Bốn mươi năm nhìn lại (1979-2019) - Cho những tàn phai

Thứ năm - 16/05/2019 22:22
Những việc xảy ra trong đời thường, ngỡ là vô tình, nhưng nhiều khi lại là những sắp đặt nhiệm mầu của Thiên Chúa mà chỉ con mắt đức tin mới có thể nhận ra được. Hay nói cách khác, trong lúc chúng ta chỉ nhìn thấy được một phần của bức tranh, Thiên Chúa lại thấy được nét toàn vẹn và vẻ đẹp tổng thể với mọi sắc màu hài hòa của bức tranh đó.
Bốn mươi năm nhìn lại (1979-2019) - Cho những tàn phai
NIÊN KHÓA 1971-1972

Xong chương trình tiểu học trường làng, tôi hí hửng trông cho tới ngày tựu trường để được lên thành phố học. Tân Mỹ quê tôi không có trường Trung Học, đây chính là cơ hội để tôi có dịp khám phá thêm về cố đô Huế. Đối với mẹ tôi, không có sự chọn lựa nào tốt hơn là cho tôi vào Tiểu Chủng Viện (TCV) Hoan Thiện - 11 Đống Đa, Huế, vừa học được phần đạo lẫn phần đời. Khi gặp cha bề trên Nguyễn Như Thể (Tổng Giám Mục Huế sau nầy), ngài mới nói với mẹ tôi rằng, “Năm nầy, TCV chỉ nhận từ lớp 7 trở lên thôi!” Vậy thì tôi sẽ học lớp 6 ở đâu đây? Thấy chúng tôi băn khoăn, cha bề trên mới mách nước cho chúng tôi là dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng tại Bãi Dâu, tuy là dòng nữ, nhưng họ có nhận học sinh nội trú nam. Ngài bảo tôi xuống đó học một năm rồi năm sau thi vô TCV. Mẹ tôi yên tâm, bởi vì mẹ biết một số sơ người Tân Mỹ tu ở đó, lại có cả 2 bà O của tôi là nữ tu lâu năm của Dòng, sơ Trần thị Khoa và sơ Nguyễn thị Xoan. Sơ Khoa, cũng gọi là sơ Claire lại có vai vế lớn trong Dòng nữa!

Một năm học tại Bãi Dâu nhìn lại cũng rất là vui. Học chung với mấy “sơ con,” cũng có nhiều chuyện thú vị! Tôi còn nhớ mấy khuôn mặt kháu khỉnh của Ý, của Yến, của Sương…Tiếc là hình như lớp nầy không có ai ở lại để trở thành “em hiền như ma soeur” hết; chứ nếu không chưa chừng có mấy đứa bạn học của tôi cũng có thể làm tới chức… bề trên bây giờ chứ (có sơ Bãi Dâu nào vào khóa 71-72 thì cho biết)!

Ở Bãi Dâu, tôi lại được học chung với mấy thằng mà sau nầy cũng gặp lại tại TCV Hoan Thiện: Nguyễn Ngọc Hường to con tốt tướng người làng Tân Mỹ với tôi, Đỗ Hữu Thịnh cháu cha Trần Văn Lộc dạy nhạc tôi sau nầy, Lê Đăng Tư thư sinh trắng trẻo đẹp trai hay giúp lễ chung với tôi, và Lê Thành Đức mà sau nầy trong lớp vẫn gọi là Đức Lồi. Thằng Đức Lồi cậy thế có mẹ hắn làm việc ở đó nên nhiều khi “kênh kênh” cũng ưa đập lắm!!! Bên nam nhìn lui nhìn tới chỉ có khoảng 10 đứa, được mấy sơ xếp ngồi hai bàn đầu hai bên, để khỏi nghịch “thọt lét” mấy sơ con. Bên phía nữ, ngoài mấy em đệ tử còn có thêm một số nữ sinh bên ngoài vào, tất cả là mấy chục mạng. Tôi nhớ năm đó có sơ Gabriel Nhường dạy Toán, sơ giỏi nhưng rất là nóng tính. Đứa nào quá tệ, sơ hay bắt nằm trên hai cái bàn đầu để quất cho mấy roi cho tỉnh táo! Mấy nường mà bị nằm trên hai bàn nam của chúng tôi thì quê mặt lắm, nhưng phải chịu vậy thôi! Hồi đó, tôi ngồi ngay bàn đầu ở phía ngoài nên sơ Nhường hay biểu tôi đi kiếm… roi cho sơ! Mấy đứa con gái cứ hay dặn tôi là kiếm mấy cái roi nhỏ thôi, nhưng tội gì mà tôi phải nghe lời tụi nó! Cho chừa cái thói “ỏng a ỏng ảnh” thường ngày! Tôi còn nhớ ngày đó Sr. Khoa, O tôi, dạy Hóa Học và Sr. Tuyên dạy Pháp và Quốc Văn. Sr. Khoa là một phụ nữ xinh đẹp, nghe nói sau nầy mấy anh cán ngố gặp sơ mà cứ ngẩn ngơ! Sr. Tuyên lịch thiệp, dịu dàng. Sơ thấy tôi viết văn cũng được nên thỉnh thoảng còn cho tôi chấm bài của mấy bạn trong lớp!

Mùa Hè năm đó, chiến sự tràn lan, chúng tôi phải nghỉ học sớm. Mấy thằng nhóc nội trú chúng tôi chẳng biết làm gì nên mỗi buổi chiều thường lai vãng vô vườn của mấy sơ để giúp trồng cây. Có mấy cây dừa, cây mít đang vươn cao trong khu vườn của mấy sơ bây giờ biết đâu có công trồng và chăm sóc của chúng tôi lúc ấy?

NIÊN KHÓA 1972-1973

Tựu về TCV Hoan Thiện sau Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, tôi có cảm giác như vừa thức dậy sau một giấc ngủ đầy mộng mị. Cùng một số bạn bè, chúng tôi thi vào TCV Huế, và năm đó có được 42 đứa trúng tuyển. Nguyên cả mấy thằng bạn của tôi ở Bãi Dâu đều trúng tuyển nên cũng vui.

Tôi quen thêm được nhiều đứa có cá tính thật đặc biệt. Đã mấy chục năm trôi qua mà ai cũng còn nhớ hình ảnh thằng Nguyễn Mên, lớp tôi. Ngày tựu trường thằng Mên, dân chơi Hà Úc, kéo nguyên cả một chiếc xe đồ chơi từ chợ Đông Ba kéo về TCV. Có ai đi tu như thằng nầy không? Có thằng Đoàn Hiển mấy ngày đầu gặp nó, không một chút thiện cảm, sau nầy gặp ba mẹ nó mới khám phá ra nó cũng người cùng làng như tôi, nhưng ở lâu năm trên thành phố. Thời gian sau nầy hai đứa ở chung trại tỵ nạn Hong Kong cũng thân với nhau vô cùng. Trong mấy thằng bạn thân thiết, phải nói tới cố linh mục Phan Miên, người làng Thuận An, và thằng bạn dễ thương Nguyễn Đức Tín. Cả hai ông bạn nầy đều vắn số và đã qua đời, RIP! Thằng Tín là em ruột của cha Nguyễn Đức Vệ và anh Nguyễn Đức Thủy nên hồi đó cha Vệ cũng có cảm tình với tôi lắm. Tôi còn nhớ hầu hết tên tuổi mấy đứa bạn cùng lớp, nhưng có một vài đứa nổi bật vì những câu chuyện liên quan tới chúng nó. Chẳng hạn như hai thằng Đoàn Trắng và Đoàn Đen. Thằng Nguyễn Đoàn mà trong lớp kêu là “Đoàn Đen,” cũng người Tân Mỹ, con của cựu Thiếu tá Điềm, con nhà quyền quý mà người hắn đen thui. Lại có thằng Nguyễn Ngọc Đoàn, người cũng không có trắng chi, chỉ được trắng hơn một tí so với thằng Đoàn Đen nên được kêu là… Đoàn Trắng. Không biết ai đồn trong lớp là “thằng Đoàn Đen chỗ nào cũng đen duy chỉ có chỗ… đó là trắng,” và ngược lại đối với “thằng Đoàn Trắng chỗ nào cũng trắng, chỉ có chỗ…đó là đen!” Thế là một buổi chiều định mệnh, sau buổi đá bóng trên sân cỏ, có mấy thằng trong lớp chúng tôi rủ nhau lật ngược thằng Đoàn Đen ở bờ hồ nhà nguyện TCV, cởi… quần nó ra để xem cho biết sự đời đen hay trắng. Tôi nghĩ rằng, giây phút đó, Chúa trên cao chắc cũng phải ngậm ngùi, “Xin Cha tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết!” Lại có thằng “Trâu Điên” (Nguyễn Văn Hùng), buổi tối ngủ chùm chăn dọa ma. Cha giáo Lê Văn Hồng (Tổng Giám Mục Huế sau nầy) đứng bên cạnh mà nó không biết! Cha hỏi, “làm chi rứa Hùng?” Hắn đáp, “tau mớ!” Thế là cha giáo dựng cổ nó dậy, nó thấy cha mới hoảng hồn hết mớ! Về sau, thằng nầy cũng bị bề trên cho về. Hôm đó tôi còn nhớ là đang trong lớp học Pháp Văn với cô Nga, cha bề trên đi ngang và kêu nó vào phòng ngài. Một hồi sau, nó ra đứng trước cửa lớp khóc nức nở. Nó bị cha bề trên gởi về lại với gia đình. Nhà nó ở bên phía dòng Chúa Cứu Thế Huế, không cách xa TCV bao nhiêu. Buổi chiều đã thấy thằng Hùng Trâu Điên đạp xe vào lại thăm chúng tôi, miệng hắn cười oang oang. Có thằng hỏi, “Buổi sáng thấy mi khóc, răng giờ đã thấy cười?” Hắn trả lời, “tại tao tưởng bị đuổi về mạ tao sẽ la nhiều lắm, té ra mẹ tao không nói gì hết!” Chắc bà cũng biết thằng con trời đánh của bà cũng không hy vọng chi! Lại có thằng Phùng Đệ, hắn cũng vẽ đẹp như… tôi! Họa sĩ Phi Hùng dạy vẽ chúng tôi năm đó. Hình như thầy có cảm tình đặc biệt với tôi, nên có lần thầy hỏi trong lớp, “Mấy chú có biết Hồ Khanh là chi không?” Tha hồ cho mấy đứa bạn đoán ra đoán vào, cuối cùng thầy nói: “Hồ Khanh là… Hành Khô đó mà!” Tôi chết luôn với cái tên đó! Nói chuyện thằng Phùng Đệ, một buổi trưa tôi thức ngủ để vẽ cho xong bức tranh sơn nước để nộp cho thầy Phi Hùng, thằng Đệ cũng thức! Tôi vẽ gần xong tác phẩm của mình và cũng cảm thấy mãn nguyện lắm. Không biết thằng Đệ vô tình hay cố ý mà hắn đi ngang đẩy cái bàn của tôi khiến ly nước dùng để sơn màu đổ nghiêng vào bức tranh của tôi khiến nó bị hoen ố, nham nhở! Cơn giận bùng lên, không cần biết nó to con hơn tôi, tôi túm đầu nó đập liền. Hai thằng đang quần nhau túi bụi thì cha bề trên đi ngang, tát tai hai đứa một cái nẩy lửa đồng thời nói to, “buổi trưa không chịu ngủ trưa mà còn đánh nhau ồn ào như thế nầy, có muốn bị đuổi về không?” Cũng may ngài không cho về lúc đó, chứ nếu không giờ nầy vợ con tôi cũng đùm đề không thua chi thằng… Quang Bọ (Văn Công Quang)!

Lớp tôi có mấy thằng mặt mày nhìn vô là thấy một vùng trời thánh thiện, chẳng hạn như thánh Hiệu (cha Nguyễn Văn Hiệu), Lê Văn Đức, thánh Miên (cố linh mục Phan Miên) tuy rằng ông thánh nầy đá banh thì hay đốn giò người ta! Ngoài ra có mấy thằng mặt mũi thư sinh như thằng Nguyễn Anh Tuấn, Lê Đăng Tư, Nguyễn Văn Tính. Cũng không thiếu mấy thằng “bặm trợn” như Giáp Tàng (Trần Văn Giáp), Cái Bình, Cường “Óc to mà khờ”, Phùng Sử, Dương Văn Hùng, và còn rất nhiều đứa như Trần Hiến, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Đình Tha, Lê Tùng, Trương Công Nhờ... Mỗi đứa mỗi tính nhưng vui vô cùng. Lớp tôi lại có thằng Nguyễn Ấn, hắn tu tại Việt Nam và rồi qua Mỹ cũng tập tành đi vô chủng viện vài ba tháng, chưa nhớ mặt bàn thờ thì đã xin ra! Hắn nói ma quỷ ghen tuông với hắn!

Tôi nhớ năm đó cha Lê Văn Cao dạy Sử Địa, cha Lê Văn Hồng dạy Kinh Thánh Cựu Ước, cha Trần Văn Lộc dạy Nhạc, cha Trần Trọn dạy Anh Văn, cô Nga dạy Pháp, và họa sĩ Phi Hùng dạy hội họa. Một năm học trôi qua, ơn gọi vẫn còn là một khái niệm mù mờ.

Lớp 12 năm đó (HT66) tôi sợ như sợ cọp! Có những anh sau nầy tôi có dịp gặp lại, lúc nầy lại dễ thương vô cùng, chẳng hạn như anh Đặng Văn Anh, anh Trần Thanh Hiền, anh Nguyễn Đình Khâm tại Úc, Lm Trần Xuân, Lm Nguyễn Văn Chiến, Lm Ngô Thanh Sơn gặp tại Mỹ, và nhất là người để lại nhiều ấn tượng nhất đối với tôi là Linh mục Nguyễn Hữu Hiến tại Nhật! Cha Hiến dễ thương, bình dị, thông thái và khiêm tốn, hy sinh tận tụy cho giáo dân của mình, và là một linh mục khó nghèo hoàn toàn sống trọn vẹn cho Thiên Chúa và Giáo Hội của ngài! Chỉ sống với ngài hơn một tuần tại Tokyo, tôi học được rất nhiều điều cao quý ở ngài!

NIÊN KHÓA 1973-1974

Tới niên khóa nầy, TCV lại bỏ đi lớp 7 mà bắt đầu nhận từ lớp 8 trở lên. Vậy là lớp tôi lại được bổ túc thêm một số chủng sinh lớp 8. Mấy “cán ngố” nầy được xếp vô lớp 8/2 trong lúc mấy thằng kỳ cựu lớp cũ của chúng tôi thì thành lớp 8/1. Mấy anh em nhóm 73 nầy có mấy khuôn mặt sáng sủa như Trần Đình Hào, Quang Đen (tức Đức Ông Nguyễn Quang của Denver sau nầy)… Lớp nầy được cha Oxarango dạy Pháp Văn, trong lúc cha Nguyễn Hữu Giải thì dạy nhóm 8/1 chúng tôi! Cha Giải dạy cũng đâu thua cha cố người Tây, bằng chứng sau nầy anh em chúng tôi ra học trường ngoài cũng được tiếng là giỏi tiếng Pháp hơn những học sinh khác. Về môn Văn, chúng tôi được học với linh mục Nguyễn Trọng Quý, tức là thi sĩ Thanh Quân. Ngài luôn nhỏ nhẹ, dễ thương, tính ngài lại hay đỏ mặt và bẻn lẻn như con gái, chỉ tổ làm cho thằng Mên lớp tôi chọc ghẹo ngài! Tôi nhớ có lần hắn giả bộ bị kinh phong nằm trên giường giựt liên hồi và kêu tru tráo. Mấy đứa bạn chúng tôi vây quanh giường nó, bán tín bán nghi. Nghe ồn ào, cha Quý cũng xen vào để xem cho rõ sự tình. Thằng Mên thấy mặt cha Quý là hắn tự động kéo quần hắn xuống. Cha giáo tên Quý nhưng thấy… của quý của nó là đỏ mặt quay đi không thốt nên lời! Năm học nầy tôi rất thích lớp Văn ngài dạy. Ngoài những tác giả trong chương trình như bà Huyện Thanh Quan, vua Lê Thánh Tôn, Cao Bá Quát, Thế Lữ… Ngài còn đưa vào thơ ca của Hàn Mặc Tử và ngay cả thơ của ngài. Đã nhiều năm qua mà tôi vẫn còn nhớ bài thơ Trinh Vương của ngài với điểm đặc biệt là những chữ đầu tiên của mỗi hàng lại làm thành một câu riêng có ý nghĩa như sau:

NỮ hoàng tôi ngự tới cung yêu,
VƯƠNG quốc ta châu báu diễm kiều.
ĐỒNG tiến hoa anh đào tuyệt thế,
TRINH nguyên thơ ý nhạc vàng reo.
CẦU bắc xong rồi lên tuyệt đỉnh,
CHO trời hội ngộ, đất giao duyên.
CHÚNG sinh say mến, nguồn vô tận.
CON nhớ muôn đời, Mẹ chớ quên!

Lớp 12 năm nầy (HT67) có phong cách đặc biệt. Hồi đó các anh có phong trào đi… giày Tây khiến mấy thằng nhóc chúng tôi khi nào cũng lé mắt. Lớp nầy cũng giúp tạo thành một ban nhạc lẫy lừng năm đó, có anh Vũ Quang Hà chơi trống bốc lửa và có giọng ca một thời của anh Nguyễn Đức Thủy rất là rầm rộ. Lại thêm có hai anh lớp dưới là Lê Kim Anh (HT68) chơi keyboard, anh Trương Quang Tuyến chơi guitar rất nhuần nhuyễn nữa. Tôi vẫn nhớ bài hát Mặt Trời Đen mà ban nhạc trình bày có giọng ca của anh Vũ Quang Hà và anh Nguyễn Đức Thủy, rồi có phần solo trống của anh Hà nữa, có đoạn anh thẩy dùi trống lên cao, sau đó chụp lại và lại đánh tiếp tự nhiên “như ruồi” khiến ai cũng khoái chí! Hôm gặp lại anh tại Denver, anh hát vẫn bốc lửa như xưa!

Lớp 12 nầy về sau tôi có dịp gặp lại một số anh em tại Mỹ như anh Phạm Thanh Cương, anh Vũ Quang Hà, anh Trần Văn Thuận, anh Nguyễn Úy, anh Lê Sáu Vũ, và anh Dương Thế Phong tại Canada. Gặp anh Dương Thế Phong khi anh tình nguyện chở tôi ra phi trường Winnipeg khi tôi sang đây để giảng tĩnh tâm Mùa Chay mấy ngày cho cộng đoàn Công giáo VN ở đây, và anh thì mới trở về từ VN đêm trước đó. Chỉ gặp một buổi sáng ngắn ngủi nhưng rất thân tình. Anh Dương Thế Phong là một nhà thông thái và một nhạc sĩ giỏi, nhưng lại khiêm tốn vô cùng! Tôi cũng có dịp gặp lại Đức Ông Cao Minh Dung tại Washington, D.C. trong thời gian ngài còn làm việc tại văn phòng Khâm Sứ Tòa Thánh và tôi lại đang theo học Giáo Luật tại Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ tại thủ đô Mỹ. Gặp Đức Ông thì khi nào cũng được biết nhiều chuyện cao siêu!

NIÊN KHÓA 1974-1975

Năm nầy 2 lớp 8/1 và 8/2 của chúng tôi nhập chung thành một lớp 9, đông hơn và vui hơn. Chiến sự đã ngày càng gay cấn. Phong trào chống tham nhũng cũng ngày càng quyết liệt. Hình như chúng tôi cũng bị cuốn hút theo những làn gió thời sự nầy. Gặp phải môn Văn năm nay chúng tôi lại được học với thầy Nguyễn Văn Bổn, tức thi sĩ Tần Hoài Dạ Vũ. Thầy gốc Quảng Nam, thầy lại đọc bài Kẻ Sĩ của Nguyễn Công Trứ khiến chúng tôi đứa nào viết cũng mắc phải trên 20 lỗi chánh tả. Thầy giảng thì rất cuốn hút. Gặp lúc thầy cũng sinh hoạt rất hăng say trong những phong trào chính trị và xã hội lúc đó, chúng tôi lại lười học và cứ hay yêu cầu thầy kể chuyện để hiểu thêm. Một khi thầy kể thì cả bọn há hốc mồm ngồi nghe chứ có biết đâu chuyện trúng trật để mà phê phán, thảo luận!?

Không khí chiến tranh bao trùm, tôi nhớ có buổi sáng giờ suy niệm của cha bề trên Thể. Ngài chia sẻ với chúng tôi tình hình chính trị tại VN, và ngài nói rằng hãy cầu nguyện cho đất nước nhiều, bởi vì sự hiện diện của Mặt trận Giải phóng Miền Nam tạo nên một sự chênh lệch rất là nguy hiểm cho Miền Nam VN đối với chính phủ Miền Bắc trên chính trường quốc tế lúc đó. Ngài căn dặn là trên đường từ nhà nguyện về lại phòng học, hãy giữ im lặng và cầu nguyện, đừng nói chuyện. Vậy mà không hiểu trời xui đất khiến ra sao mà mới bước ra trên dãy hành lang là ông cố Phan Miên [RIP] lại ghé vào tai tôi nói nhỏ: “Cha bề trên nói về mặt trận thứ ba như rứa ngó bộ nguy hiểm quá hí?” Tôi chưa kịp trả lời thì hai bàn tay từ phía sau vươn tới tụm hai cái đầu của tôi và Miên lại với nhau làm một cái đau điếng, lại có tiếng của cha bề trên phía sau vang lên: “Cha mới nói đi về trong yên lặng, rứa mà cũng nói chuyện, không vâng lời gì cả!” Cũng may ngài không cho hai đứa về mà bù lại buổi chiều còn kêu hai đứa vô phòng riêng cho ăn kẹo nữa. Cha bề trên Thể vậy đó, nhiều khi chúng tôi phạm lỗi thì ngài phạt, nhưng sau đó lại kêu vào văn phòng vỗ về, chắc ngài cũng hiểu là chúng tôi còn trẻ người non dại nên ngài cũng rất kiên nhẫn đối với chúng tôi! Sau nầy tôi có dịp nghĩ lại là nếu hồi đó ngài đuổi hai anh em chúng tôi về vì tội không vâng lời thì sau nầy Giáo Hội đã mất toi hai ông cha, nhưng bù lại biết đâu Phan Miên có người “nâng khăn, sửa túi” thì sẽ sống lâu hơn! Còn tôi, nếu có lập gia đình, chắc chắn là con tôi sẽ… nhiều hơn con thằng Quang Bọ, và con tôi cũng sẽ giỏi hơn con hắn (nói vậy thôi chứ Văn Công Quang lớp tôi giỏi lắm, hắn sửa xe mà đủ tiền cho con học thành bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, và vừa rồi còn có đứa con gái được bầu là người VN đầu tiên trúng cử thành nghị viên của thành phố Stanton, California nữa!)

Chiến tranh ảnh hưởng tới mọi sinh hoạt của xã hội VN. Năm đó, buổi sinh hoạt Văn Nghệ cuối năm, tôi còn nhớ có hoạt cảnh “Nó” với bài hát “Thằng bé âm thầm đi tìm ngõ nhỏ…” Lớp tôi làm hoạt cảnh “Kinh Khổ: Mẹ ngồi nguyện cầu hằng bao đêm…” Có lớp nào đó làm hoạt cảnh có mấy bộ xương khô, khi tắt điện, nổi bật lên ấn tượng vô cùng. Chiến tranh đã ngoài ngõ rồi, người ơi!

Lớp 12 năm đó (HT68) sau nầy tôi có dịp gặp lại những anh như Huỳnh Đình Đăng tại VN, và các anh như Lê Kim Anh, Lm Trần Kim Bính, và Lm Nguyễn Văn Diệu tại Mỹ.

NHỮNG NIÊN KHÓA SAU NĂM 1975

Lịch sử đã chuyển mình, chúng tôi không còn vô tư nhưng cần phải tỉnh táo trước những thay đổi của thời cuộc. Một sự thay đổi quá lớn lao! “Nhu cầu mới, linh mục mới!” “Không làm không đáng ăn!” Tu bây giờ không còn những hào nhoáng bên ngoài! Tu là nhập cuộc, là đồng hành với đồng bào khốn khổ của mình.

Tôi còn nhớ giai đoạn nầy. Ngoài những giờ học ở trường công lập, chúng tôi còn có những lớp đào tạo ở nhà. Môn học chính là Tu đức do cha Nguyễn Phùng Tuệ giảng dạy. Trước giờ học đã thấy ngài lãng vãng đi qua đi lại trước lớp. Cứ đúng giờ là ngài vào lớp và bắt đầu giảng dạy, không cần biết bao nhiêu đứa có mặt. Riết rồi chúng tôi học được thói quen tốt là giữ đúng giờ như ngài, bởi vì không ai muốn đi trễ cho những lớp học sâu sắc của ngài. Tôi còn nhớ ngài dạy về Kinh Lạy Cha thật thâm thúy, tôi còn nhớ ngài dạy về Karl Rahner mà sau nầy có dịp học thêm tôi mới thấy là ngài thông suốt về thần học gia thời danh nầy rất nhiều. Có lần tôi thấy ngài dạy về Fulton Sheen mà ngài cầm nguyên bản những cuốn sách của vị Tổng Giám Mục New York nầy và ngài giảng thao thao bất tuyệt như thể là ngài đọc một cuốn sách bằng tiếng Việt vậy. Quả là chúng tôi đã rất diễm phúc khi có những vị giáo sư thông thái và đạo đức như cha Tuệ! Năm nầy cha Phan Xuân Thanh dạy Kinh Thánh, nhưng ngài dạy thì ít mà đau thì nhiều nên chúng tôi chưa học được nhiều từ ngài. Cũng có các cha giáo ở ngoài vào dạy cho anh em. Những lớp học phần nhiều diễn ra trong lén lút, và khi nào cũng có nhóm canh chừng báo động, lỡ công an ập vào làm khó dễ thì hơi mệt!

Lớp 12 đầu tiên của niên khóa 1975-1976, thông thường các anh đã chuyển lên Đại Chủng Viện (ĐCV) Kim Long, bây giờ vì vấn đề hộ khẩu, các anh vẫn phải dậm chân tại chỗ. Vậy là mỗi buổi sáng, lớp nầy đạp xe đạp lên ĐCV học và buổi chiều lại kéo nhau về TCV. Năm học sau đó, để tránh những dòm ngó không cần thiết, các cha giáo từ ĐCV đi về TCV để dạy cho chúng tôi. Học hành thì vất vả, thiếu trước hụt sau, lại phải canh chừng đủ thứ! Bề trên dặn dò anh em cẩn thận, ngay cả những gì thẩy trong thùng rác cũng đừng tạo cớ chính trị cho chính quyền đóng cửa Chủng Viện. Buổi tối các anh em lại chia phiên nhau canh gác mọi phía, vậy mà cũng có mấy lần kẻ gian lẩn vào ban đêm tìm cách để lại vũ khí để vu oan cho Chủng Viện, để có dịp đóng cửa cơ sở nầy. May mà những toán canh đã kịp thời lật tẩy mưu mô kẻ gian. Ôi một đời lận đận theo Chúa, “đêm mong ngày chờ, đêm chờ ngày mong, mong chờ ngày đêm! (Hát theo nhạc Nhật Trường- Trần Thiện Thanh)”.

Tôi còn nhớ cảm giác sau khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo I đột ngột qua đời, đức Hồng Y Wojtyla được bầu lên làm Giáo Hoàng với danh hiệu là Gioan Phaolo II. Chúng tôi cảm thấy rất phấn chấn là vị Giáo Hoàng đến từ xứ sở Cộng Sản Ba Lan nầy, chắc chắn sẽ thấu hiểu hoàn cảnh của chúng tôi hơn và sẽ có những chỉ dẫn cụ thể cho chúng tôi. Hình như Chúa muốn thắp lên một ngọn nến hy vọng trong hoàn cảnh vô vọng, nghiệt ngả để rồi chúng tôi lại sẳn sàng tiến bước với Ngài trong những chặng đường kế tiếp.

Thời gian nầy ăn uống quá cực, khoai sắn nhiều khi mốc mếch mà vẫn cứ ăn. Có những tuần chúng tôi không có một hạt cơm nào trong bụng mà chỉ có bột và khoai, sắn. Cha quản lý lúc đó, cha Anre Nguyễn Văn Phúc, cùng với sự cộng tác tháo vát của một số anh em như anh Dương Quang Đức (HT71), Đoàn Hiển (HT72)… tìm cách bán bớt những số bàn ghế, giường tủ của những anh em không tựu lại sau 1975 để có tiền chi phí cho Chủng Viện, nhờ vậy mà anh em cũng cầm cự được thời gian khá lâu. Đến khi đã quá kiệt quệ, anh em mới kiếm thêm những công việc bên ngoài. Thôi thì đủ thứ công việc, có người chạy xe thồ, có người làm khuân vác tại các nhà ga, bến xe. Lại có người rủ nhau một nhóm đi vớt rong, làm củi. Có người lao nhọc tại các hãng xưởng xay bột, xay gạo trong thành phố! Vậy mà anh em vẫn luôn gắn bó với nhau. Sợi dây liên kết với nhau không gì khác hơn là đức tin và lòng cậy trông vào Thiên Chúa và Mẹ Maria nhân lành. Còn nhớ những buổi tối đọc kinh với nhau thật cảm động trước tượng Mẹ, giọng hát Nguyễn Quang Tuấn (HT71) cất cao bài Maria Nữ Vương tôn nghiêm, hai bè đi quyện với nhau thật hài hòa, “Mẹ ơi, tháng ngày dần trôi qua, biết bao là luyến tiếc những dịp để ghi công… Mẹ ơi! Giúp con vượt cõi thế, luôn vững lòng trung kiên, mến yêu Mẹ hết tình.” Sau nầy có dịp gặp lại cụ Tuấn ở Mỹ, có nhắc lại, cụ ngạc nhiên hỏi, “Còn nhớ mấy chuyện nầy sao? Đúng rồi, mình rất thích bài hát đó!” Vâng, những cái gì đáng yêu thì nhớ muôn đời, chẳng hạn như thời gian làm việc một tuần chung với các anh Lê Văn Hùng, Đặng Thừa, Nguyễn Văn Nghĩa, Hồ Thứ để huấn luyện cho một số anh chị em tông đồ trẻ từ các giáo xứ được gởi về thụ huấn tại TCV. Một tuần học hỏi trôi qua, để lại nhiều kỷ niệm, nhưng mình nghĩ chỉ có vậy thôi! Ai ngờ, trong thời gian còn ở trại tỵ nạn Hong Kong, một buổi chiều đi làm về, đang đi qua một hầm cầu để về trại tạm cư, có giọng réo gọi từ phía sau một cách mừng rỡ, “Thầy, thầy ơi!” Tôi dừng lại, một cô gái trẻ đứng trước mặt mình có nét thân quen, nhưng nhất thời tôi không nhớ ra là đã gặp ở đâu. Chị nói ra mới nhớ là chị Danh, người Đá Hàn, là một thành viên trong khóa học năm đó. Cũng chính tại Hong Kong, tôi đã làm chứng và cũng giúp ca đoàn cho đám cưới của anh chị, một đám cưới đơn sơ trong khung cảnh trại tỵ nạn, nhưng đầy tràn yêu thương. Ai ngờ gặp lại chị Danh trong hoàn cảnh đó. Cho đến bây giờ, anh chị Lân & Danh vẫn còn giữ liên lạc với tôi.

Thế gian quá nhỏ bé, hãy khiêm tốn hoàn thành những công việc Chúa trao! Hãy “chấm từng chấm cho đúng” như lời khuyên của Đấng Đáng kính, cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận, “đường hy vọng” của chúng ta sẽ luôn luôn nở hoa! Chỉ Thiên Chúa mới thấy sự hoàn mỹ tuyệt diệu của một bức tranh, còn chúng ta mới chỉ nhận ra những nét chấm phá của cuộc đời! Hãy xin làm những sợi chỉ muôn màu để Ngài thêu dệt nên bức tranh theo ý Ngài muốn!
 
-
 Lớp HOAN THIỆN 1972-1973
 
-
 HT 72/73 họp mặt sau mấy mươi năm
 
-
 Với Nguyễn Ngọc Hường
 
 
-
 Với cố linh mục Phan Miên
 
-
 Với thánh Nguyễn Văn Hiệu
 
-
Với Đức Lồi, Đoàn Trắng và Huỳnh Lễ
 
-
 Với Trương Quốc Thu
 
-
 Với Đỗ Hữu Thịnh, Quang Bọ (Văn Công Quang), Nguyễn Mên, Nguyễn Văn Tính, Trần Văn Tâm
 
-
 Với hai cận vệ đặc biệt
 
-
 Với Phạm Văn Danh
 
-
 Mên, Khanh, Tâm, Nguyễn Ấn
 
-
 Lớp 72/73 chụp chung với Đức Ông Quang đen và cha Khanh
 
-
 Với cha Nguyễn Hữu Hiến ở Nhật
 
-
 Với cha Hiến và cha Dương Quang Đức tại Mỹ
 
-
 Với cha Hiến và Trần Văn Quý (HT71) tại Nhật
 
-
 Với anh Dương Thế Phong tại Canada
 
-
 Với anh Dương Thế Phong và vợ chồng Lê Văn Thắng HT74 tại Canada
 
-
 Với cha Ngô Thanh Sơn tại Mỹ
 
-
 Với cựu chủng sinh Trần Hiền HT 63 và Nguyễn Đình Khâm HT 66 tại Úc
 
-
 Sidney, Australia
 
-
 Với anh Vũ Quang Hà tại Mỹ
 
-
 Với anh Phạm Thanh Cương, Lê Văn Hùng, Vũ Quang Hà tại Mỹ
 
-
 Cặp đôi hoàn hảo Đỗ Hữu Thịnh & Nguyệt
 
-
Với Đức Ông Nguyễn Ngọc Hàm tại Denver, Colorado
 
-
 Với gia đình Lê Văn Thắng tại Mỹ
 
-
 Với gia đình Lê Văn Thắng và thân hữu tại Canada
 
-
 Với cha Trương Văn Thường tại Lộ Đức
 
-
 Với cha Dương Quang Đức tại Roma
 
-
 Với cha Đức tại Roma
 
-
 Tại nhà thờ Đức Hồng Y Thuận
 
-
 Với cha Thường tại Na Uy
 
-
Về thăm chốn xưa- Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng- Bãi Dâu
 
-
 Thăm Sr. già cùng quê, có Sr. Khoa bên cạnh
 
-
 Sr. Tuyên, cô giáo xưa!

Tác giả bài viết: Lm Hồ Khanh HT72

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

 Tags: tcv hoan thien

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  • Đang truy cập78
  • Máy chủ tìm kiếm4
  • Khách viếng thăm74
  • Hôm nay20,089
  • Tháng hiện tại286,459
  • Tổng lượt truy cập12,388,430
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây