Đứng vững trong những nhà tù vô hình. Phần 2

Thứ sáu - 08/05/2026 22:03
Thời đại của chúng ta là thời đại của tiếng ồn. Người ta thức dậy với điện thoại và đi ngủ với điện thoại. Người ta không chịu nổi vài phút không có gì để xem, không có gì để lướt, không có gì để nghe. Sự thinh lặng trở thành điều khó chịu. Nhưng chính vì thiếu thinh lặng, linh hồn ngày càng nông.
hy thuan peace

 

NHÀ TÙ NHƯ CHỦNG VIỆN CỦA HY VỌNG, THÁNH THỂ TRONG ĐÊM TỐI, ĐỜI SỐNG NỘI TÂM CỦA ĐỨC HỒNG Y THUẬN NHƯ TRƯỜNG HỌC CHO LINH MỤC TRẺ VÀ GIÁO DÂN HÔM NAY

Có những nơi con người đi vào với cảm giác như đời mình đang khép lại. Có những hoàn cảnh thoạt nhìn chỉ thấy bóng tối, chỉ thấy mất mát, chỉ thấy nghẹt thở, chỉ thấy một cánh cửa đóng sầm lại trước tương lai. Nếu nhìn bằng mắt xác thịt, nhà tù là nơi chôn vùi bao dự tính, là nơi cắt đứt bao tương quan, là nơi bào mòn sức sống và dễ làm con người co rúm lại trong đau đớn, trong oán trách, trong cảm giác mình bị bỏ quên. Nhà tù là nơi người ta bị lấy mất quyền đi lại, lấy mất không gian quen thuộc, lấy mất nhịp sống bình thường, lấy mất cả cảm giác mình còn làm chủ được đời mình. Không ai đi vào nhà tù mà thấy đó là nơi đáng mơ ước. Không ai tự nhiên bước vào cảnh bị giam hãm mà coi đó là món quà. Nhưng trong lịch sử các thánh, trong hành trình của những tâm hồn thật sự thuộc về Chúa, ta lại thấy một nghịch lý rất lạ: chính nơi tưởng chỉ có mất mát, Thiên Chúa lại âm thầm làm nên một cuộc sinh thành mới. Chính nơi tưởng chỉ có bóng tối, ánh sáng lại được tinh luyện. Chính nơi tưởng chỉ có chôn vùi, hạt giống lại được vùi xuống để mọc lên. Và nơi Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nghịch lý ấy hiện lên rực rỡ đến độ khiến chúng ta không thể chỉ dừng lại ở sự khâm phục, nhưng phải cúi đầu học hỏi.

Nếu ở phần trước, chúng ta đã cùng nhau chiêm ngắm ngài như người đứng vững giữa những nhà tù vô hình bằng cách đặt Chúa ở trung tâm, sống phó thác và tha thứ, thì ở phần này, ta cần đi sâu hơn nữa vào mầu nhiệm nội tâm của ngài. Bởi vì nơi Đức Hồng Y Thuận, nhà tù không chỉ là nơi chịu đựng. Nhà tù đã trở thành một chủng viện. Một chủng viện không có giảng đường. Một chủng viện không có sách vở đầy đủ. Một chủng viện không có tiếng chuông báo giờ kinh. Một chủng viện không có cộng đoàn theo nghĩa quen thuộc. Một chủng viện không có những nghi thức đào tạo như người ta vẫn hình dung. Nhưng lại là chủng viện của hy vọng, chủng viện của Thánh Thể, chủng viện của lòng tín thác, chủng viện của tự do nội tâm, chủng viện của sự trưởng thành thiêng liêng rất sâu. Ở đó, ngài không học thêm tri thức, nhưng học để trở nên rỗng hơn cho Chúa. Ở đó, ngài không học thêm lý thuyết mục vụ, nhưng học để trái tim mình hoàn toàn thuộc về Chúa hơn. Ở đó, ngài không chỉ chịu đau, nhưng để đau khổ trở thành nơi Thiên Chúa đào luyện một mục tử tinh ròng hơn, nhẹ mình hơn, sâu hơn, hiền hơn, và hoàn toàn phó thác hơn.

Chúng ta nên dừng lại ở chữ “chủng viện” này thật lâu. Chủng viện là nơi đào tạo. Chủng viện là nơi uốn nắn. Chủng viện là nơi thanh luyện những gì còn thô, còn nông, còn đầy cái tôi, còn nhiều tham vọng lẫn lộn. Chủng viện là nơi dạy một con người biết rời bỏ mình để thuộc trọn về Chúa Kitô. Chủng viện là nơi tập cho một người trẻ không sống theo cảm xúc, nhưng theo ơn gọi. Chủng viện là nơi dạy người ta yêu Chúa hơn cả công việc của Chúa. Chủng viện là nơi dạy sống kỷ luật, thinh lặng, cầu nguyện, phân định, khiêm nhường và trung thành. Thế mà nơi Đức Hồng Y Thuận, chính nhà tù lại trở thành chủng viện cuối cùng và sâu nhất. Nếu những năm trước đó là thời gian chuẩn bị cho sứ vụ, thì những năm trong tù như một cuộc phong chức lại từ bên trong. Nếu trước đó ngài đã là linh mục, giám mục theo chức thánh, thì trong tù, Thiên Chúa lại đào luyện ngài trở thành của lễ sống động một cách triệt để hơn. Ngài không chỉ “làm” mục tử. Ngài “trở thành” mục tử theo chiều sâu của thập giá.

Điều này làm ta nhớ đến chính con đường của Chúa Giêsu. Ngài không cứu độ thế gian chủ yếu bằng những bài giảng hùng hồn, dù Ngài đã giảng tuyệt vời. Ngài không cứu thế gian chủ yếu bằng phép lạ, dù Ngài đã làm biết bao phép lạ. Ngài cứu thế gian bằng thập giá, bằng sự tự hiến, bằng việc đi vào tận cùng của mất mát và vâng phục. Đức Hồng Y Thuận bước theo con đường ấy. Và nhà tù, xét về mặt con người, là nơi cắt đứt sứ vụ; nhưng xét trong ánh sáng đức tin, lại là nơi Chúa đưa ngài vào chiều sâu cuối cùng của ơn gọi. Có những người chỉ trưởng thành khi còn làm được nhiều việc. Nhưng cũng có những người chỉ trưởng thành thực sự khi bị lấy mất khả năng làm việc. Khi ấy, họ buộc phải đối diện với câu hỏi đau nhất: nếu không còn làm được gì lớn lao, tôi là ai trước mặt Chúa? Nếu không còn vai trò, không còn chức năng, không còn ảnh hưởng, không còn bận rộn, tôi còn giữ được giá trị không? Nếu bị tước mất những gì từng làm nên căn tính bên ngoài của mình, phần lõi bên trong có còn đứng vững không? Nhà tù đã ép Đức Hồng Y Thuận đi tới tận cùng của câu hỏi ấy, và câu trả lời của ngài thật đẹp: con vẫn là người của Chúa, dù bị lấy mất mọi thứ khác.

Nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân hôm nay cũng đang phải học bài học ấy, dù không ở tù theo nghĩa đen. Có những linh mục bị đau bệnh, không còn giảng lâu, không còn đi nhiều, không còn hoạt động như trước. Có những người tận hiến phải sống âm thầm trong những công việc nhỏ bé, không ai biết đến. Có những giáo dân từng rất hăng say, rồi biến cố gia đình, kinh tế, sức khỏe, tuổi già khiến họ không còn làm được như xưa. Có những người trẻ từng mơ về một đời rực rỡ, rồi bị thực tế bẻ gãy những dự tính đẹp. Có những người từng nghĩ mình rất yêu Chúa, nhưng đến khi Chúa lấy đi một điều quan trọng thì mới biết mình yêu Chúa hay chỉ yêu cảm giác được thành công với Chúa. Nhà tù của Đức Hồng Y Thuận vì thế không phải chỉ là chuyện của quá khứ, mà là một mạc khải cho hiện tại. Mỗi lần cuộc đời lấy bớt đi một điểm tựa, Chúa đang hỏi ta: con có còn chọn Ta không?

Khi nói nhà tù là chủng viện của hy vọng, ta không được hiểu hy vọng theo nghĩa hời hợt, lạc quan tâm lý, hay kiểu tự trấn an cho qua ngày. Hy vọng Kitô giáo không phải là nghĩ tích cực. Hy vọng không phải là cố tự nhủ rằng rồi mọi chuyện sẽ ổn theo ý mình. Hy vọng không phải là ảo tưởng một kết thúc đẹp như mình muốn. Hy vọng là bám vào Thiên Chúa khi chưa thấy gì chắc chắn ở phía trước. Hy vọng là tin rằng Thiên Chúa vẫn đang làm việc ngay cả khi mình không hiểu. Hy vọng là tin rằng bóng tối không phải là tiếng nói cuối cùng. Hy vọng là dám sống trung thành trong khi chưa thấy kết quả. Hy vọng là gieo hạt trong nước mắt mà chưa biết bao giờ gặt. Hy vọng là quỳ xuống cầu nguyện trong khô khan mà không bỏ cuộc. Hy vọng là vẫn hiền lành khi bị đối xử bất công. Hy vọng là không để lòng mình chết dần trước khi hoàn cảnh đổi thay.

Đức Hồng Y Thuận đã học hy vọng theo nghĩa ấy. Nếu ai đó hỏi hy vọng của ngài được nuôi bằng gì, có lẽ câu trả lời đầu tiên phải là: bằng việc không sống ngoài hiện tại. Một trong những cám dỗ lớn nhất của người đau khổ là cứ lao về phía tương lai trong nỗi sợ, hoặc quay ngược về quá khứ trong nuối tiếc. Tương lai làm mình bồn chồn. Quá khứ làm mình tan nát. Và thế là hiện tại bị bỏ hoang. Nhưng chính trong hiện tại, Thiên Chúa ban ơn. Chính trong hiện tại, linh hồn được cứu. Chính trong hiện tại, con người gặp Chúa. Đức Hồng Y Thuận dường như đã học rất sâu điều này: sống giây phút hiện tại, làm cho giây phút hiện tại tràn đầy tình yêu. Không phải vì tương lai không quan trọng, nhưng vì tương lai nằm trong tay Chúa. Không phải vì quá khứ không đau, nhưng vì quá khứ không còn là nơi ta sống được nữa. Chỉ có hiện tại là bàn thờ thật, nơi ta dâng lên Chúa sự trung thành của mình.

Nơi đây, linh đạo của ngài trở thành một bài học đặc biệt cho linh mục trẻ. Thời nay, một linh mục rất dễ bị cuốn vào nhịp sống hoạt động, vào kế hoạch mục vụ, vào lịch trình dày đặc, vào sự thúc bách của công việc. Điều đó không xấu. Nhiệt thành mục vụ là điều quý. Nhưng nguy hiểm là linh mục có thể dần đồng hóa đời mình với hiệu quả. Khi bài giảng được khen, lòng vui. Khi cộng đoàn đông, lòng phấn chấn. Khi giáo xứ hoạt động tốt, khi chương trình thành công, khi được mời nhiều nơi, khi ảnh hưởng tăng lên, người ta dễ tưởng mình đang rất ổn trong ơn gọi. Nhưng rồi chỉ cần gặp một thời kỳ khô khan, một hiểu lầm, một giới hạn sức khỏe, một thất bại mục vụ, một giáo dân chống đối, một bề trên chưa hiểu, một cộng đoàn lạnh nhạt, một nơi phục vụ quá nghèo nàn, tâm hồn có thể rối loạn. Tại sao? Vì rất có thể người linh mục ấy đã sống nhiều với công việc của Chúa hơn là với chính Chúa. Đức Hồng Y Thuận trong nhà tù dạy linh mục trẻ một bài học rất mạnh: nếu một ngày Chúa lấy khỏi tay con hết mọi hoạt động, điều gì còn lại trong lòng con? Nếu không còn bục giảng, không còn nhà thờ đông người, không còn những việc khiến con thấy mình hữu ích, con có còn thấy mình là linh mục trong chiều sâu không?

Nhà tù như chủng viện của hy vọng vì thế là nơi cắt bỏ ảo tưởng. Ảo tưởng rằng mình kiểm soát được đời mình. Ảo tưởng rằng ơn gọi của mình chỉ có giá trị khi nó sinh hiệu quả thấy được. Ảo tưởng rằng Chúa cần mình theo cách mình nghĩ. Ảo tưởng rằng nếu mình không làm thì mọi sự sẽ sụp đổ. Ảo tưởng rằng thành công mục vụ đồng nghĩa với sự thánh thiện. Ảo tưởng rằng bận rộn là dấu của trung tín. Nhà tù tước bớt những thứ ấy, để chỉ còn lại một câu hỏi nền tảng: con có ở lại với Chúa không? Và chính ở đó, hy vọng nảy mầm. Vì hy vọng không sinh ra từ việc tôi mạnh, nhưng từ việc tôi biết mình yếu mà vẫn được Chúa ôm giữ. Hy vọng không sinh ra từ việc mọi chuyện rõ ràng, nhưng từ việc tôi tin có một bàn tay vô hình đang dẫn tôi đi. Hy vọng không sinh ra từ khả năng nhìn thấy kết quả, nhưng từ lòng xác tín rằng không một giọt nước mắt nào là vô ích trước mặt Thiên Chúa.

Một chủng viện thật sự không chỉ dạy tri thức mà còn dạy thinh lặng. Nhà tù cũng vậy. Có khi điều làm ta sợ nhất không phải là đau, mà là im lặng. Im lặng làm lộ ra tiếng nói thật của lòng mình. Bình thường, người ta trốn khỏi mình bằng công việc, bằng tiếng ồn, bằng các cuộc gặp gỡ, bằng điện thoại, bằng thói quen vội vã. Nhưng khi bị ép vào cô tịch, con người bắt đầu nghe thấy bên trong mình có gì. Có khi là tiếng trách Chúa. Có khi là nỗi giận cũ. Có khi là sự sợ hãi. Có khi là khoảng trống. Có khi là những ước vọng chưa được thanh luyện. Có khi là cái tôi bị tổn thương. Có khi là sự cô đơn rất thật. Nhà tù đã buộc Đức Hồng Y Thuận sống với thinh lặng. Và ngài đã không để thinh lặng ấy biến thành vực sâu nuốt mình, nhưng thành nơi gặp Chúa. Đây là một bí quyết lớn của mọi đời sống nội tâm trưởng thành: biết biến cô tịch thành gặp gỡ. Người không có đời sống nội tâm thì rất sợ ở một mình, vì ở một mình họ sẽ đụng vào sự trống rỗng. Còn người ở với Chúa thì ngay trong cô tịch sâu nhất vẫn không hoàn toàn cô đơn.

Điều này cũng là trường học cho giáo dân hôm nay. Thời đại của chúng ta là thời đại của tiếng ồn. Người ta thức dậy với điện thoại và đi ngủ với điện thoại. Người ta không chịu nổi vài phút không có gì để xem, không có gì để lướt, không có gì để nghe. Sự thinh lặng trở thành điều khó chịu. Nhưng chính vì thiếu thinh lặng, linh hồn ngày càng nông. Không thinh lặng, ta không nghe được mình. Không nghe được mình, ta cũng không nghe được Chúa. Không nghe được Chúa, đời sống thiêng liêng dần biến thành thói quen bên ngoài. Đức Hồng Y Thuận trong nhà tù không có nhiều phương tiện, nhưng lại có một điều mà nhiều người thời nay đánh mất: khả năng đi vào chiều sâu. Không phải ngài thích cảnh tù, nhưng ngài để Thiên Chúa dùng cảnh tù như một trường học của nội tâm. Trong khi ta hôm nay có đủ tiện nghi để sống đạo, nhưng lại dễ sống trên bề mặt.

Và giữa toàn bộ đêm tối ấy, Thánh Thể chính là mặt trời không tắt. Nếu nhà tù là chủng viện của hy vọng, thì Thánh Thể là trái tim của chủng viện ấy. Không có Thánh Thể, hy vọng rất dễ hóa thành sự chịu đựng đơn thuần. Không có Thánh Thể, đời sống nội tâm rất dễ thành sự gồng mình đạo đức. Không có Thánh Thể, tín thác rất dễ biến thành ý chí. Nhưng với Thánh Thể, mọi sự đổi khác. Bởi vì Thánh Thể không chỉ là một thực hành đạo đức. Thánh Thể là chính Chúa Giêsu hiện diện. Thánh Thể là Chúa ở cùng. Thánh Thể là Đấng đã đi qua đêm Vườn Dầu, đã bị phản bội, đã bị bắt, đã bị kết án, đã bị đóng đinh, đã chết và đã sống lại. Chúa Thánh Thể không xa lạ gì với ngục tối của con người. Trái lại, Ngài đã mang trong thân mình mọi bóng tối của nhân loại. Bởi đó, khi Đức Hồng Y Thuận sống với Thánh Thể trong tù, ngài không chỉ cử hành một nghi thức. Ngài chạm vào nguồn mạch của sức mạnh siêu nhiên.

Chúng ta hãy hình dung thật chậm: một căn phòng giam chật hẹp, nghèo nàn, âm u, và ở đó, với vài giọt rượu lễ, với một ít bánh, một vị mục tử âm thầm dâng Thánh Lễ. Không nhà nguyện, không tháp chuông, không cộng đoàn đông đảo, không tiếng ca, không nến sáng lung linh, không khăn bàn thờ tinh sạch, không vẻ đẹp bề ngoài của phụng vụ như ta vẫn quen. Nhưng có Chúa. Và vì có Chúa, không gian ấy vượt xa mọi khung giới hạn trần gian. Cả trời đất như nghiêng mình trước phút ấy. Thánh Thể trong tù là một lời tuyên xưng mạnh mẽ rằng không quyền lực trần gian nào khóa được sự hiện diện của Thiên Chúa. Người ta có thể kiểm soát thân xác ngài, nhưng không thể khóa Chúa. Người ta có thể tước đi tự do đi lại, nhưng không thể lấy mất bàn thờ trong lòng. Người ta có thể ngăn cản những hình thức bên ngoài, nhưng không thể chặn dòng ân sủng. Và như thế, mỗi Thánh Lễ trong tù không chỉ là việc nuôi sống một linh hồn, mà là một cuộc kháng cự thánh thiện chống lại bóng tối.

Ở đây, các linh mục trẻ có một bài học không bao giờ được quên: trung tâm đời linh mục là Thánh Thể, chứ không phải thành công mục vụ. Linh mục tồn tại vì Thánh Thể, sống nhờ Thánh Thể, được định hình bởi Thánh Thể. Một linh mục có thể giỏi tổ chức, giỏi nói, giỏi quản lý, giỏi kết nối, giỏi xây dựng, nhưng nếu không được Thánh Thể nuôi, linh mục ấy sẽ dần khô từ gốc. Người ta có thể nhìn thấy bên ngoài sự năng động, nhưng bên trong có thể đã rạn nứt. Đức Hồng Y Thuận trong tù nhắc các linh mục trẻ rằng: con có thể bị lấy đi nhiều điều, nhưng đừng bao giờ để lòng mình xa Thánh Thể. Vì khi xa Thánh Thể, con rất dễ làm việc của Chúa bằng sức riêng, và rồi con sẽ kiệt sức, cay đắng hoặc tự mãn.

Còn đối với giáo dân, Thánh Thể trong đêm tối của Đức Hồng Y Thuận là một lời mời gọi trở lại với cái cốt lõi. Nhiều người đi lễ vì thói quen, vì bổn phận, vì sợ tội, vì truyền thống gia đình. Những điều ấy không xấu, nhưng chưa đủ. Phải đi tới chỗ gặp Chúa thật trong Thánh Thể. Phải để Thánh Lễ trở thành nguồn sống. Phải hiểu rằng khi tham dự Thánh Lễ, ta không chỉ “đi dự một nghi lễ”, nhưng đang đến với hy tế cứu độ, đang chạm vào Đấng chịu đóng đinh và phục sinh, đang được nuôi bằng chính sự sống thần linh. Nếu Thánh Lễ thật sự trở thành trung tâm, đời ta sẽ khác. Ta vẫn còn khổ, nhưng không còn khổ một mình. Ta vẫn còn lo, nhưng không lo như người không có nơi bấu víu. Ta vẫn còn cô đơn, nhưng không hoàn toàn bị bỏ rơi. Ta vẫn còn giới hạn, nhưng không còn vô nghĩa. Vấn đề của nhiều người Công giáo hôm nay không phải là không có Thánh Thể, mà là ở quá gần Thánh Thể mà không còn run lên vì mầu nhiệm nữa.

Thánh Thể trong đêm tối còn dạy ta một điều rất đẹp: nơi nào có Chúa, nơi đó hy vọng sống được. Không phải hy vọng rẻ tiền, mà hy vọng được trả bằng nước mắt, bằng trung tín, bằng những đêm dài không ai biết. Chúng ta hãy nhớ rằng đêm tối không chỉ là hoàn cảnh khách quan. Đêm tối còn là những mùa linh hồn không cảm thấy gì, cầu nguyện không thấy ngọt, làm việc mà không thấy hoa trái, sống tử tế mà không được hiểu, trung thành mà không được nhìn nhận, dâng hiến mà không được an ủi. Có những người rất đau vì tưởng mình chỉ thật sự sống đạo khi mình có cảm xúc sốt sắng. Nhưng Đức Hồng Y Thuận dạy rằng đời sống thiêng liêng trưởng thành không lệ thuộc hoàn toàn vào cảm giác. Đêm tối không nhất thiết là dấu Chúa bỏ ta. Nhiều khi đêm tối là nơi Chúa đào sâu đức tin, thanh luyện tình yêu, tập cho ta bám vào Ngài hơn là bám vào những consolations đạo đức.

Đức Hồng Y Thuận như muốn nói với linh mục trẻ: con đừng sợ những mùa khô khan, miễn là con còn trung thành. Đừng sợ khi bài giảng của con không còn lửa như mình muốn, miễn là con còn quỳ trước Chúa. Đừng sợ khi giáo dân không hiểu hết lòng con, miễn là con còn giữ được trái tim mục tử. Đừng sợ khi đời mục vụ không đi theo sơ đồ đẹp trong đầu con, miễn là con còn sống thật với Chúa. Đừng sợ khi thấy mình nhỏ, yếu, mệt, vì chính lúc ấy nếu con để Chúa làm việc, con sẽ bớt là người của chính mình và trở nên người của Chúa hơn. Còn với giáo dân, ngài như đang nói: đừng tưởng chỉ khi nào đời mình suôn sẻ thì mới có thể sống đạo sâu. Có khi chính khi bị giới hạn, ta mới học cầu nguyện thật. Có khi chính khi đau, ta mới hiểu Thánh Thể quý đến mức nào. Có khi chính khi bị bỏ quên, ta mới nhận ra Chúa chưa bao giờ bỏ ta.

Đời sống nội tâm của Đức Hồng Y Thuận vì thế là một trường học lớn. Trường học ấy dạy trước hết về sự hiện diện của Chúa. Không phải Chúa như một ý tưởng, mà Chúa như Đấng thật sự sống với mình. Có những Kitô hữu tin vào Chúa, nhưng sống như thể Ngài ở rất xa. Họ chỉ nhớ đến Chúa trong giờ kinh, còn ngoài ra, đời sống diễn ra hoàn toàn theo logic của nỗi lo, của tự vệ, của toan tính, của áp lực. Còn nơi Đức Hồng Y Thuận, Chúa như hơi thở. Chúa không chỉ ở trong nhà nguyện; Chúa ở trong phòng giam. Chúa không chỉ hiện diện trong lúc cử hành phụng vụ; Chúa hiện diện trong từng giây phút tù đày. Đây là một bài học cực kỳ quan trọng cho đời sống thiêng liêng hôm nay. Nếu không tập sống với sự hiện diện của Chúa, ta sẽ rất dễ chỉ có những “khoảng thời gian đạo đức” rời rạc, chứ không có một đời sống được thần hóa từ bên trong.

Trường học nội tâm ấy còn dạy về sự đơn sơ. Nhà tù tước đi nhiều thứ, nên tâm hồn học lại cái đơn sơ cốt lõi: một lời cầu nguyện ngắn, một giây phút ở với Chúa, một cử chỉ yêu thương, một quyết định không cay đắng, một nỗi đau được dâng lên, một ngày sống trọn. Nhiều người tưởng nên thánh là làm những việc phi thường. Nhưng Đức Hồng Y Thuận cho thấy nên thánh rất nhiều khi là sống những điều rất nhỏ với tình yêu rất lớn. Đó là bí quyết mà mọi giáo dân đều có thể học. Một người mẹ thay vì than phiền suốt ngày, dâng công việc bếp núc cho Chúa. Một người cha mệt sau giờ làm vẫn dịu giọng với gia đình. Một người già yếu âm thầm dâng đau bệnh. Một người trẻ tập sống sạch trong một môi trường đầy cám dỗ. Một người bị hiểu lầm vẫn chọn không trả đũa. Một người đang tuyệt vọng vẫn đến trước nhà tạm ngồi một lúc. Những điều ấy không ai tung hô, nhưng trời biết. Và đó chính là chất liệu của đời sống nội tâm thật.

Trường học của Đức Hồng Y Thuận cũng dạy về tự do nội tâm. Người tự do nội tâm không có nghĩa là không còn bị thử thách. Nhưng giữa thử thách, họ không bị điều khiển hoàn toàn bởi cảm xúc. Họ có thể đau mà không mất mình. Có thể buồn mà không tuyệt vọng. Có thể bị xúc phạm mà không lập tức nổ tung. Có thể thiếu thốn mà không đánh mất phẩm giá. Có thể bị giới hạn mà không thấy mình vô nghĩa. Đây là điều mà cả linh mục lẫn giáo dân hôm nay đều rất cần. Vì ta đang sống trong một thời đại mà cảm xúc lên ngôi. Chỉ cần buồn là muốn bỏ. Chỉ cần không được hiểu là muốn rút lui. Chỉ cần thấy mình không được trân trọng là muốn đóng cửa lòng. Chỉ cần không còn hứng là tưởng như không còn ơn gọi. Chỉ cần thất bại vài lần là nghĩ mình vô dụng. Đức Hồng Y Thuận đi ngược lại tất cả. Ngài cho thấy phẩm giá và căn tính của một người con Chúa không lệ thuộc vào việc hôm nay con có cảm thấy mạnh không, mà lệ thuộc vào việc con thuộc về ai.

Một điểm rất sâu nữa trong đời sống nội tâm của ngài là lòng biết ơn giữa thiếu thốn. Đây là điều hiếm. Khi đau khổ, con người rất dễ chỉ nhìn thấy cái mình bị lấy mất. Điều đó tự nhiên thôi. Nhưng các thánh có một khả năng khác: giữa những gì bị lấy mất, họ vẫn nhận ra những gì còn lại như ân ban. Trong nhà tù, một giây phút có Thánh Thể, một chút ánh sáng, một dấu hiệu nhân tính nơi người canh giữ, một cơ hội yêu thương, một phút cầu nguyện, tất cả đều có thể trở thành quà tặng. Lòng biết ơn này không phủ nhận đau đớn, nhưng không để đau đớn che kín toàn bộ chân trời. Đây là bài học lớn cho giáo dân hôm nay. Có nhiều gia đình tuy không hoàn hảo, nhưng vẫn còn biết bao ơn lành. Có nhiều người tuy bệnh, nhưng vẫn còn thời gian, vẫn còn người thân, vẫn còn Chúa, vẫn còn cơ hội thánh hóa. Có nhiều linh mục tuy mệt, nhưng vẫn còn bàn thờ, còn Thánh Lễ, còn cộng đoàn, còn ơn gọi. Nếu thiếu lòng biết ơn, lòng người rất dễ rơi vào cảm giác nạn nhân. Mà đã sống như nạn nhân, rất khó lớn lên trong hy vọng.

Nhà tù như chủng viện của hy vọng còn dạy một điều nghịch lý khác: Chúa có thể làm việc lớn khi ta bị chặn lại. Thông thường, ta nghĩ sứ mạng là ra đi, là làm, là nói, là tổ chức, là xây dựng, là ảnh hưởng. Điều ấy đúng một phần. Nhưng có những lúc sứ mạng của một người lại nằm ở chỗ bị giữ lại. Một linh mục bệnh nặng mà vẫn hiền lành, có thể giảng mạnh hơn nhiều bài giảng. Một người mẹ đau khổ mà vẫn giữ đức tin, có thể dạy con cái về Chúa nhiều hơn cả ngàn lời. Một người già sống cô tịch nhưng bình an, có thể là chứng tá lớn cho cả gia đình. Đức Hồng Y Thuận trong tù vẫn đang thi hành sứ mạng, dù không giống cách bình thường. Sứ mạng ấy là gì? Là làm chứng rằng Chúa đủ. Là làm chứng rằng hy vọng không chết. Là làm chứng rằng bóng tối không thắng được ánh sáng. Là làm chứng rằng một trái tim ở trong Chúa không ai còng tay được.

Đối với linh mục trẻ, đây là một lời cảnh tỉnh rất mạnh: đừng đánh giá hoa trái chỉ bằng điều mắt thấy. Có những giai đoạn đời linh mục trông rất “thành công”, nhưng có thể bên trong đang rỗng. Có những giai đoạn bên ngoài rất giới hạn, nhưng bên trong lại đang sinh hoa trái lớn. Một linh mục biết ở lại với Chúa trong những lúc không ai thấy, biết yêu Thánh Thể hơn danh tiếng, biết sống nghèo trong tinh thần, biết chịu đựng mà không cay đắng, biết đón nhận những điều trái ý như cơ hội kết hiệp với Chúa, linh mục ấy đang được đào luyện sâu hơn bất cứ chương trình nào. Đức Hồng Y Thuận là chứng tá cho điều đó. Còn với giáo dân, ngài dạy rằng đời sống thánh không ở ngoài tầm với. Nó không chỉ dành cho những người được làm việc lớn. Nó dành cho bất cứ ai biết biến hoàn cảnh mình đang sống thành nơi gặp Chúa.

Cuối cùng, khi chiêm ngắm nhà tù như chủng viện của hy vọng, Thánh Thể trong đêm tối, và đời sống nội tâm của Đức Hồng Y Thuận như trường học cho hôm nay, chúng ta được mời gọi làm một việc rất thật: đừng chỉ khâm phục, nhưng bắt đầu học. Học yêu Thánh Thể hơn. Học quý thinh lặng hơn. Học đừng sợ những mùa tối. Học sống giây phút hiện tại. Học để Chúa là đủ hơn. Học chấp nhận giới hạn mà không tuyệt vọng. Học dâng đau khổ thay vì chỉ than trách. Học để cái tôi nhỏ lại. Học phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa. Học rằng có những lúc Chúa không cần ta làm thêm, nhưng cần ta thuộc về Ngài hơn. Học rằng một căn phòng nhỏ với Chúa còn rộng hơn cả thế giới mà không có Chúa. Học rằng một Thánh Lễ âm thầm trong nước mắt còn mạnh hơn mọi tiếng ồn của thành công. Học rằng một trái tim tự do trong Chúa quý hơn mọi quyền lực bên ngoài.

Lm An Mai, CSsR

-----------------

Kỳ tới: CHỌN CHÚA CHỨ KHÔNG CHỈ CHỌN CÔNG VIỆC CỦA CHÚA, THA THỨ NHƯ ĐỈNH CAO CỦA TỰ DO NỘI TÂM, VÀ ĐỨC HỒNG Y THUẬN NHƯ NGƯỜI THẦY CỦA MỘT THẾ GIỚI ĐANG MỆT MỎI, TUYỆT VỌNG HÔM NAY

Tác giả: Lm An Mai, CSsR

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập248
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm244
  • Hôm nay81,597
  • Tháng hiện tại582,229
  • Tổng lượt truy cập104,187,933
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây