không có sự đảo ngược ngoạn mục, nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc chỉ vì hôm nay đau. Chừng nào còn khả năng yêu, còn khả năng cầu nguyện, còn khả năng học, còn khả năng làm một việc đúng, chừng ấy vẫn còn sứ mạng. Đây có lẽ là điều sâu nhất François-Xavier Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận để lại. Người ta có thể lấy khỏi con người rất nhiều thứ, nhưng không dễ lấy được phẩm giá nếu người ấy không tự trao nó. Có thể lấy một vị trí nhưng không lấy được ơn gọi. Có thể lấy những năm tháng nhưng không lấy được khả năng biến chúng thành ý nghĩa. Có thể khóa cánh cửa bên ngoài nhưng không hoàn toàn khóa được cánh cửa tâm hồn. Có thể làm một người xa quê nhưng không lấy quê hương khỏi lòng họ. Có thể gây đau nhưng không buộc được người ấy phải hận.

Và vì thế, sự lớn lao của Đức Hồng y François-Xavier Nguyễn Văn Thuận không nằm ở chỗ chưa từng bị đánh gục, mà ở chỗ sau những điều có thể làm một con người gục, ngài không đồng ý để điều ấy trở thành định nghĩa cuối cùng. Không nằm ở chỗ mọi cánh cửa luôn mở, mà ở chỗ khi những cánh cửa quan trọng nhất đóng lại, ngài vẫn tìm một cách khác để yêu và phục vụ. Không nằm ở chỗ cuộc đời diễn ra đúng kế hoạch, mà ở chỗ khi kế hoạch tan, đời vẫn được dâng. Đó là hy vọng Kitô giáo: không phải tin mọi chuyện sẽ diễn ra như mình muốn, mà tin rằng ngay khi điều mình muốn không xảy ra, Thiên Chúa vẫn có thể làm cho cuộc đời sinh hoa trái nếu mình không đóng cửa với tình yêu.

Từ Phú Cam đến chủng viện, từ Huế đến Roma, từ Nha Trang đến bước ngoặt năm 1975, từ những năm cô lập đến những tờ lịch cũ, từ tự do đến một sứ mạng quốc tế, từ vị giám mục Việt Nam đến vị Hồng y được Giáo hội Hoàn Vũ kính trọng, chỉ có một sợi chỉ đi xuyên suốt: một con người không ngừng học, không ngừng phục vụ, không ngừng bắt đầu lại và không ngừng chọn hy vọng. Vì thế, nếu chỉ được giữ lại một câu cho đời ngài, có lẽ có thể nói thế này: đừng để điều đã mất quyết định giá trị của điều còn lại; đừng để quá khứ khóa tương lai; đừng đợi hoàn cảnh hoàn hảo mới sống; hãy sống giây phút hiện tại với tất cả tình yêu, trí tuệ và trách nhiệm mình có thể trao, bởi đôi khi phần lớn nhất của một đời người lại bắt đầu ngay sau thời điểm họ tưởng mọi sự đã kết thúc.

Lm. Anmai, CSsR

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập477
  • Máy chủ tìm kiếm2
  • Khách viếng thăm475
  • Hôm nay115,038
  • Tháng hiện tại2,004,914
  • Tổng lượt truy cập116,165,691
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây