“Đường Hy Vọng” được viết trong đêm tối như thế nào? [Phần 3]

Thứ sáu - 24/04/2026 08:48
Có những bài giảng kết thúc bằng một ý chính. Có những bài suy niệm kết thúc bằng một lời mời gọi. Nhưng cũng có những hành trình thiêng liêng mà phần kết không phải là một đoạn chốt lại, mà là một cánh cửa mở ra rất sâu vào lòng người. Câu chuyện về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận và “Đường Hy Vọng” là một hành trình như thế.
road of hope 2

Có những cuốn sách được viết ra cho một thời. Có những lời được nói ra cho một hoàn cảnh. Có những bài giảng được thốt lên cho một cộng đoàn rồi dừng lại ở đó. Nhưng cũng có những lời không dừng ở một thời, không khép trong một biến cố, không cũ đi cùng năm tháng, bởi vì nó chạm vào chính những gì căn bản nhất của đời sống con người trước mặt Thiên Chúa. “Đường Hy Vọng” là một lời như thế. Được viết trong cảnh ngục tù, nhưng không bị nhốt lại trong ngục tù. Được sinh ra từ một biến cố rất riêng, nhưng không bị gói lại trong tiểu sử của một cá nhân. Nó đã đi ra. Nó đã bước qua biên giới của một thời cuộc. Nó đã chạm đến biết bao tâm hồn thuộc những hoàn cảnh rất khác nhau. Và chính vì thế, càng suy niệm, ta càng thấy “Đường Hy Vọng” không chỉ là một tập suy niệm thiêng liêng, không chỉ là chứng từ của một vị mục tử, mà còn như một thứ di chúc thiêng liêng. Một di chúc không phải để chia gia tài vật chất, nhưng để trao lại một gia sản nội tâm. Một di chúc không phải viết trong giờ bình yên, mà được gạn ra từ đau khổ, từ cầu nguyện, từ thử thách, từ trung tín, từ Thánh Thể, từ những đêm dài không đầu hàng tuyệt vọng. Và vì thế, di chúc ấy có giá trị đặc biệt cho Hội Thánh hôm nay, cho linh mục, cho tu sĩ, cho giáo dân, cho người trẻ, cho gia đình Công giáo, cho bất cứ ai đang muốn biết phải sống thế nào cho khỏi tắt lửa giữa một thời đại rất nhiều thử thách.

Ta nên dừng lại thật lâu ở chữ “di chúc”. Vì di chúc là thứ người ta chỉ viết khi biết điều gì là thật sự quan trọng. Khi đứng trước những gì không còn bền, người ta mới thấy điều gì bền. Khi đã đi qua những lần bị lấy mất, người ta mới biết điều gì không thể để mất. Khi đứng trước sự mong manh của thân phận, người ta mới nhận ra đâu là phần cốt lõi mà mình muốn để lại cho những người đến sau. Và nếu đọc “Đường Hy Vọng” với trái tim của một người đang lắng nghe di chúc thiêng liêng, ta sẽ thấy nơi đó không phải trước hết là những lời đạo đức đẹp đẽ, nhưng là một sự kết tinh của điều sống còn. Như thể Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đang nói với chúng ta: nếu có một điều các con phải giữ, thì hãy giữ Chúa; nếu có một điều các con đừng đánh mất, thì đừng đánh mất hy vọng; nếu có một điều các con phải học, thì hãy học sống hiện tại với tình yêu; nếu có một điều các con phải chiến đấu, thì hãy chiến đấu để trái tim đừng biến thành tù ngục; nếu có một điều các con phải nhớ, thì hãy nhớ rằng nên thánh không ở xa, nó nằm trong chính việc trung tín từng ngày với Chúa.

Đọc như thế, ta mới thấy “Đường Hy Vọng” không thuộc riêng về một bậc sống. Nó là lời dành cho cả Hội Thánh. Nhưng trong lòng Hội Thánh, mỗi bậc sống lại có thể nghe di chúc ấy theo cách rất riêng của mình.

Trước hết, “Đường Hy Vọng” là một di chúc thiêng liêng rất sâu cho linh mục.

Bởi vì linh mục là người được trao một ơn gọi rất đẹp, nhưng cũng rất dễ bị bào mòn nếu không sống từ nguồn. Có những người nhìn linh mục từ bên ngoài, chỉ thấy công việc, thánh lễ, bí tích, bài giảng, sinh hoạt, trách nhiệm, hiện diện mục vụ. Nhưng đời sống linh mục ở nơi sâu nhất không được giữ bằng công việc. Nó được giữ bằng tương quan với Chúa. Nếu mối tương quan ấy yếu, người linh mục có thể vẫn tiếp tục làm rất nhiều điều, nhưng bên trong dần cạn. Có thể vẫn giảng, nhưng lời mất lửa. Có thể vẫn dâng lễ, nhưng trái tim không còn run trước mầu nhiệm. Có thể vẫn bận rộn, nhưng bận rộn trở thành chỗ trốn khỏi sự nghèo nội tâm. Có thể vẫn được quý mến, nhưng một lời khen chê lại làm lòng chao đảo quá mức. Có thể vẫn có hình ảnh tốt, nhưng sâu trong lòng lại mỏi, cô đơn, không còn nếm được niềm vui thuộc trọn về Chúa.

Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận, bằng chính cuộc đời bị cắt đứt khỏi nhiều hình thức thi hành sứ vụ quen thuộc, dường như để lại cho linh mục một lời nhắc rất mạnh: con đừng đồng hóa căn tính linh mục của con chỉ với công việc linh mục. Nếu một ngày nào đó Chúa lấy đi khỏi con những hoạt động, những vị trí, những khả năng thi hành thông thường, con còn là linh mục không? Nếu một ngày sức khỏe yếu đi, hoàn cảnh thay đổi, môi trường mục vụ không còn như ý, giáo dân không hiểu, cộng tác viên không đồng hành, con còn giữ được lửa không? Nếu không còn nhiều thành quả để nhìn thấy, con còn biết quỳ trước Chúa như một người nghèo không? Nếu bàn tay không làm được như trước, trái tim con còn thuộc về Chúa không?

“Đường Hy Vọng” như một lời dặn rất thẳm sâu cho linh mục: đừng để mình bị định nghĩa quá nhiều bởi hiệu quả, bởi vai trò, bởi sự thành công mục vụ, bởi hình ảnh mình trong mắt người khác. Hãy cắm rễ trong Chúa. Hãy yêu Thánh Thể hơn cả những thành quả từ bàn thờ. Hãy để giờ cầu nguyện là nơi không ai thấy nhưng lại quyết định tất cả. Hãy giữ lấy tự do nội tâm để khi bị hiểu lầm, con không thành cay nghiệt; khi bị mệt, con không đánh mất dịu dàng; khi bị thiếu nâng đỡ, con không bỏ rơi tương quan với Chúa; khi thấy mình bất lực, con không đồng hóa bất lực với vô nghĩa. Linh mục nào sống như thế sẽ mang một sự vững khác. Không phải thứ vững của người không bao giờ đau, nhưng là thứ vững của người biết đặt nỗi đau vào tay Chúa.

Cùng với linh mục, “Đường Hy Vọng” cũng là một di chúc thiêng liêng rất đẹp cho tu sĩ.

Đời sống thánh hiến là đời sống được mời gọi làm chứng rằng Chúa là đủ. Nhưng làm chứng điều ấy không hề dễ, bởi vì người tu sĩ vẫn mang trái tim con người với biết bao giới hạn, khát vọng, tổn thương, thử thách, cô đơn, nhu cầu được hiểu, được yêu, được sinh hoa trái. Có những lúc đời sống cộng đoàn không dễ dàng. Có những lúc sự đơn điệu của nhịp sống làm lòng nguội. Có những lúc nhiệt tình ban đầu phai nhạt. Có những lúc người tu sĩ cảm thấy mình bị hiểu lầm, bị bỏ quên, bị kẹt trong những việc nhỏ, trong những giới hạn của chính cộng đoàn mình. Có những lúc lời khấn vẫn còn đó, áo dòng vẫn còn đó, nhưng lửa lòng thì mỏng dần mà chính mình không hay.

Chính ở đây, “Đường Hy Vọng” như một lời đánh thức: người tu sĩ không được sống bằng hình thức của ơn gọi, nhưng bằng trung tâm của ơn gọi là Chúa. Không phải chỉ giữ nếp sống, nhưng giữ lửa. Không phải chỉ trung thành với khuôn khổ, nhưng trung thành với Đấng mình đã hiến thân cho. Một tu sĩ có thể làm việc rất đều, rất chuẩn, rất đúng, nhưng nếu không sống từ một tình yêu ngày càng sâu với Chúa, đời sống thánh hiến sẽ dần trở thành một mái nhà không còn ánh lửa. Còn nếu thật sự bám vào Chúa, thì ngay cả trong những ngày rất bình thường, rất khuất lấp, rất ít ai biết tới, người tu sĩ vẫn đang sống một sự phong nhiêu sâu xa.

Đức Hồng y Thuận dường như để lại cho đời sống thánh hiến một lời nhắn này: hãy để cho thử thách thanh luyện ơn gọi, chứ đừng để thử thách làm khép ơn gọi. Hãy để những lúc cô đơn dẫn mình vào sâu hơn với Chúa, chứ đừng đẩy mình vào tự thương hại. Hãy để những giới hạn của cộng đoàn rèn luyện lòng bác ái, thay vì nuôi âm thầm những bản án trong tim. Hãy sống lời khấn không như một khung luật bên ngoài, nhưng như một con đường tự do bên trong. Nghèo khó để trái tim không bám vào những thứ mau qua. Khiết tịnh để trái tim mở rộng cho tình yêu Chúa và tha nhân. Vâng phục để cái tôi không ngồi vào chỗ của Chúa. Nếu sống như thế, người tu sĩ sẽ không chỉ “giữ tu”, mà thật sự trở thành người thuộc trọn về Thiên Chúa.

Rồi “Đường Hy Vọng” là một di chúc thiêng liêng quý giá cho giáo dân.

Nhiều khi trong Giáo Hội, giáo dân tự nghĩ rằng những con đường cao của sự thánh thiện chắc dành cho linh mục, tu sĩ, còn đời mình thì quá bận, quá rối, quá gắn với cơm áo, con cái, công việc, tiền bạc, bệnh tật, nên chỉ mong giữ đạo cho vừa đủ. Nhưng “Đường Hy Vọng” phá vỡ suy nghĩ ấy. Nó nói với giáo dân rằng nên thánh không đòi phải ra khỏi đời thường, nhưng đòi đem Chúa vào chính đời thường. Một người nội trợ giữa bao bữa cơm, chợ búa, lau dọn, chăm con, nếu sống những điều ấy với tình yêu, với bình an, với lời cầu nguyện âm thầm, đang đi trên đường nên thánh. Một người công nhân đổ mồ hôi lao động, nếu giữ lương tâm ngay thẳng, không gian dối, không cay cú, biết dâng nỗi mệt của mình cho Chúa, đang đi trên đường nên thánh. Một người bệnh phải nằm lâu trên giường, nếu biết hiến dâng đau bệnh và không để đau bệnh làm mình hóa chua chát, đang đi trên đường nên thánh. Một người cha lo toan gia đình, nếu giữ được sự trung thực và lòng dịu với vợ con giữa bao áp lực, đang đi trên đường nên thánh.

“Đường Hy Vọng” như nói với người giáo dân: con đừng đợi đời bớt rối mới sống đẹp. Con đừng nghĩ rằng chỉ khi nào hết khó khăn mới có thể gần Chúa. Chính nơi áp lực, nơi cơm áo, nơi bệnh tật, nơi lo âu về con cái, nơi va chạm trong hôn nhân, nơi thử thách của bổn phận hằng ngày, Chúa đang đợi con. Con không cần làm những điều lớn lao để thuộc về Chúa. Con chỉ cần đừng để lòng mình tắt giữa những điều nhỏ. Hãy giữ giờ cầu nguyện ngắn mà thật. Hãy giữ Thánh Lễ như trung tâm. Hãy tập nói nhẹ. Hãy tập tha thứ. Hãy tập không để tiền bạc thành ông chủ của tâm hồn. Hãy tập biết ơn. Hãy tập trở về sau mỗi lần ngã. Giáo dân sống như thế là đang viết tiếp “Đường Hy Vọng” giữa chợ đời.

Với người trẻ, “Đường Hy Vọng” lại càng là một di chúc thiêng liêng khẩn thiết.

Bởi vì chưa bao giờ người trẻ bị bao vây bởi nhiều tiếng gọi như hôm nay. Tiếng gọi của thành công. Tiếng gọi của hưởng thụ. Tiếng gọi của hình ảnh. Tiếng gọi của sự nổi bật. Tiếng gọi của việc phải nhanh, phải nhiều, phải được thấy, phải được thích, phải theo kịp đám đông. Tâm hồn người trẻ hôm nay rất dễ bị chia nhỏ. Họ có nhiều cơ hội, nhưng cũng nhiều lạc hướng. Họ muốn ý nghĩa, nhưng lại bị kéo vào những gì quá ngắn hạn. Họ muốn tự do, nhưng nhiều khi lại bị cột bởi những nghiện ngập mới của thời đại: nghiện màn hình, nghiện so sánh, nghiện phấn khích, nghiện cảm xúc tức thì, nghiện việc luôn phải xuất hiện. Trong bối cảnh ấy, “Đường Hy Vọng” như một lời rất khác với nhịp của thế giới. Nó bảo người trẻ rằng: đừng sợ chậm, hãy sợ sống mà không có chiều sâu. Đừng sợ nhỏ, hãy sợ đánh mất linh hồn. Đừng sợ thua mắt đời, hãy sợ thắng cả thế gian mà lòng rỗng trước mặt Chúa. Đừng đợi đến khi đời tan nát mới học hy vọng. Hãy để Chúa trở thành trung tâm ngay từ bây giờ.

Người trẻ cần nghe điều ấy, vì tuổi trẻ dễ mơ, nhưng cũng dễ vỡ. Dễ hứa, nhưng cũng dễ nản. Dễ cháy, nhưng cũng dễ tắt. “Đường Hy Vọng” không dạy người trẻ một thứ anh hùng lãng mạn. Nó dạy một con đường bền: trung tín với điều nhỏ, cầu nguyện thật, yêu Thánh Thể, giữ nội tâm tự do, biết bắt đầu lại, biết không đồng hóa giá trị bản thân với sự thành bại trước mắt. Nó nói với người trẻ rằng con không cần đợi đến khi thành công mới sống có ý nghĩa. Con có thể sống ý nghĩa ngay từ những lựa chọn nhỏ hôm nay: giữ tâm hồn trong sạch, trung thành với bổn phận, tử tế với cha mẹ, không bán mình cho những thú vui rẻ tiền, biết ngồi yên với Chúa, biết nói không với điều xấu, biết nói có với sự thật, biết chấp nhận mình là ai trước mặt Chúa. Một người trẻ sống được như thế sẽ là hy vọng lớn cho Giáo Hội hơn nhiều so với một người nổi bật mà nội tâm trống rỗng.

Còn với gia đình Công giáo, “Đường Hy Vọng” là một di chúc thiêng liêng vừa dịu dàng vừa nghiêm túc.

Gia đình hôm nay bị thử thách rất nhiều. Có những áp lực kinh tế. Có những khoảng cách thế hệ. Có những đổ vỡ do mạng xã hội, do nhịp sống vội, do mệt mỏi tích tụ. Có những gia đình bên ngoài vẫn đủ đầy nhưng bên trong lạnh. Có những gia đình không thiếu cơm áo nhưng thiếu cầu nguyện. Có những gia đình nói chuyện rất nhiều nhưng không còn lắng nghe nhau. Có những gia đình đi lễ chung nhưng không sống đức tin chung. Có những mái nhà mà mỗi người sống với chiếc điện thoại riêng, nỗi buồn riêng, góc tối riêng, và chẳng ai thật sự chạm vào nhau. Trong bối cảnh ấy, “Đường Hy Vọng” như một lời gọi cả gia đình trở về với điều cốt lõi.

Nó nói với các gia đình rằng: đừng chờ đến lúc sóng to mới nghĩ đến Chúa. Hãy để Chúa ở giữa nhà mình từ hôm nay. Đừng coi việc cầu nguyện chung là chuyện phụ. Đừng coi bữa cơm gia đình là điều có cũng được, không cũng được. Đừng coi việc tha thứ trong nhà là chuyện nhỏ. Đừng để những câu nói nặng tích lại thành bức tường. Đừng để nhà mình có đủ mọi thứ mà thiếu bình an. Hãy để “Đường Hy Vọng” đi vào mái ấm bằng những điều rất cụ thể: một kinh tối chung, một lần xin lỗi thật lòng, một thói quen bớt la mắng, một nỗ lực nghe nhau hơn, một quyết định đưa Chúa trở lại vị trí trung tâm. Bởi vì gia đình không được cứu trước hết bằng những kế hoạch thật lớn. Nhiều khi gia đình được cứu bằng những việc nhỏ làm đều với lòng mến.

Với người cha, di chúc ấy như nhắc: đừng chỉ là người đem tiền về, hãy là người giữ tinh thần trong nhà. Với người mẹ, di chúc ấy như nói: đừng chỉ lo bữa ăn, hãy giữ lửa đức tin trong mái ấm. Với con cái, di chúc ấy như mời: đừng chỉ đòi được hiểu, hãy tập hiểu cha mẹ. Với cả nhà, di chúc ấy như khẩn khoản: đừng để những mệt mỏi của thời đại cướp mất linh hồn gia đình. Hãy cùng nhau giữ một khoảng thánh trong nhà. Hãy để nhà mình không chỉ là nơi ở, nhưng là nơi Chúa ở.

Nếu nhìn rộng hơn nữa, ta sẽ thấy “Đường Hy Vọng” như một di chúc thiêng liêng cho cả Hội Thánh Việt Nam hôm nay.

Một Hội Thánh sống giữa nhiều thay đổi. Một Hội Thánh có những niềm vui, nhưng cũng những lo âu. Một Hội Thánh có nhiều hoạt động, nhưng luôn cần trở về chiều sâu. Một Hội Thánh có thể bị cám dỗ bởi bề ngoài, bởi số lượng, bởi hiệu quả, bởi hình thức, nhưng rất cần nhớ rằng sức sống thật của mình không đến từ chỗ ấy. Sức sống thật đến từ những con người âm thầm mà trung tín. Từ các linh mục còn giữ giờ chầu. Từ các tu sĩ còn sống vui với ơn gọi. Từ các gia đình còn đọc kinh chung. Từ các giáo dân còn biết xưng tội, rước lễ, làm việc bác ái. Từ những người trẻ dám đi ngược đám đông để giữ mình cho Chúa. Từ những người già lần chuỗi cho con cháu. Từ những tâm hồn không để mình hóa chua vì thất vọng. Từ những người vẫn viết tiếp hy vọng trong âm thầm.

Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận dường như muốn nhắn Hội Thánh điều này: các con đừng sợ mình nghèo phương tiện, chỉ sợ nghèo lửa. Đừng sợ thử thách, chỉ sợ đánh mất Chúa trong thử thách. Đừng sợ bị hiểu lầm, chỉ sợ trái tim khô cứng. Đừng sợ đêm tối, chỉ sợ sống trong đêm tối mà không còn cầu nguyện. Đừng sợ nhỏ bé, chỉ sợ ngưng yêu trong điều nhỏ. Đó là một di chúc rất đơn sơ, nhưng càng đơn sơ càng đi thẳng vào chỗ cốt lõi.

Và có lẽ, điều đẹp nhất của một di chúc thiêng liêng là nó không chỉ để người ta ngưỡng mộ, mà để người ta thi hành. Một di chúc mà chỉ đọc cho cảm động thì vẫn chưa trọn ý người để lại. “Đường Hy Vọng” cũng thế. Nếu ta chỉ khen hay, chỉ cảm phục, chỉ trích dẫn, mà không đem vào đời sống, thì cuốn sách vẫn còn đứng ở ngoài cửa đời ta. Nhưng nếu hôm nay một linh mục quyết giữ Chúa hơn công việc, một tu sĩ quyết trở lại với lửa ban đầu, một giáo dân quyết sống hiện tại với tình yêu, một người trẻ quyết không bán linh hồn cho những hào nhoáng mau qua, một gia đình quyết đặt lại Chúa vào trung tâm mái ấm, thì lúc đó di chúc ấy đang được thi hành. Lúc đó “Đường Hy Vọng” đang sống. Lúc đó Đức Hồng y Thuận vẫn đang nói, không phải chỉ qua trang giấy, nhưng qua chính những tâm hồn biết để lời ấy thành máu thịt của đời mình.

Có lẽ ở phần này, cha có thể dẫn cộng đoàn đến một chỗ rất cảm động: mỗi người hãy tự hỏi mình đang nhận phần nào của di chúc ấy. Tôi là linh mục, tôi sẽ giữ điều gì? Tôi là tu sĩ, tôi sẽ trở về điều gì? Tôi là giáo dân, tôi sẽ thay đổi điều gì? Tôi là người trẻ, tôi sẽ can đảm từ chối điều gì và trung thành với điều gì? Tôi là cha, là mẹ, tôi sẽ đem Chúa trở lại vào nhà mình bằng cách nào? Nếu mỗi người trả lời thật, đại bài này sẽ không chỉ là một bài nghe cho thấm, mà có thể thành một khúc ngoặt.

Vì sau cùng, “Đường Hy Vọng” không chỉ dạy người ta làm sao sống sót qua đêm. Nó dạy làm sao để sau đêm ấy, linh hồn mình vẫn còn thuộc về Chúa, vẫn còn mềm, vẫn còn sáng, vẫn còn có thể trao cho người khác một con đường. Và đó chính là di sản đẹp nhất mà một đời mục tử có thể để lại: không phải chỉ là những công trình, nhưng là một ngọn lửa. Không phải chỉ là ký ức, nhưng là một lối sống. Không phải chỉ là một tên tuổi đáng kính, nhưng là một con đường mà người khác còn có thể bước theo để khỏi lạc giữa thời đại mình.

Xin Chúa cho chúng ta biết đón nhận “Đường Hy Vọng” như đón nhận một di chúc thiêng liêng quý giá. Xin cho các linh mục biết đặt Chúa ở trung tâm sâu hơn mọi hiệu quả mục vụ. Xin cho các tu sĩ biết giữ lửa ơn gọi bằng tình yêu âm thầm mà bền bỉ. Xin cho giáo dân biết tìm đường nên thánh ngay trong đời thường của mình. Xin cho người trẻ biết chọn chiều sâu hơn là hào nhoáng. Xin cho các gia đình Công giáo biết giữ cho mái nhà mình một khoảng thánh, nơi Chúa được ở, được yêu, được lắng nghe. Và xin cho Hội Thánh hôm nay, giữa bao biến chuyển, vẫn không quên rằng điều làm mình sống không phải là sức mạnh bên ngoài, nhưng là ngọn lửa bên trong, ngọn lửa của đức tin, của hy vọng, của tình yêu, ngọn lửa đã được Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trao lại cho chúng ta qua chính “Đường Hy Vọng.”

TẠM KẾT 

Sau tất cả những gì chúng ta đã cùng nhau đi qua, có lẽ lúc này không còn là lúc để nói thêm thật nhiều, nhưng là lúc để cho những điều đã nghe lắng xuống thật sâu. Có những bài giảng kết thúc bằng một ý chính. Có những bài suy niệm kết thúc bằng một lời mời gọi. Nhưng cũng có những hành trình thiêng liêng mà phần kết không phải là một đoạn chốt lại, mà là một cánh cửa mở ra rất sâu vào lòng người. Câu chuyện về Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận và “Đường Hy Vọng” là một hành trình như thế. Càng đi đến cuối, ta càng cảm thấy mình không thực sự “kết thúc” được. Bởi vì điều đã được viết ra trong đêm tối ấy không phải là một câu chuyện để đọc cho xong. Nó giống như một hạt giống đã rơi vào lòng Giáo Hội, và hạt giống ấy vẫn còn đang âm thầm nảy mầm trong biết bao đời sống.

Có lẽ, nếu phải gom tất cả lại trong một cảm thức duy nhất, thì đó là sự bàng hoàng thinh lặng trước điều này: con người ta có thể bị lấy mất rất nhiều, nhưng vẫn không bị lấy mất tất cả, nếu còn giữ được Chúa. Câu đó nghe rất đơn sơ. Nhưng để sống được câu đó, người ta phải đi qua một cuộc thanh luyện rất sâu. Bởi vì tự nhiên, chúng ta hay nghĩ đời mình đứng được nhờ những gì mình đang có: sức khỏe, công việc, những tương quan, một chỗ đứng, một chút bảo đảm, một nhịp sống quen thuộc, một cộng đoàn nâng đỡ, một số người hiểu mình, một tương lai mình còn hình dung được. Ta sống giữa những điều ấy lâu đến nỗi nhiều khi không còn biết đâu là cốt lõi, đâu là phần phụ. Rồi một biến cố đến, hay một thử thách kéo dài, hay một vết thương nào đó mở ra, và ta bắt đầu thấy mình mong manh hơn ta tưởng. Chính lúc ấy, chứng từ của Đức Hồng y Thuận bừng lên như một ngọn đèn không chói, nhưng rất thật. Ngọn đèn ấy không nói rằng đau khổ là dễ. Không nói rằng thử thách không làm người ta run. Không nói rằng bóng tối là chuyện nhỏ. Nhưng ngọn đèn ấy nói điều này: đêm tối không có quyền quyết định ý nghĩa cuối cùng của đời con.

Đó là điều rất lớn.

Vì thật ra, có biết bao người đang sống mà trong lòng đã ngầm đầu hàng một kết luận sai: rằng đời tôi thế là hết; rằng chuyện này không cứu được; rằng tôi không thay đổi nổi; rằng gia đình tôi chẳng bao giờ lành lại; rằng vết thương này sẽ mãi định nghĩa tôi; rằng đức tin của tôi không thể sống lại; rằng tuổi già này chỉ còn chờ tàn; rằng những gì đã xảy ra đủ để khép lại mọi hy vọng. Những kết luận ấy thường không được nói lớn. Chúng nằm sâu. Chúng hiện ra bằng sự nguội. Bằng một ánh mắt bớt sáng. Bằng một giọng nói hết mong đợi. Bằng thói quen sống cho qua ngày. Bằng sự cầu nguyện không còn tin. Bằng những lời than như một thứ hơi thở thường trực. Bằng việc người ta vẫn làm đủ mọi chuyện nhưng không còn thật sự sống từ bên trong nữa.

Và chính ở đó, “Đường Hy Vọng” xuất hiện như một lời chống lại cái chết âm thầm ấy.

Không ồn ào. Không làm người ta choáng ngợp. Nhưng như một bàn tay đặt lên vai người đang ngã quỵ mà nói: con đừng tắt. Chỉ thế thôi, mà đủ lớn. Chỉ thế thôi, mà đủ cứu một đêm dài. Có lẽ cái đẹp sâu nhất của “Đường Hy Vọng” không phải là những tư tưởng cao siêu, mà là việc nó làm cho một người ở giữa đêm tối vẫn dám tin rằng ngọn lửa nhỏ vẫn đáng giữ. Bởi vì trong giờ thử thách, điều ma quỷ muốn không phải lúc nào cũng là xúi ta làm điều xấu lớn. Nhiều khi nó chỉ cần làm cho ta buông. Buông cầu nguyện. Buông hy vọng. Buông việc trở lại. Buông sự dịu dàng. Buông lòng tin vào người khác. Buông luôn cả khả năng bắt đầu lại. Chỉ cần buông như thế, linh hồn sẽ từ từ lịm đi. Đức Hồng y Thuận đã không buông. Và bởi vì ngài không buông, biết bao người sau này được cứu khỏi sự buông xuôi của chính mình.

Càng nhìn lại toàn bộ hành trình ấy, ta càng thấy rõ một nghịch lý rất Tin Mừng: chính nơi bị giới hạn nhất, ngài lại để cho tự do sâu nhất nở hoa. Chính trong nơi bị nhốt, một con đường lại được mở ra. Chính trong chỗ người ta tưởng chỉ còn sự vô ích, một gia sản thiêng liêng lại được trao lại cho Hội Thánh. Chính khi bị cắt khỏi bao điều quen thuộc, điều cốt lõi nhất lại hiện lên rõ nhất. Đó là Chúa. Đó là Thánh Thể. Đó là sự hiện diện không ai lấy mất được. Đó là tự do nội tâm không quyền lực nào khóa nổi. Đó là khả năng tha thứ. Đó là việc sống trọn giây phút hiện tại với tình yêu. Đó là việc không đợi đến khi hết tối rồi mới bắt đầu sống đẹp.

Nếu phải nói thật sâu hơn một bước nữa, thì có lẽ phần kết này phải đi đến một xác tín rất lặng mà rất mạnh: “Đường Hy Vọng” không chỉ kể cho ta nghe Đức Hồng y Thuận đã sống thế nào. Nó đang hỏi ta sẽ sống thế nào.

Tôi sẽ sống thế nào khi đời không đi theo kế hoạch của tôi?

Tôi sẽ sống thế nào khi lời cầu nguyện chưa được đáp theo cách tôi muốn?

Tôi sẽ sống thế nào khi bị hiểu lầm?

Tôi sẽ sống thế nào khi không còn được công nhận?

Tôi sẽ sống thế nào khi gia đình có những vết nứt?

Tôi sẽ sống thế nào khi tuổi già đến và sức lực đi xuống?

Tôi sẽ sống thế nào khi thấy mình bất lực trước một người thân, một đứa con, một hoàn cảnh không sửa được?

Tôi sẽ sống thế nào khi chính tôi phải đi qua đêm tối đức tin?

Tôi sẽ sống thế nào để bóng tối không đi vào tim như một ông chủ?

Đó mới là những câu hỏi mà phần kết này muốn để lại. Bởi vì mọi suy niệm, nếu không dẫn người nghe về chỗ đối diện thật với đời mình, thì cũng chỉ dừng ở mức đẹp.

Có lẽ lúc này, cha có thể hình dung trước mặt mình không còn là một cộng đoàn đông người nữa, nhưng là những tâm hồn cụ thể. Một người mẹ già đang âm thầm đau vì con cái xa Chúa. Một người chồng đang mang gánh nặng kinh tế và càng ngày càng ít nói. Một người vợ đi lễ đều nhưng trong lòng rất mỏi vì hôn nhân lạnh. Một người trẻ đang sống giữa vô vàn hấp dẫn nhưng rất trống rỗng. Một tu sĩ đang giữ nếp sống mà lửa bên trong đã nhỏ đi. Một linh mục đang mệt vì sứ vụ, vì cô đơn, vì những điều không ai thấy. Một người già sợ mình trở nên vô dụng. Một người bệnh nằm lâu thấy đời mình như bị bỏ sang bên. Một người đã phạm đi phạm lại một lỗi cũ và bắt đầu nghĩ rằng mình chẳng còn xứng với Chúa nữa. Một người đã từng bị tổn thương trong Giáo Hội nên lòng cứ giữ khoảng cách. Một người mang nỗi buồn nhiều năm chưa gọi thành tên. Nếu nhìn cộng đoàn như thế, ta sẽ thấy “Đường Hy Vọng” không xa vời nữa. Nó chạm đúng vào từng chỗ đau ấy. Nó không giải quyết mọi chuyện ngay. Nhưng nó làm một điều rất quan trọng: nó đưa Chúa trở lại vào chính chỗ đau ấy.

Và khi Chúa được đưa trở lại vào chỗ đau, mọi sự bắt đầu khác.

Không phải vì vết thương biến mất ngay. Nhưng vì vết thương không còn bị bỏ một mình.

Không phải vì hoàn cảnh đổi liền. Nhưng vì hoàn cảnh không còn là tiếng nói duy nhất.

Không phải vì người ta hết khóc. Nhưng vì nước mắt không còn rơi trong vô nghĩa.

Không phải vì đêm tối ngắn lại ngay. Nhưng vì trong đêm đã có sự hiện diện.

Không phải vì người ta mạnh lên theo kiểu thế gian. Nhưng vì người ta mềm đi trong bàn tay Chúa mà không tan vỡ.

Đây chính là chỗ làm cho phần kết này phải đi vào cầu nguyện nhiều hơn là phân tích. Vì rốt cuộc, điều cứu Đức Hồng y Thuận không phải là một hệ thống ý tưởng. Điều cứu ngài là tương quan với Chúa. Và điều sẽ cứu chúng ta cũng thế. Chúng ta có thể đọc nhiều, hiểu nhiều, nghe nhiều, nói nhiều. Nhưng đến một lúc nào đó, trong đêm thật của đời mình, thứ còn lại không phải là số ý ta nhớ được, mà là ta có ở với Chúa hay không. Ta có biết ngồi lại với Người trong đêm ấy không. Ta có để Người đi vào căn phòng tối nhất của lòng mình không. Ta có còn dám nói: “Lạy Chúa, con không hiểu, nhưng con vẫn ở đây với Chúa” không. Chính ở chỗ đó, hy vọng không còn là một chữ đẹp, mà thành một hơi thở.

Có lẽ vì thế mà phần kết này phải chậm. Vì những điều thật không đi vào tim bằng vội vàng. Ta không thể nói về đêm tối, về Thánh Thể, về tự do nội tâm, về tha thứ, về nên thánh trong hiện tại, về gia sản thiêng liêng của “Đường Hy Vọng”, mà lại nói như đang lướt qua một bản tóm tắt. Không. Ta phải dừng lâu. Dừng như người đứng trước Nhà Tạm trong buổi chiều vắng. Dừng như người đang nghe tiếng bước rất nhẹ của Chúa đi vào vùng sâu nhất của lòng mình. Dừng như người không muốn chỉ mang theo vài câu hay, nhưng muốn để cả đời mình bị chất vấn.

Khi dừng như thế, ta bắt đầu thấy một điều nữa rất đẹp: “Đường Hy Vọng” thật ra không chỉ được viết bằng bút chì trên những mảnh lịch cũ. Nó còn được viết bằng chính sự từ chối không đầu hàng. Mỗi lần ngài không để bóng tối thắng, ngài viết một dòng. Mỗi lần ngài giữ lòng gắn với Chúa, ngài viết một dòng. Mỗi lần ngài chọn hy vọng thay vì buông xuôi, ngài viết một dòng. Mỗi lần ngài để Thánh Thể ở trung tâm, ngài viết một dòng. Mỗi lần ngài không để hận thù vào tim, ngài viết một dòng. Mỗi lần ngài sống trọn hiện tại với tình yêu, ngài viết một dòng. Và nhìn như thế, ta mới hiểu: “Đường Hy Vọng” không thật sự bắt đầu trên giấy. Nó bắt đầu trong lòng. Nó bắt đầu từ một linh hồn quyết không để mất Chúa.

Điều ấy rất quan trọng, vì nó đưa câu chuyện trở lại gần với chúng ta. Không phải ai cũng viết sách. Không phải ai cũng có một chứng từ lớn lao được nhiều người biết. Nhưng ai cũng đang viết gì đó bằng đời sống mình. Có người viết bằng sự trung tín âm thầm. Có người viết bằng cách họ chịu đựng bệnh tật mà không cay đắng. Có người viết bằng cách họ chăm cha mẹ già với lòng hiếu thảo. Có người viết bằng cách họ giữ một cuộc hôn nhân khó khăn mà vẫn không bỏ Chúa. Có người viết bằng cách họ đi xưng tội sau bao lần ngã. Có người viết bằng cách họ tha thứ một bước rất nhỏ nhưng rất thật. Có người viết bằng cách họ tập ngồi yên trước Thánh Thể giữa một tâm hồn tản mác. Có người viết bằng cách họ giữ cho gia đình một kinh tối. Có người viết bằng cách họ từ chối nói xấu thêm một câu. Có người viết bằng cách họ âm thầm dâng cho Chúa một nỗi buồn mà không ai biết. Tất cả những điều ấy đều là những dòng tiếp theo của “Đường Hy Vọng.”

Bởi vậy, phần kết đại trường thiên này không chỉ là nhìn về Đức Hồng y Thuận. Nó còn là lời trao cây bút lại cho từng người chúng ta.

Cha có thể nói thật chậm với cộng đoàn rằng: hôm nay, cây bút ấy đang ở trong tay anh chị em. Tờ lịch cũ của đời anh chị em là gì? Cây bút chì cùn của đời anh chị em là gì? Buồng tối của đời anh chị em là gì? Điều nhỏ bé còn lại trong tay anh chị em là gì? Anh chị em sẽ dùng phần còn lại ấy để viết gì? Viết thêm cay đắng? Viết thêm buông xuôi? Viết thêm oán trách? Hay viết hy vọng? Viết một lần tha thứ? Viết một bước trở về? Viết một hành động yêu thương trong im lặng? Viết một đời sống không lừng lẫy nhưng trung tín?

Nếu cộng đoàn nghe được đến chỗ đó, bài giảng sẽ không còn chỉ là bài giảng về một vị hồng y. Nó sẽ trở thành một cuộc gặp gỡ giữa từng linh hồn với lời mời gọi của Chúa.

Và sâu hơn nữa, phần kết này cần nhắc rằng không có “Đường Hy Vọng” nào mà không đi qua thập giá. Điều đó cần được nói rõ. Vì có khi người ta nghe về hy vọng rồi tưởng hy vọng là một cảm giác ấm áp, một viễn cảnh tươi sáng, một nụ cười nhanh chóng. Không. Hy vọng Kitô giáo không đứng ngoài thập giá. Nó mọc lên ngay trên thập giá. Nó không xóa mất đau khổ, nhưng làm cho đau khổ không còn là hố đen nuốt chửng mọi ý nghĩa. Nó không làm cho người tín hữu miễn nhiễm với thử thách, nhưng làm cho thử thách không còn có quyền nói tiếng cuối cùng. Đó là lý do tại sao “Đường Hy Vọng” rất gần với mầu nhiệm Vượt Qua. Nó được viết trong đêm tối, nhưng mang nhịp của phục sinh. Nó đi xuyên qua nhà tù, nhưng không dừng ở nhà tù. Nó chạm đến nỗi đau, nhưng không làm nỗi đau thành thần tượng. Nó giữ thập giá ở giữa, nhưng để ánh sáng Phục Sinh đi xuyên qua gỗ thập giá ấy.

Cho nên, nếu sau cùng phải nói một câu đơn sơ nhất để gom tất cả, thì có lẽ là câu này: “Đường Hy Vọng” là bằng chứng rằng ai ở lại với Chúa thì bóng tối không thể nuốt mất người ấy.

Ở lại với Chúa, không phải bằng một cảm xúc cao vời, nhưng bằng sự trung tín từng ngày.

Ở lại với Chúa, không phải chỉ trong nhà thờ, nhưng trong bệnh viện, trong căn bếp, trong xưởng làm việc, trong buồng giam, trong phòng của người già, trong đêm mất ngủ, trong giờ khô khan.

Ở lại với Chúa, không phải chỉ khi được an ủi, nhưng cả khi chẳng cảm thấy gì.

Ở lại với Chúa, không phải chỉ bằng lời kinh nơi môi, mà còn bằng sự không chịu để lòng thành đá.

Ở lại với Chúa, không phải để được cất khỏi mọi đau khổ, nhưng để đau khổ không cắt mình ra khỏi nguồn sống.

Đó là con đường. Đó là cốt lõi. Đó là di sản. Đó là bản đồ. Đó là lời mời gọi. Và có lẽ, đó cũng là điều đẹp nhất mà một đời mục tử có thể để lại cho đoàn chiên: không phải chỉ những công trình, không phải chỉ những kỷ niệm, mà là một cách sống đức tin đủ thật để người khác có thể bước theo.

Giờ đây, khi khép lại đại trường thiên này, cha có thể dẫn cộng đoàn vào một đoạn cầu nguyện rất chậm, rất sâu, như thể mọi phân tích đã lùi lại để chỉ còn linh hồn đứng trước mặt Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,
đã có biết bao lần chúng con sợ bóng tối,
nhưng thật ra điều đáng sợ nhất không phải là bóng tối,
mà là bóng tối đi vào tim chúng con và làm tim chúng con tắt.

Đã có biết bao lần chúng con tưởng mình mất tất cả,
nhưng có lẽ điều chúng con thường đánh mất trước tiên
không phải là hoàn cảnh thuận lợi,
mà là sự ở lại với Chúa.

Đã có biết bao lần chúng con than vì đời nhiều thử thách,
nhưng thử thách lớn nhất có lẽ không phải là điều xảy đến,
mà là việc chúng con để cho điều xảy đến lấy mất hy vọng,
lấy mất dịu dàng,
lấy mất tự do nội tâm,
lấy mất khả năng yêu.

Hôm nay, trước chứng từ của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận,
xin cho chúng con đừng chỉ cảm phục từ xa.
Xin cho chúng con biết bước vào chính lòng mình.
Xin cho chúng con nhận ra buồng tối của đời mình.
Xin cho chúng con nhận ra những mảnh đời cũ kỹ mà chúng con vẫn khinh thường.
Xin cho chúng con nhận ra cây bút chì cùn trong tay mình.
Và xin cho chúng con biết rằng,
nếu có Chúa,
chúng con vẫn còn đủ để bắt đầu lại.

Xin cho người mệt mỏi tìm lại hơi thở.
Xin cho người cay đắng học tha thứ.
Xin cho người khô khan học ở lại.
Xin cho người thất vọng học hy vọng.
Xin cho người già thấy tuổi già không vô nghĩa.
Xin cho người trẻ thấy linh hồn mình đáng quý hơn mọi hào nhoáng.
Xin cho các gia đình biết đặt Chúa lại giữa nhà.
Xin cho linh mục và tu sĩ đừng sống bằng công việc trước hết,
nhưng sống bằng Chúa.
Xin cho mọi người chúng con biết nên thánh trong hôm nay,
ngay giữa điều nhỏ bé,
ngay giữa bổn phận thường ngày,
ngay giữa nước mắt chưa kịp khô.

Và nếu đêm tối vẫn còn dài,
xin cho chúng con đừng đòi thấy hết đường,
chỉ xin đủ ánh sáng để bước một bước nữa.
Nếu đau khổ vẫn còn đó,
xin cho chúng con đừng đầu hàng cay đắng,
nhưng biết đặt đau khổ vào tay Chúa.
Nếu đời chúng con chỉ còn những mảnh vụn,
xin dạy chúng con tin rằng
trong tay Chúa,
mảnh vụn vẫn có thể thành của lễ.

Xin cho cuộc đời chúng con,
dù nhỏ bé và đầy giới hạn,
cũng biết viết tiếp “Đường Hy Vọng”
bằng lòng trung tín,
bằng Thánh Thể,
bằng tha thứ,
bằng tự do nội tâm,
bằng tình yêu không chịu tắt.

Và một ngày kia,
khi nhìn lại,
xin cho chúng con không phải xấu hổ vì đã sống hời hợt,
nhưng có thể thưa với Chúa rằng:
giữa đêm tối, chúng con đã cố giữ lửa;
giữa thử thách, chúng con đã cố không rời tay Chúa;
giữa những gì bị lấy mất, chúng con đã cố giữ lấy điều không thể mất;
giữa bao giới hạn, chúng con đã cố yêu trong điều nhỏ;
và giữa một thế giới dễ tuyệt vọng,
chúng con đã cố sống như những người còn tin vào Phục Sinh./.

Lm. Anmai, CSsR

Tác giả: Lm. Anmai, CSsR

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập197
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm194
  • Hôm nay31,539
  • Tháng hiện tại1,963,739
  • Tổng lượt truy cập103,091,942
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây