Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận - Bài Giảng và Huấn Từ (2)

Thứ ba - 08/05/2012 22:30

-

-
“Ước mong những suy tư giản dị, trong sáng như cuộc đời của Đức Cố Hồng Y, trong tập bài giảng này, cũng giúp tất cả chúng ta hiểu biết Chúa nhiều hơn, yêu mến Chúa nhiều hơn, và yêu mến Giáo Hội của Chúa nhiều hơn.” [Đức Ông Phan Văn Hiền HT63]
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận - Bài Giảng và Huấn Từ (2)
 
 

 
Bài 8: Chúa Chiên Lành
Ngày 21-04-1991 -  Chúa Nhật IV Phục Sinh
Cv 4, 8-12; 1Ga 3, 1-2; Ga 10, 11-18
 
Trước đây, Giáo Hội gọi lễ Chúa Nhật này là Lễ Đấng Chăn Chiên Lành, vì bài Phúc Âm hôm nay luôn đề cập đến Chúa Giêsu là Đấng chăn chiên nhân lành. Nhưng gần đây, Giáo Hội gọi ngày lễ Chúa Nhật này là Chúa Nhật Cầu Cho Ơn Thiên Triệu. Cả hai ý đó đều liên quan với nhau. Vì cầu cho ơn thiên triệu nghĩa là cầu cho có nhiều mục tử tốt lành như Chúa Giêsu là Đấng Chăn Chiên Lành.

Tại sao Giáo Hội phải đề cao ơn thiên triệu? Vì càng ngày ơn gọi làm linh mục, tu sĩ trong Giáo Hội càng giảm sút, nhất là ở tại các nước Âu Mỹ. Nhiều quốc gia ở những nơi này đang gặp cơn khủng hoảng thiếu hụt linh mục và tu sĩ trầm trọng. 

Nhưng tại sao bây giờ ơn thiên triệu lại giảm sút? Có nhiều lý do, nhưng ở đây Cha chỉ đề cập tới một vài lý do căn bản.

Trước hết, vì ở Âu Mỹ bây giờ, đời sống gia đình và xã hội đã thay đổi nhiều. Trước thời Đệ Nhị Thế Chiến, gia đình nào cũng có nhiều con cái. Nhưng bây giờ, đa số các gia đình chỉ có một hay nhiều lắm là hai con. Con số trung bình hiện nay là cứ hai gia đình mới có một con. Vì thế, ít có cha mẹ nào khuyến khích con cái mình đi tu. Hơn nữa, chính những người con này cũng không muốn đi tu vì được cha mẹ nuông chiều, và đời sống vật chất quá đầy đủ.

Lý do thứ hai là đời sống vật chất, hưởng thụ tại các quốc gia này. Mọi tiện nghi, ăn uống, di chuyển, giải trí… đều có sẵn. Bước ra khỏi cửa nhà đã thấy tiệm ăn, quán cà phê, rạp hát chiếu phim. Nhưng phim tốt thì ít, phim xấu thì nhiều. Từ bé đến lớn luôn sống trong bầu khí hưởng thụ, nên khó có thể chấp nhận cuộc sống hy sinh, phục vụ của ơn gọi tu trì. Hơn nữa, đã quen sống ồn ào, bận rộn với đủ thứ chuyện bên ngoài thì làm gì có thời gian dành cho sự cầu nguyện và phản tĩnh về cuộc sống. Học hành, mua sắm thời trang, ăn uống, bạn bè, giải trí cuối tuần như cái vòng luẩn quẩn chiếm hết thời gian. Rồi đến dịp nghỉ mùa hè hoặc mùa đông, lại lo tính chuyện đi biển, lên núi, trượt tuyết. Chẳng còn chút thời giờ dành cho Chúa.

Sống trong hoàn cảnh ấy, các đấng chăn chiên cần phải có một tinh thần hy sinh và dấn thân quyết liệt hơn. Các Ngài cũng phải vận dụng óc sáng tạo để lôi kéo con chiên trở về với Chúa. Và trên hết, các Ngài phải là những chủ chăn nhân lành luôn yêu thương và gần gũi với con chiên. Luôn sẵn sàng phục vụ và hy sinh mình vì đoàn chiên. Nói cách khác, đời sống gương mẫu của người chủ chăn sẽ là động lực lôi kéo con chiên và huấn luyện họ thành những con chiên tốt. Gương sáng bao giờ cũng có hiệu quả hơn lời nói suông.

Dòng Don Bosco hiện là một dòng lớn trên thế giới. Ở Ba Lan, trong thời kỳ cấm cách, mỗi năm dòng nhận 100 người vào Nhà Thử. Đến khi được tự do, con số ơn gọi lại giảm xuống dần dần, chỉ còn 75, 70. Đây là một kinh nghiệm đáng cho chúng ta quan tâm. Rất có thể khi được cởi mở, Giáo Hội chúng ta cũng sẽ rơi vào tình trạng sa sút ơn gọi và đi đến khủng hoảng. Vì thế, ngay từ bây giờ, chúng ta phải cố gắng tập sống tinh thần hy sinh phục vụ và chuẩn bị cho những thế hệ trẻ đàn em cũng biết sống tinh thần này.

Ở Tiệp, cách đây không lâu, có một anh thợ hồ (nề) tên là Bengiamin. Anh sống rất đạo đức và gương mẫu nên được bạn bè yêu quý. Một bữa kia, đang khi đứng trên dàn cao để trét tường, dàn bị bốc cháy và anh bị rơi vào đống lửa bên dưới. Người ta đưa anh vào bệnh viện để chữa trị vết phỏng khắp người. Vết phỏng làm cho anh đau đớn nhức nhối, nhưng không bao giờ thấy anh than thở, rên la. Một tuần lễ sau, anh lìa trần. Bạn bè bùi ngùi tiếc thương anh. Trong lúc mặc niệm tiễn biệt anh, một linh mục già đến cạnh quan tài cầu nguyện. Và thật ngạc nhiên, vị linh mục này lấy dây Stola và đặt lên trên quan tài, một dấu hiệu dành riêng cho người linh mục quá cố. Tất cả những người bạn Cộng Sản của anh giờ đây biết được anh là một linh mục chui và càng quý trọng anh hơn, vì mặc dầu không ai biết mình là linh mục, anh thợ hồ quá cố này vẫn sống cuộc đời gương mẫu của một linh mục xứng danh. Anh chính là hình ảnh của người mục tử nhân lành.

Hiện nay ở Ý, có một phong trào rất nguy hại cho Giáo Hội. Một số giáo dân tụ họp thành một nhóm, tách rời khỏi Giáo Hội, tự động đi rao giảng Lời Chúa theo cách thức của họ. Giáo thuyết này hằng năm lôi cuốn hàng vạn người đi theo. Đứng trước tình hình đáng lo ngại ấy, Giáo Hội Ý tự nhận khuyết điểm của mình và tìm cách sửa đổi. Trong khi những người thuộc giáo thuyết sai lạc kia dấn thân đi đến từng gia đình để giảng dạy và chia sẻ cơm bánh, các mục tử của Giáo Hội chỉ sống trong nhà thờ, sợ hy sinh và xa cách với dân chúng. Và kết quả là nhiều người Công Giáo đã rời bỏ Giáo Hội để tìm đến với giáo phái kia. Sự kiện này cũng là một bài học giúp chúng ta nhìn lại cách sống của mỗi người chúng ta. Chúng ta có thật sự là những mục tử nhân lành luôn gần gũi với đàn chiên hay không?

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta cầu xin Chúa ban cho Hội Thánh có nhiều ơn gọi linh mục để chăn dắt đoàn chiên Chúa, nhất là có thêm nhiều mục tử tốt lành, luôn quan tâm săn sóc và sẵn sàng thí mạng sống mình vì lợi ích của đoàn chiên. Và chúng ta cũng cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết luôn có tinh thần hy sinh, quan tâm đến người khác như Chúa Giêsu là Đấng Chăn Chiên Lành. Amen.

 
Bài 9: Ánh Sáng Thế Gian
Thứ tư 24-04-1991 - Tuần 4 Phục Sinh

Cv 12, 24 - 13,5;  Ga 12, 44-50

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu xác quyết: “Ta là sự sáng thế gian” để nói lên bản tính và sứ mạng của Ngài, sứ mạng đem sự sống đời đời vào thế gian. Trong cuộc sống, ánh sáng giữ một vai trò quan trọng và thiết yếu. Nhưng thông thường ít ai để ý đến tầm quan trọng của ánh sáng, nhất là những nơi có điện có đèn, vì cho dù có ban đêm, ánh sáng của đèn diện cũng soi tỏ mọi nơi. Nhưng nếu trong một bữa cơm tối, thình lình bị mất điện, người ta sẽ nhận ra sự cần thiết của ánh sáng. Hơn nữa, ánh sáng còn cần thiết cho con người và sinh vật để sống và phát triển. Một người sống trong môi trường thiếu ánh sáng sẽ bị yếu đau, bệnh hoạn và cây cối sẽ chết yểu nếu thiếu ánh sáng mặt trời. Ánh sáng đồng nghĩa với sự sống.

Chúa Giêsu cũng so sánh: “Ai làm điều ác thì ghét ánh sáng và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Còn kẻ sống theo sự thật, thì đến cùng ánh sáng“ (Ga 3, 20-21). Điều này đúng ngay cả trong cuộc sống xã hội. Kẻ trộm luôn lợi dụng đêm tối để đột nhập vào nhà người khác trộm cắp đồ đạc. Nó chẳng bao giờ dại đi ăn trộm giữa ban ngày để bị phát giác và bắt giữ.
 
Vào thời Cha làm Giám Mục Nha Trang, có một giáo xứ ở Phan Thiết cứ đến giờ đọc kinh tối lại bị mấy đứa thanh niên nghịch vào tắt điện, la lối không đọc kinh được. Đám này lợi dụng bóng tối để phá rối nên chẳng biết ai là thủ phạm. Mãi về sau Cha xứ ở đó mới nghĩ ra một cách và bàn luận kế hoạch chận bắt. Ngài sắp đặt một số ông trong ban hành giáo trực sẵn ở các cửa ra vào và khi nào nghe tiêng hô lớn sẽ lập tức đóng cửa. Tối đến, chuyện lại xảy ra. Cha xứ hô đóng cửa. Ngài bật đèn pin và lấy vật liệu đã chuẩn bị sẵn để nối lại cầu chì. Điện lại sáng lên ngay. Ngài yêu cầu tất cả thanh niên đưa bàn tay lên cao và khám phá ra ngay ai là thủ phạm cúp điện, vì dấu mực Cha bôi trên nắp cầu chì còn dính trên tay anh thanh niên đó. Quả thật, kẻ làm điều xấu thì ưa sự tối tăm. Vì tối tăm đồng lõa với những hành vi gian ác của họ. 

Chúa Giêsu là ánh sáng ban sự sống. Người nào đi theo ánh sáng này sẽ sống trong sự thật vì họ được Thiên Chúa là Đấng Chân Thật hướng dẫn. Như thế, bằng tất cả cuộc sống, lời nói cũng như việc làm, người theo Chúa sẽ đến lượt trở thành ánh sáng để soi chiếu, hướng dẫn những người chung quanh. Và như vậy tất cả mọi người sẽ được bước đi trong ánh sáng.

Giữa một thế giới không ngừng có chiến tranh, tai họa, đàn áp, bất công, kỳ thị... con người như sống trong tối tăm và cần được ánh sáng soi dẫn để tìm thấy hòa bình, công bằng và yêu thương. Đó chính là trách nhiệm của chúng ta, con cái của sự sáng. Nhưng để nuôi dưỡng và tăng sức mạnh ánh sáng này, như một chiếc máy chạy bằng năng lượng mặt trời, chúng ta cần phải bám chặt vào Chúa Giêsu là nguồn ánh sáng bất diệt. Và như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ được sự sống muôn đời. Amen.

 
Bài 10: Lòng Nhiệt Thành
Ngày 25-04-1991 -  Lễ Thánh Marcô Thánh Sử

1Pr 5, 5-14;  Mc 16, 15-20
 

Hôm nay chúng ta cử hành lễ kính Thánh Marcô. Ngài là một môn đệ nhiệt thành, chân thật và là một người con hiều thảo. Ngài đã để lại cho chúng ta một tác phẩm rất quí giá đó là sách Phúc Âm Thánh Marcô.

Từ khi nhận ra ánh sáng của Chúa, Marcô đã theo thánh ý Chúa một cách nhiệt tình, hy sinh tất cả vì Tin Mừng. Ngài đã theo sát Thánh Phaolô, cùng với Bar-na-ba đồng hành đây đó để đem Chúa đến cho mọi người (Cv 12, 25). Và sau đó Ngài đã trở nên môn đệ đắc lực và trung thành của Thánh Phêrô (1Pr 5,13). Trong lúc yên hàn cũng như trong lúc khốn khó, nguy nan, Ngài luôn ở bên cạnh Thánh Phêrô, lắng nghe và học tập được các đức tính của Thầy mình, đức tính đơn sơ, thẳng thắn, thật thà. Trong cuốn Phúc Âm, Ngài đã dám mạnh dạn ghi lại sự yếu đuối sa ngã của Thầy mình và nói lên tâm tình thống hối của Phêrô, trong khi Luca đã không dám đá động gì đến chuyện đó. Cũng có thể nhờ Marcô mà hai cuốn Phúc Âm sau mới dám kể lại chuyện này.

Phúc Âm Marcô rất đơn sơ, vì Marcô không phải là nhà trí thức như Mat-thêu, để ghi lại Tin Mừng một cách lưu loát mạch lạc. Marcô cũng không được như Luca, một vị lương y, để biết đề cập và giải thích các loại bệnh tật nơi những người được Chúa chữa lành, hoặc sự kiện Chúa chảy mồ hôi máu trong vườn Giệtsimani. Nhưng mặc dù từ ngữ được xử dụng trong cuốn Phúc Âm này có vẻ đơn sơ, quê mùa, đây lại là một cuốn Phúc Âm hấp dẫn, cảm động và hứng thú nhất, vì người đọc cảm thấy gần gũi với Thánh Phêrô, với tình tình đơn sơ, thẳng thắn, và chân thành của Ngài.
Chính trong cuộc sống, Thánh Marcô lại có thêm một thành công nữa, đó là cách rao giảng sống động, thu hút. Sau khi Phêrô, Thầy của mình tử đạo tại Roma, Marcô vẫn can đảm tiếp tục rao giảng Tin Mừng. Lời giảng dạy của Marcô có sức hấp dẫn lạ lùng vì người nghe cảm thấy như được chính Thánh Phêrô đang giảng dạy cho mình. Có thể nói Marcô là hiện thân của một Phêrô đơn sơ, chân thật, từ cách sống và cư xử với mọi người, đến lời rao giảng và ngay cả lối văn trong cuốn Phúc Âm của Ngài.

Hôm nay, chúng ta xin cùng Thánh Marcô cho chúng ta được bắt chước gương sống đơn sơ, ngay thẳng của Ngài, biết luôn nhiệt thành rao giảng Lời Chúa, ngay cả trong những hoàn cảnh, điều kiện khó khăn và nhất là luôn biết trung thành với Chúa và với Giáo Hội. Amen.
 
 
Bài 11: Sống Với Chúa
Thứ sáu 26-04-1991 - Tuần 4 Phục Sinh

Cv 13, 26-33;   Ga 14, 1-6
 

Đức Giêsu là Thiên Chúa. Ngài đã xuống thế làm người, đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, chịu nhiều đau khổ và cuối cùng chết trên Thập Giá. Nhưng Ngài đã chiến thắng sự chết bằng cuộc phục sinh vinh hiển để mang lại ơn cứu độ cho con người. Mặc dầu không còn mang thân xác hữu hình như khi còn sống, Chúa Giêsu Phục Sinh vẫn luôn gần gũi với con người.

Phúc Âm tường thuật lại rất nhiều lần Ngài đã hiện ra với các Tông Đồ. Đã cho các ông xem vết thương, tiếp tục dạy dỗ các ông và đôi khi còn ăn uống với các ông nữa. Ngài muốn trấn an các ông đang hoảng hốt trước cái chết của Ngài và đang lo sợ người Do Thái làm khó dễ vì có liên hệ với Ngài. Chúa Giêsu cũng muốn tỏ cho các ông tình thương tròn đầy Ngài dành cho các ông. Ngài không bỏ các ông. Nhưng luôn quan tâm và gần gũi với các ông.

Lời Chúa ngày hôm nay thật phong phú, nhưng chúng ta chỉ dừng lại ở ý tưởng đầu tiên trong bài Phúc Âm: Chúa khuyên các Tông Đồ hãy vững tin, đừng xao xuyến. Các Tông Đồ đã được sống gần Chúa. Và trong ba năm, ngoài việc dạy dỗ, Chúa cũng đã báo trước cho các Tông Đồ về cái chết và sự phục sinh của Ngài, để các Tông Đồ chuẩn bị tinh thần khi chuyện này xảy đến. Và đặc biệt Ngài hứa với các ông: Thầy đi để sửa soạn chỗ cho chúng con và rồi sẽ trở về đón chúng con.
Lẽ ra các tông đồ phải vui mừng, phấn khởi vì đã được chính Chúa hứa cho sống mãi với Ngài. Nhưng khi sự việc xảy ra, các ông lại lo buồn bối rối vì không biết cuộc đời mình sẽ như thế nào. Có nên trở về với gia đình, với nghề cũ không? Và không biết người Do Thái có để yên cho mình không? Chúa biết rõ tâm trạng hoang mang của các ông, và vì vậy Ngài đã hiện ra nhiều lần để trấn an và hướng dẫn. Và mỗi lần gặp lại Chúa, lòng các ông lại bùng cháy lên một niềm tin yêu và phấn khởi. Thầy mình đã sống lại. Ngài sẽ ở với mình cho đến tận thế. Không gì có thể ngăn cách Thầy với mình được nữa. Còn gì sung sướng hạnh phúc hơn.

Trong đời người, đau khổ lớn nhất cho hai kẻ yêu nhau chính là sự chia ly. Và kinh nghiệm cho thấy, ngay cả nơi những cặp vợ chồng lớn tuổi, thông thường khi một người chết đi, người kia cũng không sống thêm được bao lâu. Sự hiện diện của hai người yêu nhau cũng đủ mang lại hạnh phúc và làm cho tình thương tăng triển. Và một khi bị ngăn cách, kẻ ở người đi, cả hai đều bị nỗi buồn xâm chiếm.

Các Tông Đồ cũng đã mang tâm trạng đau buồn đó khi Chúa bị tử nạn. Và khi được gặp lại Chúa Phục Sinh, lòng các ông ngập tràn niềm vui, nhưng không khỏi phảng phất một chút ích kỷ trong đó. Các ông mong Chúa ở lại mãi trần thế với mình để được an tâm, khỏi lo lắng gì cả. Vì thế, các ông không muốn Thầy mình trở về cùng Thiên Chúa Cha. Các ông quên mất sự hiện diện thiêng liêng của Chúa với các ông cho đến tận thế mà Ngài đã hứa.

Cũng thế, trong mọi sinh hoạt, biến cố xảy ra, chúng ta cũng thường nghĩ về mình nhiều hơn. Khi cha mẹ hay người thân qua đời, chúng ta than khóc vì mình hơn là vì người quá cố: Sao cha mẹ bỏ con? Sao Chúa lại gây đau khổ cho con? Chúng ta phản ứng như thể không muốn để cha mẹ, người thân về với Chúa và muốn Chúa phải theo ý của chúng ta.

Lời Chúa hứa với các Tông Đồ vẫn còn hiệu lực với chúng ta: "Thầy ở cùng với các con mọi ngày cho đến tận thế“. Chúa vẫn tiếp tục hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta phải ý thức sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình và để Chúa hướng dẫn mọi hoạt động của chúng ta. Đừng đóng khung Chúa trong nhà nguyện hay chỉ trong những giờ kinh lễ, nhưng hãy tiếp tục đồng hành với Chúa trong mọi sinh hoạt hằng ngày của cuộc sống, để “dù khi ăn, dù khi uống hay bất cứ làm việc gì, chúng ta đều làm để vinh danh Chúa“. Amen.

 
Bài 12: Ai Thấy Con Là Thấy Cha
Thứ bảy 27-04-1991 - Tuần 4 Phục Sinh

Cv 13, 44-52; Ga 14, 7-14
 
Bài Phúc Âm hôm nay tường thuật lại chuyện Philipphê thắc mắc về Chúa Cha và câu trả lời khó hiểu của Chúa Giêsu. Nghe Chúa Giêsu giảng dạy nhiều lần về Chúa Cha, một điều thật mới mẻ so với giáo huấn của Đạo Do Thái: “Chỉ có một Thiên Chúa“, Philipphê đã chân thành xin Thầy mình chỉ cho thấy Chúa Cha. Philipphê cũng như các Tông Đồ khác chờ đợi Chúa Giêsu sẽ chỉ cho thấy Chúa Cha một cách rõ ràng. Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu xem ra thật khó hiểu: “Ai xem thấy Thầy là xem thấy Cha“. Nếu xem thấy Chúa Giêsu là thấy được Chúa Cha thì cần gì phải hỏi? Chúa Giêsu cũng rắc rối thật. Phải chi Ngài trả lời trực tiếp thì đỡ biết mấy!

Thật ra, câu hỏi đơn sơ chân thành của Philipphê lại là một vấn đề rất quan trọng. Và câu trả lời “luẩn quẩn“ của Chúa Giêsu lại cũng rất sâu sắc. Ngài muốn đưa các ông đến sự thật căn bản này là sự hiệp nhất trọn vẹn giữa Ba Ngôi Thiên Chúa: Cha-Con và Thánh Thần. Và một cách cụ thể hơn, Ngài muốn nói với các ông rằng Ngài chính là Thiên Chúa, một Thiên Chúa Làm Người. Đó là điều mà những người đồng thời đã không nhận ra. Họ chỉ xem Ngài là một người bình thương, con của bác thợ mộc Giuse và bà Maria. Vì thế, không lạ gì khi họ ngạc nhiên thấy Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền và làm nhiều phép lạ không thể tưởng được.

Ngày nay, nhiều người vẫn còn cố tình quên mất bản tính Thiên Chúa nơi con người Giêsu. Dựa vào lời giảng dạy và cuộc sống của Ngài, nhiều người xem Ngài là một nhà cách mạng, vì đã bênh vực người nghèo và đã chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng. Kẻ khác lại xem Ngài là một người dại dột vì đã không dùng quyền năng để lôi kéo dân chúng và thoát chết. Tất cả những lập luận này đều sai lạc vì chỉ phân tích Ngài như là một con người.

Ngài là Thiên Chúa Làm Người. Ngài đã đến trần gian để thi hành thánh ý Thiên Chúa và đã thực hiện một cách tuyệt hảo. Nói cách khác, Thiên Chúa Cha đã thực hiện chương trình cứu rỗi nhân loại qua Chúa Giêsu. Chính Thiên Chúa đã yêu thương người cùng khổ, đã đến với người tội lỗi, đã giảng dạy và làm phép lạ... vì như Ngài đã bộc lộ: Ta và Cha Ta là một. Chính vì thế, ai thấy Chúa Giêsu là thấy Cha của Ngài. Philipphê và các Tông Đồ chưa nhận ra được điều này bởi vì các ông chưa nhận ra bản tính Thiên Chúa nơi Thầy của mình. Thầy Giêsu là Đức Kitô, Đấng được xức dầu, Đấng Thánh của Thiên Chúa. Nói rõ hơn, Giêsu là Thiên Chúa Làm Người. Ngài vừa có bản tính Thiên Chúa vừa có bản tính loài người. Tách biệt Thiên Chúa ra khỏi con người nơi Đức Giêsu sẽ dẫn con người đi đến lạc giáo như đã xảy ra trong lịch sử của Giáo Hội.

Ý thức được điều đó, chúng ta vui mừng thi hành sứ mạng Chúa Giêsu đã trối lại cho các Tông Đồ: “Hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng“. Bởi vì chúng ta tin chắc rằng, khi vâng phục Chúa Giêsu là chúng ta vâng phục Chúa Cha; khi cầu nguyện với Chúa Giêsu là cầu nguyện với Chúa Cha và khi thi hành điều Chúa Giêsu chỉ dạy là thi hành chính điều Chúa Cha mong muốn. Amen.
 
  
Bài 13: Thiên Chúa Tình Yêu
Ngày 29-04-1991 -  Lễ Thánh Catarina Siena

1Ga 5, 5-14;   Mt 25, 1-13

Người Công Giáo Việt Nam chúng ta có thói quen kết thúc các buổi cầu kinh bằng Kinh Cám Ơn: “Tôi cám ơn Đức Chúa Trời...” Trước hết, chúng ta cám ơn Thiên Chúa vì Ngài đã cho chúng ta làm người. Làm người là một ân huệ lớn lao của Thiên Chúa. Lời kinh kế tiếp: “Hằng gìn giữ tôi, hằng che chở, lại cho Ngôi Hai...” càng cho thấy tình thương bao la của Thiên Chúa được biểu lộ một cách rõ rệt qua mầu nhiệm cứu độ. Chỉ hai điều này: “Được làm người và được cứu chuộc“ cũng đủ để chúng ta tạ ơn Chúa suốt đời.

Nhưng bài Phúc Âm hôm nay còn đề cập đến một chân lý mới, mầu nhiệm mới, làm mạnh thêm lý do tạ ơn Chúa của chúng ta. Đó là việc Chúa đến ở trong chúng ta. Không có một tôn giáo nào, một đấng sáng lập đảng phái nào lại có thể làm được như vậy. Chúa không những yêu thương mà còn tỏ mình ra cho chúng ta, ở với chúng ta một cách trọn vẹn nữa.

Trong anh em chúng con đây, dù quý mến nhau lắm, cũng chẳng có ai dám bộc lộ hết tâm sự đời mình cho người khác. Mỗi người đều có một bí nhiệm, một mầu nhiệm riêng và không ai có thể biết được mầu nhiệm ấy. Còn đối với Thiên Chúa, khi chúng ta tin vào Đức Giêsu, Chúa Cha sẽ tỏ hết mọi sự ra cho chúng ta. Và càng hiểu biết Ngài, chúng ta càng yêu mến Ngài, bởi vì chúng ta nhận ra được Thiên Chúa chính là tình yêu. Và tình yêu này thật cao cả, vì mặc dù chúng ta chỉ là tạo vật thấp hèn, Thiên Chúa toàn năng lại muốn chia sẻ trọn vẹn với chúng ta.

Tình yêu chia sẻ của Thiên Chúa dành cho kẻ bé mọn được bộc lộ rõ rệt nơi cuộc đời của Thánh Ca-ta-ri-na thành Siena mà chúng ta mừng kính hôm nay. Bà Ca-ta-ri-na chỉ là một người giáo dân bình thường, ít học. Lớn lên Bà gia nhập Dòng Ba Đa-minh và sống một cuộc đời âm thầm. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã dùng Bà Ca-ta-rina để làm những chuyện lớn trong Giáo Hội.

Có thể nói đây là một thời kỳ đen tối trong lịch sử của Giáo Hội. Cùng một lúc, trong Giáo Hội có đến ba bốn vị Giáo Hoàng. Chẳng biết ai là vị Giáo Hoàng chính thức. Một vị Giáo Hoàng có tiếng hơn cả lại đóng đô tại Avignon ở Pháp, chứ không phải ở Roma. Và vị nào cũng có những chính quyền, thế lực đứng đàng sau giúp đỡ và gây ảnh hưởng. Trong khi người nào cũng thấy việc Đức Giáo Hoàng phải trở về lại Roma là hợp lý, chẳng có Hồng Y, Giám Mục, linh mục nào dám quyết tâm đẩy mạnh vấn đề này. Và cuối cùng, Chúa đã dùng Bà Ca-ta-ri-na để khuyên bảo được Đức Giáo Hoàng tại Avignon trở về Roma, thống nhất Giáo Hội hoàn vũ.

Tại sao Bà Ca-ta-ri-na đã làm được việc lớn lao và quan trọng như vậy? Thưa bởi vì Ca-ta-ri-na đã được Thiên Chúa chọn cho biết thánh ý của Ngài. Chúng ta băn khoăn tự hỏi: “Có phải Chúa chỉ tỏ mình cho các Thánh, Giáo Hoàng và các Giám Mục thôi sao?“ Không phải. Ngài là Thiên Chúa của tất cả mọi người. Dù sang, hèn, nam, nữ, có chức phận hay không... Ngài đều có thể tỏ cho biết như lời Thánh Phanxicô de Sale đã viết trong cuốn: “Tập đàng nhân đức trọn lành”. Mặc dầu đây là cuốn sách đơn sơ, nhưng đều được mọi đấng bậc trong Giáo Hội tín nhiệm. Ngay trong phần mở đầu của cuốn sách đã thấy chứa đựng một nền thần học thâm sâu được Công Đồng Vatican II đề cập đến. Ngài viết: “Trong thời đại này, nếu ai không đem cuộc sống tình yêu của Chúa vào trại lính, vào trong cung vua, vào các gia đình, vào các đôi vợ chồng... thì kể là chưa sống đạo”.

Quả là những lời táo bạo. Nếu đây không phải là lời của Ngài thì chắc rằng không ai trong chúng ta dám nói như thế. Trong trại lính: anh em nào đã đi lính thì biết rõ cuộc sống trong đó như thế nào... Trong cung vua: nơi xa hoa lộng lẫy, ăn chơi, đồi trụy... Vậy mà Ngài lại bảo đem cuộc sống tình yêu của Chúa đến những nơi đó. Nhưng thật ra, Tin Mừng của Chúa phải được đem vào, đem đến, đem đi mọi nơi, cho mọi hạng người không kể giàu hèn, nam hay nữ... vì ơn cứu độ của Chúa là ơn phổ quát, cho hết mọi người.

Các Thánh dạy: Thiên Chúa yêu thương chúng ta, và Ngài đã đến ở trong chúng ta. Đây là một mầu nhiệm cao cả mà trí khôn loài người không thể hiểu hết được. Chúa thương yêu và đến ở trong chúng ta càng làm cho chúng ta thêm lòng yêu mến Ngài như lời Thánh Augustinô bộc lộ: “Chúa sinh ra con và con thao thức cho đến khi nào được trở về trong nơi an nghỉ của Chúa”. Tất cả vì lợi ích cho chúng ta. Thánh nữ Ca-ta-ri-na đã cảm nghiệm được tình thương của Chúa nên càng yêu mến Chúa nhiều hơn và quyết tâm thực hiện ý Chúa. Đó chính là động lực thôi thúc Thánh Nữ kiên nhẫn nài nỉ Đức Giáo Hoàng trở về lại Roma để Giáo Hội được hiệp nhất và không còn bị các chính quyền, thế lực thao túng.

Chúng ta cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn biết hướng về tình yêu tuyệt vời của Ngài, ngay trong cuộc sống ở chủng viện bây giờ. Để nhờ sự liên kết mật thiết với Chúa, như Thánh Nữ Ca-ta-ri-na thành Siena, chúng ta cũng biết yêu thương nhau một cách chân thành và yêu mến Giáo Hội cách thiết tha. Amen.
 
 
Bài 14: Hòa Bình
Thứ ba 30-04-1991 - Tuần 5 Phục Sinh
 
 
Cv 14, 19-28;  Ga 14, 17, 31
 
Thầy để lại bình an cho các con,
Thầy ban bình an của Thầy cho các con.
Thầy không ban sự ấy như thế gian ban.
 
Thời nay, chắc chúng con đã nghe nhiều đến vấn đề hòa bình, hòa giải. Nhưng thực tế, chiến tranh vẫn không ngừng xảy ra. Nay chỗ này, mai chỗ khác và chưa thấy có dấu hiệu sẽ chấm dứt. Thời niên thiếu, Cha đã nghe nói và chứng kiến nhiều tai họa của chiến tranh. Đầu năm 1940, quân Nhật nhảy vào Việt Nam, trong khi Pháp còn đô hộ mình. Rồi tiếp đến là đảo chính Nhật. Đến khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, Nhật bị giải giới và Pháp trở lại Việt Nam. Sau đó, cuộc chiến giành độc lập với Pháp càng lúc càng căng… Biết bao nhiêu người đã chết trong khoảng thời gian mười lăm năm đó… Đến thời kỳ Cha làm Giám Mục Nha Trang sau năm 1967, cuộc nội chiến cũng đã làm thiệt mạng rất nhiều người và gây tang tóc, tàn phá khắp nơi. Nhiều linh mục bị chết vì bom đạn chiến tranh. Nhiều nhà thờ, trường học, tu viện bị tàn phá, sụp đổ. Có rất nhiều đêm, Cha đi lại trong hành lang Tòa Giám Mục, lo lắng không biết có linh mục, tu sĩ nào của địa phận bị nguy hiểm không, giáo dân mình có được bằng yên không?

Chiến tranh là như vậy. Chết chóc, tàn phá gây tang thương cho mọi người.

Đứng trước chiến tranh, các nhà chính trị chủ chiến cương quyết phải đánh và sẽ chiến thắng. Còn những nhà chủ hòa lại tìm mọi phương cách truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình, hô hào xuống đường đòi hòa bình, chống đi lính và tẩy chay chiến tranh. Các nhà giáo dục lại khác. Họ chủ trương hòa bình không thể đạt được với vũ khí, bạo lực, đàn áp, nhưng bằng việc giáo dục, đào tạo, giúp các học sinh biết yêu chuộng hòa bình ngay từ trên ghế nhà trường. Lẽ tất nhiên, mỗi người, mỗi nhóm đều có lý do riêng của mình và ai cũng cho lập trường của mình là đúng. Nhưng trên thực tế, chiến tranh vẫn bùng nổ khắp nơi. Và hòa bình đạt được ở một vài nơi chỉ có tính cách tạm thời rồi lại bùng lên một cách khốc liệt hơn chỉ sau một thời gian ngắn.

Tại sao vậy? Vì mỗi phía, mỗi bên chỉ nghĩ tìm cái lợi cho mình, mà quên mất lợi ích chung cho cả hai. Như trong cuộc chiến vùng Vịnh vừa qua. Chỉ cần một tiếng hô hào của Mỹ, lập tức cả mấy chục nước, dù đang có hiềm khích với nhau, liền hợp lại để đánh Irak. Tất cả chỉ vì quyền lợi dầu lửa. Không có dầu lửa, nền kinh tế của các nước kỹ nghệ sẽ bị sụp đổ. Như thế, những quốc gia này liên kết với nhau để đánh Irak, không phải để bảo vệ hòa bình thế giới, cũng không phải vì thương nước Kuwait nhỏ bé, nhưng chỉ vì để bảo vệ nguồn dầu lửa, bảo vệ chính quyền lợi của mình. Một loại hòa bình vì quyền lợi vật chất như thế thật mong manh, chóng qua, vì một khi vùng đó hết nguyên liệu, không còn là nguồn cung cấp tài nguyên cần thiết, hòa bình tạm thời sẽ chấm dứt, và chiến tranh tiếp tục tàn phá.

Vậy phải tìm hòa bình ở đâu? Bài Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy, hòa bình thật sự đến từ Thiên Chúa, và khác với loại hòa bình mà thế gian tìm kiếm. Tại sao thế?  Đây là một vấn đề thần học quan trọng. Sách Sáng Thế Ký cho chúng ta biết ngay từ đầu Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài. Điều này có nghĩa con người chỉ là hình ảnh của Thiên Chúa mà thôi chứ không phải là Thiên Chúa. Một bức hình Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II chẳng hạn thì chỉ là bức hình chứ không phải là chính Đức Giáo Hoàng. Cũng vậy, chỉ có Chúa là Đấng có quyền ban hòa bình thật cho nhân loại, nên con người vì chỉ là hình ảnh của Ngài, không thể tạo ra được hòa bình vững bền... Hơn nữa, Thiên Chúa là tình yêu, nên hòa bình thật sự trước hết phải được bắt nguồn từ chính tình yêu trong mỗi người chúng ta. Tất nhiên tự sức mình, chúng ta khó có thể đạt được hòa bình chân thật. Nhưng với ơn Chúa, hòa bình chân thật có thể được tìm ra. Nói tóm lại, muốn có hòa bình thực sự, con người phải đi tìm hòa bình từ chính Thiên Chúa là Đấng duy nhất có quyền ban hòa bình. Không ai có quyền ban hòa bình cho dù là các Thánh...

Hòa bình là điều cần thiết cho mọi người ở mọi môi trường. Chủng viện chúng con đang ở cũng cần hòa bình. Và hòa bình nào cũng phải được xây dựng trên tình yêu của Chúa. Điều này đòi hỏi mỗi người chúng con ngay từ bây giờ phải biết thực hành sống yêu thương, thông cảm và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau. Nếu ở trong chủng viện, chúng con không tập cho mình được thói quen xây dựng hòa bình, sống yêu thương phục vụ, sau này khi ra làm việc, chúng con sẽ khó có thể kiến tạo hòa bình với mọi người chung quanh. Nếu bây giờ chúng con không thực sự thông cảm và yêu thương anh em, sau này chúng con cũng khó thông cảm yêu thương ngươi giáo dân mà chúng con có trách nhiệm chăm sóc. Hòa bình xuất phát từ tình yêu thương. Phải tập sống yêu thương chân thành, yêu thương trọn vẹn, và yêu thương bằng hành động, chứ không phải chỉ có trên môi miệng.

Chúng ta cầu xin Chúa cho mỗi người chúng ta được chính sự bình an của Chúa, để chúng ta biết yêu thương anh em mình một cách chân thành. Yêu vì Chúa chứ không phải vì một lý do nào khác. Yêu cách trọn vẹn chứ không phải chỉ trong nhà nguyện, hay khi đọc kinh xem lễ. Kinh nghiệm cho Cha thấy hòa bình chỉ có được bằng sự yêu thương. Như vậy, lời chúc bình an trong thánh lễ mới có ý nghĩa. Và trên hết, những người tận hiến cho Chúa phải là những người xây dựng hòa bình. Amen.

 
Bài 15: Linh Mục Thời Đại
Bài huấn đức tối 29-04-91
 
Cha chẳng có chương trình gì cả. Thỉnh thoảng Cha đến nói chuyện với chúng con thôi. Hôm nay Cha muốn nói với chúng con về linh mục thời đại.

Chúng con làm linh mục trong thời đại nào? Hay nói cách khác, chúng con đang sống trong tình hình, hoàn cảnh nào của thế giới, của Giáo Hội nào, địa phận nào?

Chúa sinh ra chúng ta và đặt chúng ta vào trong thời đại này, vào hiện tại. Tất cả chúng ta đều ở trong chương trình của Chúa, trong kế hoạch của Ngài. Tại sao chúng ta đã không được sinh ra trong thời kỳ khác, như thời Vua Lê Lợi, hay Vua Gia Long chẳng hạn mà lại sinh vào thời đại này? Đối với nhiều người, đó là sự ngẫu nhiên. Còn đối với Chúa, đó lại là một huyền nhiệm mà chúng ta không thể hiểu và giải thích được. Các Thánh nhận xét: “Lịch sử của một con người là lịch sử của Thiên Chúa trong con người đó”. Vậy, lịch sử của tôi là lịch sử của Thiên Chúa trong con người tôi, trong cuộc đời tôi. Điều này làm cho chúng ta phải tự vấn: Lịch sử của Thiên Chúa trong con người tôi như thế nào? Thành công hay thất bại?

Chúng ta đang sống vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX. Chắc chắn Thiên Chúa có một chương trình riêng cho thời kỳ này. Đó là điều chúng ta phải tin tưởng và xác quyết để sống một cách quyết liệt. Phải thú nhận rằng, một số lớn giáo dân, nhiều giáo sĩ và ngay cả Cha đã có những lúc không để ý gì đến chương trình của Thiên Chúa nơi mình và trong lịch sử. Sống một cách mông lung, vô định, mặc cho hoàn cảnh đưa đẩy. Chúa mời gọi chúng ta cộng tác với Ngài. Không phải như những nhân viên ở văn phòng làm cho hết giờ để lãnh lương. Nhưng như những bạn hữu cùng sống chết. “Thầy không gọi các con là tôi tớ, mà là bạn hữu thân tình”. Vì thế, chúng ta cần nhận ra chương trình của Thiên Chúa trong mỗi thời đại, hoàn cảnh, và trong cuộc đời mình để cộng tác với Thiên Chúa cách đắc lực và hữu hiệu. Cha muốn chúng con phải luôn tự hỏi: “Chúa đặt tôi trong hoàn cảnh Giáo Hội Việt nam hiện nay có mục đích gì? Cụ thể hơn: Chúa đặt tôi trong địa phận, xứ họ ... có mục đích gì? Và tôi đã thấy rõ mục đích đó chưa?”

Điểm thứ hai là: nhận định đúng hay sai sẽ dẫn đến thành công hay thất bại. Cha lấy hai ví dụ lịch sử sau đây để giúp chúng con hiểu rõ hơn.

Trong thế chiến thứ II, quân đội của Đức và Pháp tập trung hai bờ sông Rheine. Người Pháp nghĩ rằng muốn cầm cự được với Đức, phải xây chiến tuyến Marinô kéo dài theo bờ sông này. Và họ rất tin tưởng ở tuyến phòng thủ đó. Thế nhưng, khi cuộc chiến xảy ra, chiến tuyến này trở nên vô dụng, vì quân Đức tiến lên phía bắc, chiếm Hòa Lan và Bỉ rồi tràn xuống Pháp, chứ không đánh thẳng vào chiến tuyến Marinô. Quân Pháp thất trận vì họ đã nhận định sai chiến lược của Đức.

Cuộc chiến vùng Vịnh Ba Tư vừa rồi cũng vậy. Sadam Hussein của Irak đã nhận định sai về khả năng quân sự của mình cũng như sự hậu thuẫn của các nước Ả Rập, nên đã thất bại hoàn toàn trước quân đội Đồng Minh do Mỹ lãnh đạo chỉ trong một thời gian rất ngắn.

Muốn thành công, cần phải biết nhận định đúng và chuẩn bị những điều kiện cần thiết thích ứng với nhu cầu. Ngay trong cuộc đời của mỗi người cũng vậy. Một cách cụ thể, ơn gọi của chúng con. Có thể nhờ cha mẹ, bà con, họ hàng hoặc Cha Xứ động viên, nhắc bảo mà chúng ta mơ hồ theo tiếng Chúa gọi. Cũng có thể chỉ vì thích giúp lễ, thích mặc áo dòng... mà chúng ta vào chủng viện. Rồi từ từ theo năm tháng, với sự hướng dẫn của các Cha trong chủng viện, chúng ta hiểu rõ ơn gọi của mình hơn và quyết định hoặc tiếp tục theo đuổi, hoặc chuyển hướng ra đời. Nhưng những ai đã quyết tâm theo Chúa trong ơn gọi linh mục, thì phải biết nhận định mình sẽ làm linh mục cho ai, và cho thời đại nào? Thật khác thường và kỳ cục nữa, nếu một chủng sinh trong chủng viện giờ này vẫn còn ao ước được huấn luyện để trở thành như các linh mục của những năm 30, 40. Chúng con phải là linh mục của năm 2000, 2003... Linh mục của thế kỷ XXI. Và khi đã nhận định đúng ơn gọi của mình, chúng con cần phải chuẩn bị hành trang đầy đủ, từ đời sống thiêng liêng, đến kiến thức đạo đời, tinh thần hợp tác làm việc chung với các linh mục khác, cũng như phương cách làm mục vụ, và cách đối xử với giáo dân và người cộng tác. Không chuẩn bị đầy đủ, chúng con sẽ bị thụt lui đàng sau giống như một người còn đang cọc cạch với chiếc xe đạp cũ kỹ trong khi thiên hạ chạy vù vù với xe cúp, xe hơi. Những năm ở chủng viện là thời gian tốt nhất để chuẩn bị hành trang phục vụ cho chúng con sau này.

Ngày trước ở trong Nam có tổ chức Phong Trào Học Hội Kitô Giáo Cursillo do một Giám Mục ở Tây Ban Nha thành lập. Hội này phát triển rất mạnh trên thế giới, nhất là ở Mỹ, và ở các nước Đông Âu hiện nay. Đây là khóa học ba ngày cuối tuần, từ thứ năm đến Chúa Nhật, và đã đem lại nhiều lợi ích cho nhiều người Kitô hữu, kể cả linh mục và tu sĩ. Nhiều người khô khan đã nhờ khóa học này mà trở nên đạo đức, nhiều người tội lỗi trở nên ngoan đạo. Nhưng người đứng đầu khóa học lại là giáo dân. Cha linh hướng khóa chỉ phụ giúp phần thiêng liêng. Khóa học thường đạt kết quả rất cao. Nhiều linh mục tham dự khóa về trở nên sốt sắng hơn. Có cha chia sẻ: “Lạ nhỉ, mình học thần học ở đại chủng viện mấy năm mà không hiểu Chúa, không sốt sắng cho bằng ba ngày khóa học. Chỉ có ba ngày mà lại hơn mấy năm học trong chủng viện. Tại sao vậy? Vì khi ở chủng viện, mình học mà không ý thức. Chỉ lo học để được đủ điểm làm linh mục”. Cha khác nói: “Một phen làm Cụ là làm luôn, không còn sợ mất”. Có nghĩa là chẳng bao giờ muốn cầu tiến nữa. Thật nguy hiểm vì một linh mục như thế càng về lâu càng lỗi thời.

Trong một khóa họp của Hội Đồng Giám Mục Pháp tại Lộ Đức, vấn đề được ưu tiên đặt ra là làm thế nào để đào tạo linh mục tương lai? Phải theo tiêu chuẩn nào? Rất nhiều bài tham luận của các Đức Cha, các Bề Trên chủng viện đóng góp ý kiến cho khóa họp. Và câu then chốt trong phần kết luận được nêu lên như sau: “Chúng ta đào tạo linh mục cho ai, cho thời đại nào, cho những người nào? Hiện giờ giáo dân đòi hỏi chúng ta cung ứng cho họ những linh mục nào? Và giáo dân hiện nay đợi chờ, mong muốn, đòi hỏi linh mục điều gì?”

Đó là điều mà những người có trách nhiệm huấn luyện cũng như chính chúng con cần phải suy nghĩ và hành động ngay từ bây giờ cũng như sau này, để luôn là những linh mục của thời đại.
 
 
Bài 16: Yêu Mến Mẹ Maria
Ngày 01-05-1991 - Lễ Thánh Giuse Thợ

St 1, 26-2, 3; Mt 13, 54-58
 

Thời kỳ Cha còn ở chủng viện, có một cha già 70 tuổi đã nghỉ hưu cũng về sống tại đây, để lo việc linh hồn cho các chủng sinh. Các anh em đều nhận thấy Ngài rất nhẫn nại và hiếu học. Ngài đã đọc trọn bộ quyển Hạnh Các Thánh bằng tiếng Pháp dày cả nghìn trang. Và mỗi khi gặp danh từ nào không biết, Ngài lại hỏi đố anh em chủng sinh để hiểu thêm danh từ đó. Khi biết Ngài đã đọc xong toàn bộ cuộc sách, chúng tôi hỏi Ngài: “Đọc xong bộ sách Hạnh Các Thánh, cha có rút ra được kết luận gì không?” Suy nghĩ một lát, Ngài nói: “Cha nhận thấy một điều này là bất cứ Thánh nào cũng có lòng yêu mến Đức Mẹ”.

Cha cũng vừa mới đọc cuốn sách của Đức Hồng Y hiện đã nghỉ hưu và đang phụ trách Đền Thờ Thánh Phêrô. Cuốn sách ấy có tựa đề: “Những vị Thánh có lòng yêu mến Mẹ Maria cách đặc biệt”. Sách kể ra 20 vị Thánh tiêu biểu. Nói là tiêu biểu vì Thánh nào mà chẳng có lòng yêu mến Đức Mẹ. Trước hết là Thánh Giuse, rồi Thánh Gioan, Ambrôsiô, Augustinô, Anfônsô... và sau cùng là Thánh Maximilien Kolbe.

Thánh Giuse được kể là người yêu mến Đức Mẹ nhất. Như điều thần học thường xác quyết:: “Thiên Chúa ban cho ai chức vụ gì thì một trật cũng ban ơn đủ để chu toàn chức vụ ấy”, Thánh Giuse được Chúa kêu gọi để làm bạn với Đức Mẹ, nên Thiên Chúa cũng đặt tình yêu của Ngài vào trái tim của Thánh Giuse, để Thánh Giuse yêu mến Đức Mẹ thiết tha hơn.

Thật vậy, Thánh Giuse là người có lòng yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt. Ngài không phải chỉ gặp Đức Mẹ một vài lần như những lần Đức Mẹ hiện ra với vị Thánh này, Thánh nọ, hay với người này người kia, nhưng được gặp Đức Mẹ trong suốt mấy chục năm sống ở trần thế. Thánh Giuse luôn ở cùng Đức Mẹ và thấy rõ các nhân đức của bạn mình. Và càng thấy rõ sự trọn lành, vẹn tuyền của Đức Mẹ, Thánh Giuse càng thêm lòng yêu mến, kính trọng Mẹ. Bà Thánh Bênadette đã được Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức nói rằng: “Một khi đã trông thấy Đức Mẹ rồi thì chỉ muốn chết. Tại sao? Vì thấy Đức Mẹ đẹp đẽ quá sức tưởng tượng, không còn muốn xem sự gì nữa mà chỉ muốn chết để được thấy Đức Mẹ mãi”. Vì thế, Thánh Giuse thật quá hạnh phúc vì được sống với Đức Mẹ suốt cả cuộc đời.

Người Việt Nam chúng ta có lòng yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt. Nhưng lòng kính mến ấy có một cái gì thái quá và vụ lợi. Giáo dân Việt Nam mình nhiều khi bỏ công ăn việc làm, bỏ cả những việc bổn phận, để đi đến các trung tâm hành hương Đức Mẹ khấn xin. Và thông thường, họ cũng chỉ khấn xin những điều có lợi cho mình. Nghe đọc danh sách những người xin ơn Đức Mẹ sẽ thấy rõ điều đó: 30 người xin khỏi bệnh, 5 người xin tìm thấy của, 7 người xin khỏi đau mắt... Toàn là xin ơn. Không thấy đá động gì đến lòng kính mến. Đành rằng Đức Mẹ chẳng chối từ ban ơn, nhưng lối kính mến ấy còn mang tính cách của trẻ thơ. Với Mẹ của mình, một đứa bé chỉ biết đòi quà, xin áo quần mới, xin tiền… Xin đủ thứ. Không được như ý thì nó khóc lóc, giận hờn. Nhưng đến lúc lớn lên, người con đối xử với Mẹ mình một cách khác. Không còn xin đòi như ngày trước, nhưng muốn làm tất cả cho Mẹ: Mẹ nghỉ đi, để con quét nhà, thổi cơm cho; hay biếu Mẹ tiền để may mặc, mua sắm tùy ý Mẹ, hoặc dành thì giờ ở với Mẹ… Nói tóm lại, người con trưởng thành muốn làm tất cả những gì Mẹ cần, Mẹ muốn để làm hài lòng Mẹ.

Lòng yếu mến Mẹ Maria của chúng ta cũng phải trưởng thành như thế. Nghĩa là phải vượt qua giai đoạn trẻ thơ luôn đòi xin Mẹ cái này cái khác, để ý thức làm những việc Mẹ vui lòng, học tập bắt chước gương sáng của Mẹ và luôn tự hỏi: Mẹ muốn con làm gì? Rồi hết sức thực hiện điều Mẹ mong muốn, và nhất là luôn sống bên cạnh Mẹ.

Yêu mến Mẹ cũng là ý muốn của Thánh Giuse, vì Thánh Giuse biết rằng Mẹ rất đáng mến yêu. Đức Hồng Y Suenens ở Bỉ, là một nhà thần học nổi tiếng và đạo đức, có lần cùng Vua Baudouin ngồi chung xe và được nghe dân chúng hai bên đường vui mừng tung hô lớn tiếng: “Hoan hô Fabiôla. Hoan hô Fabiôla” (Fabiôla là Hoàng Hậu) Khi về tới cung, Đức Hồng Y gợi chuyện: “Dân chúng lạ thật. Thấy Vua mà lại cứ hoan hô Hoàng Hậu là thế nào nhỉ!” Vua trả lời: “Vì dân chúng biết tôi rất yêu mến Hoàng Hậu và Hoàng Hậu cũng rất yêu mến tôi, nên khi hoan hô Hoàng Hậu, họ biết chắc là tôi rất hài lòng”. Cũng vậy, Thánh Giuse rất vui mừng khi ta yêu mến và tung hô Mẹ Maria, vì Ngài rất mực yêu mến Đức Mẹ.

Theo đức tin và thần học, chúng ta quả quyết Thánh Giuse yêu mến Đức Mẹ nhất. Nếu chúng ta nêu câu hỏi với Thánh Giuse: “Phải làm gì để được ơn cứu độ?”, chắc Ngài sẽ bảo chúng ta yêu mến Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Bởi vì Thánh Giuse đã yêu, đã cảm nghiệm sự tốt lành của Đức Mẹ và Ngài muốn hết mọi người chúng ta hãy yêu mến Mẹ như Ngài. Trái lại, nếu ta hỏi Đức Mẹ, chắc Mẹ cũng sẽ bảo ta yêu mến Thánh Giuse, vì không ai yêu mến Thánh Giuse mà lại không yêu Đức Mẹ và Chúa Giêsu.

Là con cái của các Ngài, chúng ta phải yêu mến cả Đức Mẹ và Thánh Giuse để nhờ đó gặp được Thiên Chúa. Trong các Thông Điệp của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, người ta thấy một điều then chốt được Ngài nhắc đến luôn, đó là danh từ : “Cứu Chuộc”. Các Thông Điệp này có tên: “Đấng Cứu Chuộc”, “Mẹ Đấng Cứu Chuộc”, “Cha Nuôi Đấng Cứu Chuộc”...  Điều này cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của Đức Mẹ và Thánh Giuse trong công cuộc cứu chuộc. Cả hai Đấng đã cộng tác đắc lực trong công cuộc cứu chuộc của Con Chúa. Các Ngài đã nuôi nấng, giáo dục Chúa Giêsu, nên xứng đáng được hưởng vinh phúc với Chúa.

Chúng con là linh mục sau này. Người linh mục càng phải có lòng kính mến Mẹ Maria hơn người giáo dân và yêu mến Mẹ một cách trưởng thành hơn. Vì thế, chúng con cần phải luôn tự hỏi: “Hôm nay, trong lúc này, và hoàn cảnh này, Mẹ muốn con làm gì?” Rồi cố gắng sống chu toàn công việc bổn phận và kết hiệp mọi vui buồn, sướng khổ để cùng với Mẹ dâng lên Thiên Chúa, góp phần thực hiện sứ mạng cứu chuộc của Chúa Giêsu, đem nhiều linh hồn về với Chúa. Và như thế, chúng ta chắc chắn sẽ được hưởng vinh quang muôn đời với Mẹ Maria và Thánh Giuse. Ngày hôm nay, chúng con cũng nhớ cầu nguyện cho Đức Cha Bùi Chu, quan thầy Thánh Giuse Thợ, để Ngài thêm sức lực phục vụ Giáo Hội của Chúa. Amen.

 
Bài 17: Vấn Nạn Của Thế Giới Ngày Nay
Bài huấn đức tối 01-05-1991
 
Lần trước Cha đã nói về linh mục thời đại và con người thời nay cần những linh mục như thế nào. Hôm nay, chúng ta sẽ đi sâu hơn về tính chất và hoạt động của thời đại này. Một cách chung chung, người ta thường gọi thời đại này là thời đại văn minh hay thời đại nguyên tử. Nhưng đúng hơn, đây là thời đại khả năng vô biên của con người. Vì chỉ trong vòng mấy chục năm trở lại đây, khoa học và kỹ thuật đã đưa con người đến những tiến bộ, khám phá vượt bậc mà cả gần hai mươi thế kỷ trước vẫn còn xem là chuyện hoang đường.

Thời kỳ Cha mới đến Roma du học vào năm 1956, một linh mục đã hô hào giáo dân góp tiền để xây nhà thờ trên mặt trăng. Ngài đăng báo hẳn hoi làm cho mọi người đều ngạc nhiên. Nhiều người cho rằng linh mục ấy bị tâm thần, bị chập (tức là không bình thường). Nhưng chỉ hơn một năm sau, Liên Xô phóng phi thuyền thí nghiệm đưa con chó tên Laika lên không gian, rồi sáu tháng sau với phi thuyền Sputnik, Gagarin, người đầu tiên được đưa lên vũ trụ. Thế giới trầm trồ khen ngợi Liên Xô. Họ đặt những tượng hình phi thuyền Sputnik ở nhiều quảng trường để đánh dấu bước tiến vĩ đại này. Đến thời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, vào năm 1969, phi hành gia Armstrong của Mỹ đặt chân xuống mặt trăng và đem về những mẩu đất đá nữa. Trong những ngày lịch sử ấy, qua truyền hình, Đức Thánh Cha chăm chú theo dõi phi vụ chinh phục mặt trăng, một thành quả nói lên khả năng trổi vuợt của con người và quyền năng vô biên của Thiên Chúa... Ngài được vinh dự mời nói vài lời để chuyển lên mặt trăng. Và Ngài đã dùng lại những lời trong sách Sáng Thế Ký của Kinh Thánh: “Từ trước, Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ...” Khi các chuyện ấy cứ liên tiếp xảy ra, chẳng còn ai nhắc đến chuyện ông linh mục “chập” nữa. Chuyện không tưởng ngày trước bây giờ trở thành có thể rồi.

Khả năng của con người đã làm thay đổi mọi lãnh vực của cuộc sống. Ngày xưa các vị truyền giáo ở Âu Châu phải đi tàu thủy mất sáu tháng mới đến Việt Nam. Đến thời Cha du học, từ Sài Gòn đến Marseille bằng tàu thủy mất 21 ngày. Và bây giờ đi máy bay chỉ còn mất khoảng mười tiếng. Năm 1959, đi từ Paris đến New York mất 12 tiếng. Bây giờ chỉ còn 6 tiếng thôi. Thế giới ngày càng văn minh và khả năng con người như vô tận.

Về thực vật, có loại cây từ nguyên thủy đến nay không có hoa, vậy mà bây giờ khoa học làm cho nó ra hoa hoặc đổi màu sắc của hoa. Về dinh dưỡng, thấy rằng ăn thịt nhiều không tốt, con người tìm cách pha chế đỗ (đậu) tương ra những thức ăn có phẩm chất như thịt nhưng lại tốt cho sức khỏe… Đó chỉ là một vài ví dụ thôi. Nói chung, tất cả mọi lãnh vực đều đạt được những thành quả mỹ mãn. Nhưng một số những thành quả này đang trở thành vấn nạn cho Giáo Hội.

Cha thuộc hạng người già. Những vấn nạn này không đụng chạm đến Cha nhiều. Cứ vui vẻ hưởng dùng những phát minh mới. Họ chế đỗ tương ra thịt thì mình ăn. Họ phóng phi thuyền thì mình xem… Nhưng chúng con là những người sẽ phải đương đầu trực tiếp với những vấn nạn đó. Ví dụ: chuyện khoa học thành công trong việc thụ thai nhân tạo. Thời còn chiến tranh Việt Nam, người ta lấy tinh trùng của một Đại Úy Hoa Kỳ đem về Mỹ để thụ thai nhân tạo. Tinh trùng của ông được dùng để thụ thai nhân tạo và cho chào đời 300 đứa bé. Nhưng những đứa bé đó và mẹ của chúng lại không biết ông ta. Vấn đề đặt ra là nếu có cặp nào trong 300 đứa bé cùng bố đó sau này lớn lên và lấy nhau thì phải tính làm sao đây?

Một vấn đề khác cũng rắc rối không kém. Giả sử bây giờ người ta làm thụ thai nhân tạo rồi cấy vào tử cung của con khỉ, để cho khỉ nuôi dưỡng bào thai và sinh ra một “đứa bé”. Vậy thì “đứa bé” đó là người hay là khỉ? Câu hỏi này được đặt ra vì mới đây một người đàn bà mang thai thuê ở Mỹ đã không chịu trao đứa bé vừa sinh ra cho người chủ thuê mình, với lý luận rằng: Chính tôi sinh ra đứa bé thì nó là con của tôi. Rắc rối thật.

Vấn đề thứ hai đang là hố ngăn cách giàu nghèo. Người giàu thì ngày càng quá giàu, trong khi người nghèo thì ngày càng thê thảm. Trên thế giới hiện nay, những người giàu chiếm 2/3 đất đai toàn cầu, trong khi người nghèo chiếm 2/3 số dân thế giới, phải sống chen chúc nhau trên 1/3 đất đai còn lại. Do đó, bất công và nghèo đói cứ kéo dài mãi.

Vấn đề thứ ba: nạn nhân mãn. Dân số thế giới ngày càng tăng. Cứ  3 người sinh ra trên thế giới thì có một người Trung Hoa. Và chỉ nguyên ở Việt Nam, mỗi năm trung bình có thêm 1.200.000 người. Hơn nữa, những tiến bộ về y khoa, về thuốc men chữa trị bệnh, và dinh dưỡng cao cũng giúp con người sống lâu hơn trước. Người thì càng ngày càng đông đúc, trong khi trái đất vẫn như vậy. Vì thế, vấn đề đặt ra là làm thế nào để mọi người có đủ cơm ăn, áo mặc, có nhà ở, có công việc và sống xứng với phẩm giá của mình. Đây không phải chỉ là vấn đề của xã hội nhưng còn đụng chạm đến tôn giáo nữa. Nếu muốn áp dụng kế hoạch giảm dân hay kiểm soát dân số thì phải làm như thế nào? Kế hoạch đó có tôn trọng sự tự do của con người không?

Một vấn đề khác liên quan tới dân số và sự nghèo đói. Lấy nước Ái Nhĩ Lan làm ví dụ. Dân Ái Nhĩ Lan có tỷ lệ Công Giáo rất cao. Họ rất đạo đức và trung thành với đức tin, nên đi đến đâu họ mang đạo đến đó. Ở Anh, đa số người Công Giáo là người Ái Nhĩ Lan, và ở Mỹ một số lớn những người Công Giáo tốt đều có gốc gác từ Ái Nhĩ Lan. Tuy nhiên, ngay ở trong nước Ái Nhĩ Lan đã có một thời mà dân chúng phải sống trong cảnh nghèo khổ. Và vì nghèo, ít người có điều kiện công ăn, việc làm, nhà ở… để lập gia đình một cách chính thức, nhưng con cái thì vẫn được sinh ra. Theo luật Công Giáo và truyền thống đạo đức thời đó, những người “ngoại hôn” này bị loại ra khỏi xã hội, nên càng đói khổ hơn. Kết quả là nạn cướp bóc xảy ra khắp nơi và vấn đề tự tử cũng nhiều hơn. Ngày nay, nhiều quốc gia cũng đang lâm vào tình trạng của Ái Nhĩ Lan ngày trước. Như vậy, vấn đề dân số và nghèo đói không còn chỉ là vấn đề xã hội, nhưng liên hệ cả tới vấn đề tôn giáo, và tâm lý của con người nữa.

Không biết thường ngày chúng con cầu nguyện điều gì? Chẳng lẽ lúc nào cũng thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con ăn cũng được và ngủ cũng được mãi sao”. Lời cầu nguyện của chúng con phải bao gồm những vấn nạn của con người và thế giới ngày nay. Bao gồm những ưu tư của Giáo Hội về ơn gọi, về truyền giáo, về đời sống đạo… Xã hội vô thần hay xã hội văn minh cũng đều có những vấn đề đáng quan tâm. Ngay ở nước Pháp, một nước được xem là Trưởng Nữ của Giáo Hội, cũng đã có những dấu hiệu suy thoái về đạo đức, luân lý. Ngày Chúa Nhật chỉ còn một số ít người Công Giáo đi lễ, và thường là người già cả. Và trẻ em vị thành niên được tự do dùng thuốc ngừa thai… Với chúng ta, mặc dầu còn “ngoan đạo”, Đức Thánh Cha cũng đã cho thấy trước những nguy hiểm phải đương đầu: “Những thách đố lớn cho các Giáo Hội ở Á Châu là trào lưu duy vật, trào lưu tiêu thụ và trào lưu tục hóa”. Nếu chúng ta không quan tâm và chuẩn bị, những trào lưu này sẽ làm cho Giáo Hội và xã hội điêu đứng.

Hôm nay, Cha dừng lại ở đây. Cha muốn chúng con nhận thức được bộ mặt thật của thế giới này. Một thế giới thật văn minh nhưng lại tạo ra hố cách biệt giữa người nghèo và người giàu càng ngày càng lớn. Một thế giới tiêu thụ, vật chất, đang muốn đặt nấc thang giá trị đời người trên tiền bạc, của cải. Một thế giới muốn gạt tôn giáo ra ngoài cuộc sống. Chúng con là những người trực tiếp đương đầu với con người và với thế giới ngày nay. Hãy chuẩn bị thật kỹ bằng cầu nguyện, bằng việc nghiên cứu, và học hỏi những vấn đề của thời đại một cách khoa học. Như thế, chúng con sẽ không bị lạc lõng với con người hôm nay, và có thể giúp họ tìm ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Điệp khúc: “Con cứ về rồi Cha cầu nguyện cho” của Cha xứ để trả lời cho giáo dân đến hỏi ý kiến về những vấn nạn xã hội, gia đình, lương tâm… không còn hữu dụng như ngày trước nữa. Giáo dân ngày nay đã tiến xa. Nếu chúng con không trở thành linh mục của thời đại, họ sẽ bỏ Giáo Hội và chạy theo thế giới. Cha mong muốn tất cả chúng con hãy ý thức điều đó, để chuẩn bị đối phó. Phần còn lại, Chúa sẽ bổ túc cho.
 
 
Bài 18: Tình Yêu, Lề Luật Và Niềm Vui
Thứ năm 02-05-1991 - Tuần 5 Phục Sinh

Cv 15, 7-21; Ga 15, 9-11     
 
Bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe, tiếp tục diễn đạt tư tưởng của Chúa Giêsu về tầm quan trọng của việc liên kết với Chúa để được sự sống dồi dào như cành nho gắn liền với thân nho. Sự liên kết này được trình bày qua ba tư tưởng nổi bật. Đó là: tình yêu, lề luật và niềm vui. Và có thể nói, cuộc đời của người Kitô hữu muốn được trọn lành, đều phải sống trọn vẹn sự kết hợp này. Thật vậy, muốn nên thánh, điều kiện trước tiên là phải yêu mến Chúa. Không phải bằng một tình yêu hời hợt, bên ngoài, nhưng yêu chân thành, yêu trọn vẹn, yêu như Chúa đã chỉ dạy trong Mười Điều Luật: “Yêu Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn, hết sức lực”. Và một sự thật trong tình yêu này là chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước, và Ngài đã làm tất cả cho chúng ta vì yêu thương, ngay cả điểm khởi đầu là cho chúng ta được làm người. Vì thế, khi yêu Ngài, chúng ta đáp lại tình thương Ngài dành cho chúng ta.

Tình yêu luôn phải đi đôi với hành động. Thiên Chúa đã chứng tỏ điều đó trong việc tạo dựng con người và cứu chuộc con người. Tình yêu bằng môi miệng là thứ tình yêu giả dối. Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án loại tình yêu này: “Dân này chỉ thờ Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta”. Hành động yêu thương đối với Chúa được tỏ hiện trong việc thực hành ý muốn của Ngài. Vì thế, chúng ta giữ luật Chúa không phải vì sợ bị phạt, sợ bị bắt lỗi nếu làm sai như trong các luật pháp khác, nhưng trên hết đó là hành động vì lòng yêu mến. Chính Chúa Giêsu cũng đã giữ luật vì yêu thương: “Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người” (Ga 15, 10). Và Ngài cũng bảo đảm với các môn đệ: “Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy”. Người yêu thương nhiều là người luôn thực hiện điều người mình yêu mong muốn.

Và một khi đã chu toàn lề luật, thực hành điều Chúa muốn, niềm vui sẽ tràn ngập trong tâm hồn của chúng ta, vì trước hết chúng ta đã làm vui lòng Chúa, người mình yêu mến. Đó là một niềm vui trọn vẹn, không ai có thể lấy mất đi được, vì được chính Chúa làm nguồn vui. “Niềm vui của Thầy ở trong anh em, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15, 11).

Như vậy, chúng ta thấy có một sự liên hệ mật thiết giữa tình yêu, lề luật và niềm vui. Cuộc sống trong chủng viện hay bất cứ cộng đoàn nào, cũng sẽ trở thành “Thiên Đàng” nếu mỗi người đều ý thức và sống tinh thần đó. Và nếu ngay từ bây giờ, chúng con đã tập sống như vậy, chắc chắn cuộc đời của chúng con sẽ không bao giờ buồn tẻ và niềm vui đó sẽ lan tỏa đến tất cả những người chúng con gặp gỡ, tiếp xúc, hoặc cùng cộng tác trong cuộc sống hằng ngày. Amen.
  
 
Bài 19: Linh Mục Thánh Thiện
Ngày 03-05-1991 - Lễ Thánh Philipphê và Giacôbê Tông Đồ

1Cor 15, 1-8;  Ga 14, 6-14
 
Thánh Philipphê và Giacôbê Tông Đồ là hai chứng nhân tình yêu của Chúa. Các Ngài đã được gần gũi Chúa, được nghe Chúa giảng dạy trực tiếp và đã yêu mến Chúa nhiều. Chắc chắn niềm mong ước của Philipphê được xem thấy Chúa Cha cũng là điều mà Giacôbê và các Tông Đồ khác ước mong. Và khi đã hiểu được ý nghĩa của câu trả lời từ Chúa Giêsu: “Ai thấy Thầy là thấy Cha”, Philipphê và Giacôbê đã hăng say thực hiện lệnh truyền của Chúa là rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, vì biết rằng ý của Chúa Giêsu cũng là ý của Chúa Cha. Các Ngài đã hy sinh tất cả, ngay cả mạng sống mình vì Tin Mừng, vì yêu mến Chúa.

Hôm nay là ngày chúng con tĩnh tâm hàng tháng. Tĩnh tâm là dịp để chúng con nhìn lại đời mình trong tương quan với Thiên Chúa. Nếu lịch sử của một con người là lịch sử của Thiên Chúa trong con người đó, thì chúng con phải sống làm sao để lịch sử của Thiên Chúa được sáng tỏ trong cuộc đời của chúng con. Hai Thánh Philipphê và Giacôbê đã làm cho lịch sử của Thiên Chúa được tỏ hiện trong cuộc sống trung thành với ơn gọi, hy sinh tất cả vì Chúa và Tin Mừng. Và đó chính là tấm gương sáng để chúng con noi theo.

Trong dịp này, Cha muốn chúng con suy nghĩ về lời chia sẻ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II với các chủng sinh nhân dịp gặp các Giám Mục đi dự Ad limina. Với tâm tình của một người Cha, Ngài bày tỏ lòng mong ước như sau: “Một  linh mục được huấn luyện kỹ lưỡng là một điều thiện hảo của Giáo Hội”. Những lời này nhắc nhở chúng con về mục đích của ơn gọi linh mục. Theo đúng nghĩa thần học: linh mục là người của Chúa và là người của Giáo Hội. Vì thế, điểm ưu tiên trong đời linh mục là vì Chúa và Giáo Hội. Một người được chọn gọi làm linh mục trước tiên là để lo việc Chúa. Là người đại diện của Chúa, linh mục tiếp tục ban ơn, chúc lành và lo lắng cho giáo dân. Là người đại diện của giáo dân, linh mục cử hành phụng vụ, đọc sách nguyện... để thờ phượng, cảm tạ và tôn vinh Chúa. Có thể nói linh mục “là một hồng ân quí giá cho dân chúng”. Ngài giữ một vài trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng và phát triển đời sống cộng đoàn dân Chúa. Thánh Gioan Vianey quả quyết: “Một xứ đạo không có linh mục thì từ từ giáo dân sẽ bỏ đạo hết”. Đàng khác, linh mục là ánh sáng soi dẫn cho người giáo dân. Nên trước hết, cuộc sống của linh mục phải trở thành tấm gương sáng để người giáo dân noi theo, nhất là gương phục vụ và yêu thương, không chỉ dành cho những người giáo dân của mình nhưng cho tất cả mọi người lương giáo. Và như vậy, linh mục mới thật sự là người của Chúa, của Giáo Hội, vì cuộc đời linh mục không chỉ dành cho giáo dân nhưng cho tất cả mọi người.

Chúng con cần để ý đến quy luật tự nhiên sau đây: Linh mục thánh thiện thì giáo dân sốt sắng, linh mục sốt sắng thì giáo dân đạo đức, linh mục đạo đức thì giáo dân tử tế, linh mục tử tế thì giáo dân tội lỗi. Cứ giảm một bậc. Lời Đức Thánh Cha trên đây tuy ngắn gọn nhưng quá đầy đủ. Muốn làm linh mục tốt, chúng con trước hết phải là những chủng sinh tốt trong mọi lãnh vực trí dục, thể dục và nhất là đạo đức. Một linh mục thánh thiện, đạo đức sẽ làm cho giáo dân cũng thánh thiện đạo đức theo, và như thế cả cộng đoàn sẽ trở thành gương sáng cho những người lương dân. Amen.  

 
Bài 20: Hiễm Họa Của Thế Giới Văn Minh
Bài huấn đức tối 03-05 1991
 
Hôm kia, chúng ta đã nói về khả năng vô biên của con người trong thế giới ngày nay, một thế giới văn minh nhưng lại đầy dẫy những người nghèo khổ. Vừa rồi, nước Kenya ở Phi Châu được thế giới tha nợ. Chắc họ đọc Kinh Lạy Cha nhiều lắm: “Xin tha nợ chúng tôi”, nên mới được tha bổng vì chẳng có gì để trả. Nước Việt Nam chúng ta cũng lắm nợ, nợ Nhật Bản, nợ Liên Xô... Nói chung, các nước thuộc thế giới thứ ba đều như thế. Một số nước giàu ung dung ngồi cho các nước nghèo vay nợ lấy lời. Các nước nghèo biết vay là khổ nhưng vẫn cứ vay vì không đào đâu ra tiền nuôi dân. Và cứ thế, nợ nần ngày càng chồng chất. Nhiều khi hằng năm, 40% tổng sản lượng quốc gia của những nước nghèo này phải dùng để trả nợ và tiền lời. Các nước giàu đương nhiên làm bá chủ kinh tế, vì thế bá chủ luôn cả chính trị. Nghèo đói và bất công tiếp tục hoành hành.

Trước tình hình tối tăm đó, Hiến Chế “Vui Mừng và Hy vọng” của Công Đồng Vatican II đã ra đời và nhập cuộc vào mặt trận này: “Vui mừng và hy vọng của con người và thế giới là vui mừng và hy vọng của Hội Thánh”. Bằng những lời này, Giáo Hội muốn chia sẻ những nỗi lo âu của con người thời đại và kêu gọi tất cả mọi người Kitô Hữu dấn thân vào môi trường xã hội để canh tân và phát triển thế giới, đem lại tự do, công bằng và phẩm giá cho mọi người. Nói cách khác, Giáo Hội muốn đồng hành với con người, muốn gánh vác những gánh nặng đang đè bẹp con người, như Chúa Giêsu ngày xưa, để đưa con người ra khỏi vực thẳm của bất công và nghèo đói. Mặt khác, Giáo Hội cũng nhận ra những hiểm họa trong thế giới văn minh ngày nay, nhất là hiểm họa về trào lưu duy vật vô thần và trào lưu tiêu thụ, nên càng kêu gọi con cái mình cảnh giác và dấn thân xây dựng một xã hội lành mạnh hơn.

Hiểm họa của duy vật vô thần. Nhìn vào bản đồ thế giới hiện nay, chúng ta thấy con số các nước không tin Chúa ngày càng lan rộng. Ngày trước, người ta nghĩ chỉ có các nước Cộng Sản mới vô thần. Nhưng bây giờ, vô thần xâm chiếm vào ngay cả những nước được xem là tự do và đã có nền văn minh Kitô Giáo từ lâu đời. Đây là loại vô thần thực tiễn. Muốn gạt tôn giáo ra ngoài đời sống, để yên tâm hưởng thụ vật chất. Loại vô thần này có sức quyến rũ mãnh liệt vì đánh trúng vào bản tính và thị hiếu của con người muốn ăn sung mặc sướng, muốn mọi sự thoải mái, dễ dãi, muốn hoàn toàn tự do làm theo ý mình. Đây chính là hiểm họa lớn nhất trong thế giới hiện nay.

Hiểm họa của trào lưu của tiêu thụ. Trào lưu này đang phát triển mạnh, vì gắn liền với những nhu cầu tự nhiên của con người. Hơn nữa, con người ngày nay quá đề cao tự do, nên sự tiêu thụ lại càng bị lạm dụng. Người ta thấy có hai loại bệnh khác nhau trên thế giới: Các nước giàu chết vì đau tim mạch, huyết áp, nhồi máu cơ tim... vì ăn uống quá đầy đủ. Còn bệnh ở các nước nghèo là phong hủi, ho lao, dịch tễ, sốt rét... vì thiếu dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh thấp kém, và y tế thiếu hụt.
Chúng ta đã xem phim “Ngài đi đâu” (Quo vadis) và thấy rằng, ngay từ thời Hoàng đế Nêron của Đế Quốc La Mã cách đây gần 2000 năm, con người đã tìm cách sống hưởng thụ tối đa. Những người giàu có thường ngày ngủ, đêm chơi, ăn uống dư thừa, phung phí, lại có cả thuốc uống vào cho ói thức ăn ra để có thể ăn món khác.
 
Ngày nay, ở các nước văn minh, thức phẩm ăn uống cũng dư thừa và đủ loại. Nhiều người chỉ nghĩ đến ăn uống. Châm ngôn của họ là “sống để ăn”. Và bệnh béo phì trở thành một hiện tượng thời đại. Thấy bệnh này nguy hiểm, người ta kiếm cách loại trừ những chất béo trong thực phẩm. Ăn gà, họ chỉ còn ăn hai cái ức vì sợ mỡ. Người Việt Nam sang đó, cứ mua đầu cánh về dùng hết. Họ cũng sợ không dám ăn đường, cacao, vì sợ mập và ung thư. Cha sang đó chẳng sợ gì cả. Kẹo xôcôla, bánh ngọt... Cha đều dùng hết. Mấy người Việt Nam bên đó hỏi Cha có ăn kẹo không? Cha nói có. Họ hỏi Cha không sợ chết à! Cha bảo: “Không sợ, tôi theo Chúa Giêsu mà”. Họ thắc mắc: “Nhưng Chúa Giêsu có ăn kẹo đâu”. Cha trả lời: “Chúa Giêsu tự xưng “Ta là đường”. Như vậy, ăn những gì có chất đường là theo Chúa”. Họ phải phì cười thôi!

Về ăn mặc cũng thế. Ở các nước giàu, quần áo không phải để che thân, nhưng để làm đẹp. Họ chạy theo thời trang, nay “mốt” này, mai “mốt” khác. Áo quần chỉ mặc một năm là bỏ. Có người chỉ mặc một lần thôi. Về phương diện giải trí, họ cũng tận hưởng tối đa. Mỗi cuối tuần, họ tìm cách đi chơi chỗ này chỗ kia. Và vào những dịp nghỉ lớn, họ sắp xếp đi chơi xa, tiêu tiền cách phung phí. Mùa hè, họ đi tắm biển. Mùa đông đi trượt tuyết. Thời Cha ở Paris, ngày Chúa nhật, cha xứ làm lễ khỏi giảng, vì giáo dân đi nghỉ cuối tuần hết rồi, chỉ còn lại mấy người già. Ngay ở Roma, đến tháng 8, thiên hạ cũng đi nghỉ hè đồng loạt làm thành phố vắng hoe. Và các linh mục cũng thu xếp ngày giờ để đi nghỉ hè. Xã hội tiêu thụ đã bày ra những nhu cầu đó. Và thiên hạ cứ chạy theo.

Còn vấn đề du lịch ngày nay đang trở thành một tệ nạn ở nhiều nơi. Người ta đi từ nước này đến nước kia, mang theo các tập tục, phong tục của họ, hay cũng có mà dở cũng có. Đàng khác, để thu hút và kiếm lợi, nhiều dịch vụ đứng ra tổ chức những chuyến du lịch có kèm theo cả việc ăn chơi sa đọa, đến nỗi Hội Đồng Giám Mục Á Châu phải lên tiếng để thức tỉnh những người có trách nhiệm, trước nguy cơ của tệ đoan xã hội này. Đây là một vấn đề đáng cho chúng ta quan tâm, một khi ngành du lịch Việt Nam được phát triển, thu hút nhiều khách du lịch ngoại quốc.
 
Thời Cha làm Giám Mục Nha Trang, Cam Ranh được nổi tiếng vì là nơi đồn trú của quân đội Mỹ và Nam Triều Tiên. Một giáo xứ vùng đó trở nên giàu có nhờ buôn bán và làm các dịch vụ cho quân đội ngoại quốc. Nhưng dần dần, dân chúng ở những vùng khác kéo nhau đến Cam Ranh, vì công việc cũng có, mà vì chuyện ăn chơi đồi bại cũng có. Thấy công việc sau dễ hái ra tiền hơn, dân trong xứ cũng từ từ chuyển hướng. Thế là cả một giáo xứ đạo đức ngày trước, nay chỉ còn các cụ già đi lễ đọc kinh. Và các tệ nạn đĩ điếm, xì ke, ăn nhậu, trộm cướp... tràn lan khắp nơi. Thật là một tai họa ghê gớm.

Cha chỉ đưa ra một vài hình ảnh để chúng con ý thức được vấn đề vật chất tiêu thụ trong thế giới ngày nay rất dễ làm cho người ta xa Chúa. Có thể bây giờ với hoàn cảnh VIệt Nam, những vấn đề trên chưa có gì nghiêm trọng, nhưng từ từ rồi cũng sẽ đến. Vì thế, chúng con cần chuẩn bị tinh thần, và đào sâu kiến thức, nhất là cố gắng thông thạo một ngoại ngữ, để có thể nghiên cứu những vấn đề trên thế giới một cách khoa học, và tìm ra phương cách đối phó khi sự việc xảy đến. Đừng bao giờ quá thỏa mãn với tình trạng hiện tại vì có giáo dân ngoan ngoãn nghe lời, nhà thờ đông đúc, sinh hoạt giáo xứ tấp nập, rồi không lo chuẩn bị trước. Ma quỷ với cám dỗ vật chất sẽ đánh phá mọi sự tan tành nếu chúng ta không chuẩn bị kỹ. Đó chính là trách nhiệm của chúng con sau này.
 
 
Bài 21: Thế Gian Ghét Bỏ
Thứ bảy 04-05-1991 - Tuần 5 Phục Sinh

Cv 16, 1-10; Ga 15, 18-21
 

Tối hôm qua, chúng ta đã có dịp đọc bài Phúc Âm hôm nay để suy ngắm đề tài “Thế gian ghét bỏ các Tông Đồ”. Bây giờ, Cha triển khai thêm một vài khía cạnh của chủ đề đó. Trong Phúc Âm của Thánh Gioan, chúng ta thường gặp hai tư tưởng đối nghịch nhau: sống và chết; ánh sáng và bóng tối; yêu và ghét... Và qua bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy người môn đệ của Chúa Giêsu thường bị thế gian chê ghét, bắt bớ. Đây là một sự đối đầu thật sự, chứ không phải chỉ là thái độ lãnh đạm, dửng dưng giữa hai người không thích nhau. Thánh Gioan dùng động từ “ghét” để nói lên sự đối địch này. Và có hai lý do đã khiến thế gian ghét bỏ người môn đệ của Chúa.

Lý do thứ nhất: vì cuộc sống của các Tông Đồ luôn đối nghịch với cách sống của thế gian: thanh liêm đối đầu với bất công, trong sạch với bê bối, thật thà với gian xảo. Chính cuộc sống này của các Tông Đồ làm cho người thế gian phải nhìn lại mình và cảm thấy khó chịu vì họ không muốn từ bỏ cách sống dễ dãi này.

Lý do thứ hai: vì các Tông Đồ đã đi theo Chúa Giêsu, và giảng dạy cho dân chúng những giáo huấn của Chúa đi nghịch lại với thị hiếu của thế gian. Vì thế, họ đâm ra thù nghịch với các Tông Đồ và tìm cách bắt bớ, giết chết các ngài như đã lên án và giết chết Chúa Giêsu.

Muốn hoàn toàn theo Chúa, chúng ta cần phải ý thức sự đối nghịch này và sẵn sàng chấp nhận mọi gian nan, thử thách vì Chúa, vì Giáo Hội như các Tông Đồ ngày xưa. Sách Công Vụ Tông Đồ kể lại, sau khi Chúa lên trời, Gioan, Phêrô bị Hội Đồng Do Thái bắt bớ, đánh đập; Giacôbê bị đẩy từ đỉnh cao đền thờ xuống... Và tất cả các Tông Đồ còn lại, ngoại trừ Gioan, cũng cùng chung số phận. Ngay cả những người Kitô Hữu đầu tiên cũng đã bị bách hại vì tin theo Chúa Giêsu.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã tiên báo cho các Tông Đồ về số phận của các ông và những người theo Ngài: “Chúng con sẽ bị loại ra khỏi hội đường, bị đánh đập...” Thực vậy, các Tông Đồ bị ngược đãi, bị trục xuất khỏi hội đường, bị bắt bớ, đánh đập và cả giết chết. Lời nhắc nhở của Chúa: “Tôi tớ không trọng hơn chủ, môn đệ không hơn Thầy” đã ứng nghiệm cho cả Giáo Hội trong ba thế kỷ đầu tiên. Và thật mỉa mai, như lời Chúa nói, những người ra tay bách hại, giết chết các Tông Đồ lại nghĩ rằng mình làm thế vì vinh danh Chúa. Tuy nhiên, các Tông Đồ vẫn can đảm tiến bước trước mọi gian lao, thử thách, vì yêu mến Chúa, vì cảm thấy Chúa thật sự ở bên mình như lời Chúa hứa: “Thầy ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế”, và đđặc biệt vì luôn được Mẹ Maria an ủi, nâng đỡ, khuyến khích.

“Môn đệ không hơn Thầy”, chúng ta ý thức điều đó để luôn đứng vững trước mọi thách đố của cuộc sống. Và chúng ta càng tin tưởng mình sẽ chiến thắng tất cả vì có Chúa ở cùng chúng ta và luôn được Mẹ Maria quan tâm nâng đỡ như các Tông Đồ ngày xưa. Không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa như lời Thánh Phaolô đã xác quyết.

Cha có quen Đức Cha Steven người Úc. Ngài đã già và về hưu. Khi Thủ Tướng nước Úc ban hành một số chính sách thiếu nhân đạo, Đức Cha Steven đã lên tiếng phản đối trước truyền hình. Ít ngày sau, Thủ Tướng cũng phát biều trên đài truyền hình và nói những lời nặng nề miệt thị Ngài. Thấy thế, một số nhà báo đến phỏng vấn Ngài: “Đức Cha đã nghỉ hưu rồi còn lên tiếng làm gì để cho ông Thủ Tướng miệt thị”. Ngài trả lời ngắn gọn nhưng sâu sắc: “Tôi già rồi, nên càng phải nói sự thật. Vì chính Thiên Chúa sẽ phán xét tôi chứ không phải ông Thủ Tướng”.

Bất cứ một chọn lựa tốt lành nào cũng đòi hỏi nhiều nhiều can đảm và hy sinh. Xin Chúa cho chúng con thêm can đảm để bảo vệ chân lý tới cùng. Amen.

Tác giả bài viết: Đức HY FX Nguyễn Văn Thuận

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

  • Đang truy cập53
  • Máy chủ tìm kiếm10
  • Khách viếng thăm43
  • Hôm nay4,040
  • Tháng hiện tại613,028
  • Tổng lượt truy cập11,365,382
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây