CN 5 Mùa Chay. Giải thích Lời Chúa.

Đăng lúc: Thứ hai - 19/03/2012 17:01 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Trong Tin Mừng Gioan, đây là cuộc thần hiện duy nhất. Thánh Gioan không tường thuật cuộc Biến Hình; thánh nhân tường thuật biến cố Phép Rửa chỉ gián tiếp và không có bất kỳ ám chỉ nào đến tiếng phán từ trời. Đoạn văn nầy là đoạn văn duy nhất ám chỉ đến sự can thiệp từ trời.
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY
 
      

     Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay hôm nay dâng hiến những chủ đề rất gần với những tưởng niệm lễ Vượt Qua: thiết lập Bí Tích Thánh Thể, Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô. Cả ba bài đọc đều cấu trúc theo một nét chung: ở giữa lòng của nỗi xao xuyến vang lên một tiếng kêu tràn đầy hy vọng.
 
      Gr 31: 31-34
 
      Trước khi Thành Thánh Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ bị tàn phá, ngôn sứ Giê-rê-mi-a công bố rằng không có gì phải mất cả: này sắp đến những ngày, Thiên Chúa sẽ thiết lập một “Giao Ước Mới”. Đức Giê-su lấy lại diễn ngữ nầy khi thiết lập Bí Tích Thánh Thể: “Chén nầy là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 20: 20; 1Cr 11: 25).
 
      Dt 5: 7-9
 
      Thư gởi tín hữu Do thái nhắc nhớ rằng Đức Giê-su cảm thấy xao xuyến tận đáy lòng trước tấn thảm kịch của sự chết, nhưng nhờ cuộc Tử Nạn của Ngài, sự chết trở nên “nguồn ơn cứu độ đời đời” cho nhân loại.
 
      Ga 12: 20-33
 
      Tin Mừng Gioan gợi lên rằng trước cuộc Tử Nạn gần kề của Ngài, Đức Giê-su xao xuyến, nhưng rồi trấn tỉnh khi nghĩ đến cuộc chiến thắng vinh quang của Ngài trên Xa-tan, quyền lực của sự Dữ.
 
      BÀI ĐỌC I (Gr 31: 31-34)
 
      Chúng ta thường nghĩ rằng diễn ngữ “Giao Ước Mới”, được rút gọn: “Tân Ước”, xuất xứ từ các sách Tin Mừng, trong đó Đức Giê-su đã sử dụng diễn ngữ nầy vào buổi chiều Tiệc Ly: “Chén nầy là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 20: 20; 1Cr 11: 25). Thật ra, diễn ngữ nầy được gặp thấy rồi trong Cựu Ước. Diễn ngữ nầy xuất hiện lần đầu tiên ở nơi đoạn trích hôm nay đánh dấu đỉnh cao sứ điệp tinh thần của vị ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ông loan báo một “Giao Ước Mới” dưới hai dấu chỉ: tác động nội tâm của Thần Khí và ơn tha thứ tội lỗi. Quả thật, đây là sấm ngôn linh hứng của vị ngôn sứ, nhưng cũng là thành quả của một kinh nghiệm mà vị ngôn sứ đã sống với một tâm trí minh mẫn.
 
      Kinh nghiệm nầy được hình thành hai giai đoạn: “thời kỳ hạnh phúc”“thời kỳ bi thương” của dân tộc mình. Giê-rê-mi-a có lẽ chào đời vào năm 645 trước Công Nguyên. Vào thời niên thiếu của mình, ông đã kinh qua thời kỳ hưng phấn (dù ông không bao giờ ám chỉ đến): thời kỳ cải cảnh của vua Giô-si-gia, khởi sự vào năm 622 trước Công Nguyên. Trước triều đại của vị vua cải cách nầy, là triều đại của vua Mơ-na-se, vị vua vô đạo đã du nhập và phổ biến việc thờ ngẫu tượng cho đến tận Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Ông còn bảo trợ tội bội giáo của dân chúng nữa.
 
      1. thời kỳ hạnh phúc:
 
      Vào năm 622, trong khi Nhà Đức Chúa đang được trùng tu, người ta tìm thấy “sách Luật” (có thể đây là sách Đệ Nhị Luật hay ít ra những bản văn cốt yếu của sách này), sách đã bị quên lãng hơn nữa thế kỷ qua (vua Mơ-na-se đã cai trị từ năm 687 đến 642 trước Công Nguyên).
 
      Vua Giô-si-gia công bố trước toàn dân tất cả các lời trong sách Giao Ước đã tìm thấy trong Nhà Đức Chúa. Vua long trọng cam kết đi theo đường lối của Đức Chúa và hết lòng hết dạ tuân giữ các mệnh lệnh, chỉ thị và quy tắc của Ngài. Toàn dân đồng thanh chấp nhận Giao Ước (2V 23: 1-3). Vua Giô-si-gia thực hiện cuộc cải cách tôn giáo tận căn: trừ tiệt tất cả mọi vết tích thờ ngẫu tượng ra khỏi đất nước, dẹp bỏ các tế đàn ở nơi cao và tập trung việc phụng tự kính Đức Chúa vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
 
      Nhưng than ôi! Vào năm 609, vua tử trận trong cuộc chiến chống quân đội Ai-cập. Ngay sau cái chết của vua, nền phụng tự ngoại giáo lại có cơ hội bộc phát. Chính vào thời điểm nầy mà những sấm ngôn của ngôn sứ Giê-rê-mi-a vang lên, loan báo những tai họa thảm khốc nhất nếu nhà Giu-đa không thành tâm hoán cải (Gr 26). Vì thế, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã chứng kiến việc tái lập Giao Ước bị thất bại: công việc cải cách đã tác động đến việc tế tự, phụng vụ, nghi lễ, nhưng đã không biến đổi tấm lòng của dân chúng. Vị ngôn sứ không quên bài học nầy.
 
      2. Thời kỳ bi thương:
 
      Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, được mệnh danh là ngôn sứ của những tai họa, không ngừng cảnh báo quốc họa rất gần kề; vì thế, người ta đã âm mưu hãm hại ông, quấy nhiễu ông và tống giam ông. Những sấm ngôn của ông bị vua Giô-gia-kim xé từng trang và bỏ vào lò sưởi. Tuy nhiên, những lời sấm nầy đã được ứng nghiệm. Kinh thành Giê-ru-sa-lem bị quân vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đánh chiếm vào năm 597 trước Công Nguyên; thành phần ưu tú bị phát lưu ở Ba-by-lon; Đền Thờ bị phá hủy vào năm 587, sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm lần thứ hai.
 
      Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đọc được những ý định của Thiên Chúa qua thực tại bi thảm này: cuộc tái lập Giao Ước tỏ ra thất bại, Thành Đô hoang tàn đổ nát, Đền Thờ chẳng bao lâu sau bị tàn phá, đây không phải là những dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa có một kế hoạch khác, vì lòng chai dạ đá của dân Ngài sao? Chính như vậy mà ngay vào lúc Kinh Thành Giê-ru-sa-lem sắp bị tàn phá, vị ngôn sứ loan báo rằng không có gì phải mất cả và diễn tả niềm hy vọng bất diệt của Ít-ra-en bằng những lời lẽ tuyệt vời: “Nầy sắp đến những ngày” Đức Chúa sẽ thiết lập với dân Ngài một Giao Ước Mới, không còn là Giao Ước được khắc vào bia đá như Ngài đã thiết lập với ông Mô-sê, cũng không trên cuốn sách như được tìm gặp trong Đền Thờ, nhưng sẽ được ghi tạc vào lòng dạ dân chúng, sẽ khắc sâu vào tâm khảm dân chúng…
 
      Ở nơi khác, ngôn sứ công bố: “Ta sẽ ban cho chúng một tâm hồn để nhận biết rằng chính Ta là Đức Chúa” (Gr 24: 7) hay “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và một con đường hành động, để chúng kính sợ Ta mãi mãi, nhờ đó chúng và con cháu sau nầy được sống hạnh phúc. Ta sẽ lập với chúng một Giao Ước muôn đời: Ta sẽ không bỏ chúng nữa, sẽ tiếp tục theo dõi, và không ngừng thi ân cho chúng, cũng như ban cho chúng lòng kính sợ Ta, để chúng không xa rời Ta nữa” (32: 39-40).
 
      Ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo cuộc sống theo Thần Khí và dưới tác động của ân sủng. Nhờ tác động của Thần Khí, mọi người, từ bé thơ cho đến người lớn, đều nhận biết và thi hành ý muốn của Thiên Chúa mà không cần phải dạy bảo nhau nữa.
 
      Ngôn sứ Ê-dê-ki-en trong cảnh lưu đày ở Ba-by-lon cũng thoáng thấy một niềm hy vọng về một Giao Ước Mới: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng cho các ngươi một trái tim bằng thịt. Chính thần khí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thực hành” (Ed 36: 26-27).
 
      Cuộc đời của vị ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã là một mẫu gương về một cuộc sống trong Thần Khí rồi. Một con người đạo hạnh tận đáy lòng, đối thoại thường hằng với Thiên Chúa, vị ngôn sứ xứng đáng được gọi là “cha của kinh nguyện”. Bằng cuộc sống của mình, ông làm chứng về tôn giáo mà ông loan báo. Chính từ môi miệng ông mà sấm ngôn về “Giáo Ước Mới” được thốt lên thành lời. Đó không phải là hợp lý sao?
 
      BÀI ĐỌC II (Dt 5: 7-9)
 
      Phải nói một cách chính xác, “thư gởi cho các tín hữu Do thái” không thực sự là một “bức thư” vì tác giả không tự giới thiệu mình và cũng không cho biết người nhận là cho ai (nhan đề “thư gởi cho các tín hữu Do thái” xuất hiện chỉ vào thế kỷ thứ hai).
 
      Bức thư nầy được gán cho thánh Phao-lô vì vài tư tưởng và ngôn từ rất gần với tư tưởng và ngôn từ của thánh nhân, nhưng đề tài trung tâm không thuộc về thánh Phao-lô: tác giả muốn chứng tỏ rằng Đức Ki-tô là vị Thượng Tế Tân Ước, cao vời trên vị Thượng Tế Cựu Ước. Đức Ki-tô là Đấng Trung Gian tuyệt vời, vị Tư Tế duy nhất và hiến lễ của Ngài thì thập toàn. Ấy vậy, thánh Phao-lô không bao giờ gán cho Đức Ki tô tước hiệu tư tế.
 
      Người nhận là những người Ki-tô hữu gốc Do thái chịu những bách hại và chắc chắn mang một nỗi nhớ khôn nguôi về nền phụng tự Cựu Ước. Về niên biểu, bức thư nầy chắc chắn được viết trước khi Đền Thờ và Kinh Thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá vào năm 70 sau Công Nguyên, bởi vì tác giả nói về phụng vụ Đền Thờ như về phụng vụ hiện hành và luôn luôn sinh động. Ngoài ra, nếu bức thư được viết sau biến cố năm 70, tác giả không thể nào không ám chỉ đến biến cố nầy, vì biến cố này rõ ràng củng cố đề tài của ông về tình trạng vô hiệu của Giao Ước Cũ.
 
      Đoạn trích ngắn nầy diễn tả sâu sắc hai khía cạnh bất khả phân của con người Đức Ki-tô, khiến cuộc Tử Nạn của Ngài được phơi bày hết mức kịch tính: nỗi xao xuyến của kiếp sống phàm nhân và vị thế Con Thiên Chúa.
 
      1. Kiếp sống phàm nhân (5: 7):
 
      Tác giả ám chỉ đến việc Đức Giê-su “lớn tiếng kêu van khóc lóc, mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” ở vườn Ghết-sê-ma-ni. Chắc chắn Đức Giê-su đã cầu nguyện lớn tiếng đến nổi ba môn đệ ở gần đó có thể nghe được. Nhưng đây cũng có thể ám chỉ đến tiếng kêu cuối cùng của Ngài lên cùng Cha Ngài trong cơn hấp hối trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mt 27: 46). Tác giả muốn nhắc nhớ rằng Đức Giê-su đã chia sẻ tận mức những yếu đuối của chúng ta và nỗi sợ hãi của chúng ta trước cái chết. Quả thật, “Thiên Chúa đã nhận lời Ngài” nhưng không theo cách thế mà con người ở nơi Đức Giê-su mong ước: để có thể chiến thắng tử thần, Ngài phải trải qua sự chết.
 
      2. Vị thế Con Thiên Chúa (5: 8-9):
 
      Trong phần hai, tác giả muốn cho thấy rằng không có bất kỳ kiếm khuyết nào ở nơi Đức Giê-su. Dầu là Con Thiên Chúa, Đức Giê-su chấp nhận thánh ý của Chúa Cha với một thái độ vâng phục trọn vẹn. Từ “vâng phục” âm vang tư tưởng của thánh Phao-lô. Thánh Phao-lô nói về “sự vâng phục tràn đầy niềm tin”.
 
      “Người đã trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”. Gian khổ là trường đào tạo tốt nhất để thành nhân, nhân loại tiến bộ nhờ những kinh nghiệm đau thương. Tác giả áp dụng tư tưởng này vào Đức Ki tô: “bản thân đã tới mức thập toàn”. Chính không phải với tư cách là Con Thiên Chúa mà Ngài “đạt tới mức thập toàn”, nhưng với tư cách là Đấng Cứu Độ. Bằng đau khổ mà Ngài sẵn lòng chấp nhận, Đức Ki tô đã trở nên hy lễ hữu hiệu tận mức đem lại ơn tha thứ tội lỗi. Như vậy, Ngài trở nên Đấng Trung Gian lý tưởng, vừa người anh em của con người vừa Con Thiên Chúa, làm một với Thiên Chúa và một với chúng ta. Đó là một trong những tư tưởng cốt yếu của “thư gởi tín hữu Do thái”  nầy.
 
      TIN MỪNG (Ga 12: 20-33).
 
      Trong Tin Mừng Gioan, câu chuyện này xảy ra ngay sau bài tường thuật về việc Đức Giê-su khải hoàn tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem vào lúc lễ Vượt Qua sắp đến gần.
 
      Trong cùng một chuyển động, đến lượt mình, các lương dân bày tỏ “muốn được gặp” Đức Giê-su. Trong Tin Mừng Gioan, cách nói “muốn được gặp” bày tỏ dáng dấp niềm tin rồi. Lời thỉnh cầu của họ đã gây xúc động sâu xa ở nơi Đức Giê-su: những người Hy lạp nầy đại diện thế giới lương dân mà cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài sẽ mở ra cho họ con đường cứu độ. Cuộc Tử Nạn sắp đến gần của Ngài làm cho Ngài đầy xao xuyến.
 
      Câu chuyện nầy thật cảm động. Dầu thánh ký không nêu lên nỗi xao xuyến ở vườn Ghết-sê-ma-ni, nhưng tình tiết được trình bày ở đây như tham dự trước nỗi xao xuyến ở vườn Ghết-sê-ma-ni.
 
      1. Niềm tin của những người Hy-lạp:
 
      Những người Hy-lạp nầy đến Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua, họ thuộc vào số những lương dân có thiện cảm với Độc Thần Giáo Do thái. Sách Công Vụ gọi họ “những người sùng mộ Thiên Chúa” hay “những người kính sợ Thiên Chúa”.
 
      Họ ngỏ lời xin gặp Đức Giê-su với ông Phi-líp-phê. Ông Phi-líp-phê nói lại với ông An-rê, đoạn cả hai đến thưa chuyện với Thầy mình. Đức Giê-su không trả lời trực tiếp với những người Hy-lạp đến xin gặp Ngài. Thời gian của những cuộc chuyện trò riêng tư đã qua. Bây giờ là giờ của ơn cứu độ phổ quát.
 
      2. Giờ của Đức Giê-su:
 
       Cho đến lúc đó, Đức Giê-su đã từ chối mang sứ điệp của Ngài đến lương dân, bây giờ Ngài biết rằng thời giờ của họ đã đến; Ngài sắp đổ máu mình ra cho tất cả họ. Trước đó vài ngày, Ngài đã nói: “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn nầy” (Ga 10: 15-16). Những chiên khác không thuộc ràn nầy, chính là những lương dân này, họ đang thỉnh cầu được gặp Ngài. Xúc động tận đáy lòng, Đức Giê-su hân hoan nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!”.
 
      Chúa Giê-su thích dùng tước hiệu “Con Người” để nói về mình. Tước hiệu nầy quy chiếu đến thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, trong đó một nhân vật huyền nhiệm “như Con Người đến trên mây trời” nhận được danh dự, quyền năng và vinh quang (Đn 7: 13-14). Tước hiệu bí ẩn nầy cho phép Đức Giê-su diễn tả tính siêu việt của Ngài ở nơi nhân tính của Ngài, đồng thời vẫn giữ được mầu nhiệm con người Ngài.
 
      “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Trong Tin Mừng Gioan, giờ tôn vinh bắt đầu ở đồi Can-vê. Thật ra, việc tôn vinh bao gồm cuộc Phục Sinh và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, mà đỉnh cao chính là Thập Giá. Chính ở nơi Thập Giá mà hành động cứu độ viên mãn của Đức Giê-su được thực hiện và ý định yêu thương vô hạn của Thiên Chúa được thể hiện. Chúa Giê-su diễn tả chân lý nầy bằng một sự so sánh rất giản dị: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.
 
3. Lời mời gọi theo Ngài:
 
      Chúng ta ghi nhận rằng mỗi lần Đức Giê-su loan báo cuộc Tử Nạn của Ngài, Ngài đều mời gọi bước theo Ngài trên con đường gian nan của sự từ bỏ: “Ai quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời nầy, thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống đời đời” (cf. Mt 16: 21-24; Mc 8: 31-35; Lc 9: 22-23). Chính đó là câu trả lời của Ngài cho những người Hy-lạp mong ước được gặp và biết Ngài. Một cách nào đó, Ngài cho họ một cuộc hẹn gặp: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”. Không ai có thể gặp gỡ Đức Giê-su, nếu không chung bước trên cùng con đường với Ngài.
 
      Viễn cảnh của con đường đau khổ nầy làm xao xuyến Đức Giê-su tận đáy lòng. Ba chuyển động nối tiếp nhau: xao xuyến tận đáy lòng, kêu cầu cùng Chúa Cha và chấp nhận dâng hiến mạng sống mình, mà các sách Tin Mừng Nhất Lãm dùng để mô tả con người của Đức Giê-su ở vườn Ghết-sê-ma-ni. Nhưng vào giây phút nầy, Đức Giê-su không để cho mình ngã quỵ dưới sức nặng của cuộc Tử Nạn, nhưng trấn tĩnh lại ngay. Thêm nữa, một tiếng phán từ trời an ủi Ngài.
 
      4. Tiếng phán từ trời:
 
      Trong Tin Mừng Gioan, đây là cuộc thần hiện duy nhất. Thánh Gioan không tường thuật cuộc Biến Hình; thánh nhân tường thuật biến cố Phép Rửa chỉ gián tiếp và không có bất kỳ ám chỉ nào đến tiếng phán từ trời. Đoạn văn nầy là đoạn văn duy nhất ám chỉ đến sự can thiệp từ trời. Đây là dấu chỉ sau cùng được ban cho đám đông. Phải chăng đây là dấu chỉ mà người Biệt Phái đòi hỏi nhưng bị từ chối? Đức Giê-su chỉ ban dấu chỉ nầy vào lúc quá muộn: án tử của Ngài đã được quyết định rồi.
 
      5. Cuộc chiến thắng trên Xa-tan:
 
      Vào lúc nỗi buồn phiền dâng cao, Chúa Giê-su lấy lại niềm hưng phấn lúc ban đầu: ơn cứu độ mà Ngài mang đến cho thế gian sẽ đánh dấu sự thất bại của Xa-tan. Nhân loại sẽ tránh khỏi quyền lực của sự Dữ. Thập Giá sẽ là dấu chỉ của cuộc chiến thắng nầy: “Phần tôi, khi được nâng lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Động từ “nâng lên” được dùng ở đây có nghĩa vừa “được giương lên cao” vừa “được tôn vinh”, tức là được đưa lên trên Thập Giá và được tôn vinh bên cạnh Chúa Cha. Đức Giê-su đã trả lời cho ông Ni-cô-đê-mô theo cùng một cách như vậy: “Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3: 14-15).
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 2014

It is so important to listen! Husbands and wives need to communicate to bring happiness and serenity to family life.
Điều quan trọng là hãy biết lắng nghe! Vợ chồng cần phải đối thoại với nhau để mang lại hạnh phúc và an lạc cho gia đình. — Pope Francis (@Pontifex) Ngày 16/12/2014
Today is my anniversary of ordination to the priesthood. Please pray for me and all priests.
Hôm nay kỷ niệm ngày thụ phong linh mục của tôi. Xin hãy cầu nguyện cho tôi và cho tất cả các linh mục. — Pope Francis (@Pontifex) Ngày 13/12/2014
Our Lady of Guadalupe, pray for us!
Lạy Đức Bà Guadalupe, xin cầu cho chúng con! — Pope Francis (@Pontifex) Ngày 12/12/2014
Ecology is essential for the survival of mankind; it is a moral issue which affects all of us.
Vấn đề sinh thái quan trọng đối với sự sống còn của nhân loại; khía cạnh đạo đức của nó ảnh hưởng đến tất cả chúng ta. — Pope Francis (@Pontifex) Ngày 11/12/2014
The family is a community of love where each of us learns to relate to others and to the world around us.
Gia đình là một cộng đoàn yêu thương nơi đó mỗi người chúng ta học cách sống với nhau và với thế giới chung quanh mình. — Pope Francis (@Pontifex) Ngày 9/12/2014
Advent begins a new journey. May Mary, our Mother, be our guide.
Mùa Vọng khởi đầu một hành trình mới. Hãy để Mẹ Maria làm người dẫn đường cho chúng ta. — Pope Francis (@Pontifex) December 6, 2014
Advent increases our hope, a hope which does not disappoint. The Lord never lets us down.
Mùa Vọng gia tăng niềm hy vọng của chúng ta, một niềm hy vọng không bao giờ gây thất vọng. Chúa không bao giờ để chúng ta thất vọng. — Pope Francis (@Pontifex) December 4, 2014
Slaves no more. We are all brothers and sisters.
Không còn ai là nô lệ. Tất cả chúng ta đều là anh chị em. — Pope Francis (@Pontifex) December 2, 2014
The Church is called to draw near to every person, beginning with the poorest and those who suffer.
Giáo hội được mời gọi gần gũi với mọi người, bắt đầu với những người nghèo khổ nhất và những người bất hạnh. — Pope Francis (@Pontifex) December 2, 2014
Love is the measure of faith.
Đức ái là thước đo đức tin. — Pope Francis (@Pontifex) November 27, 2014
When we meet a person truly in need, do we see the face of God?
Khi chúng ta gặp một người đúng là đang cần giúp đỡ, chúng ta có nhận ra khuôn mặt của Thiên Chúa nơi con người đó? — Pope Francis (@Pontifex) November 22, 2014
Let us seek to live in a way that is always worthy of our Christian vocation.
Chúng ta hãy sống sao cho luôn xứng đáng với ơn gọi Kitô hữu của chúng ta. — Pope Francis (@Pontifex) November 20, 2014
There is so much noise in the world! May we learn to be silent in our hearts and before God.
Thế giới ồn ào náo nhiệt biết bao! Chúng ta hãy học biết tĩnh lặng trong tâm hồn và trước Thiên Chúa. — Pope Francis (@Pontifex) November 18, 2014
A Christian brings peace to others. Not only peace, but also love, kindness, faithfulness and joy.
Kitô hữu là người mang hòa bình đến cho tha nhân. Không chỉ hòa bình, mà còn tình yêu thương, lòng nhân ái, niềm tin tưởng và niềm vui. — Pope Francis (@Pontifex) November 15, 2014
War destroys, kills, impoverishes. Lord, give us your peace!
Chiến tranh phá hủy, giết chết, bần cùng hóa. Lạy Chúa xin ban cho chúng con sự bình an của Chúa! — Pope Francis (@Pontifex) November 13, 2014
Work is so important for human dignity, for building up a family, for peace!
Việc làm rất quan trọng để đáp ứng phẩm giá con người, để xây dựng gia đình, để kiến tạo hòa bình! — Pope Francis (@Pontifex) November 11, 2014
I ask all people of goodwill to help build a culture of encounter, solidarity and peace.
Tôi kêu mời tất cả mọi người thiện chí hãy cùng chung tay xây dựng một nền văn hóa gặp gỡ, liên đới và hòa bình. — Pope Francis (@Pontifex) November 9, 2014
The Church is ever on a journey, seeking new ways to announce the Gospel.
Giáo hội luôn trên hành trình tìm ra những phương thức mới để loan báo Tin Mừng. — Pope Francis (@Pontifex) November 8, 2014
Indifference towards those in need is not acceptable for a Christian.
Sự thờ ơ trước người đang cần giúp đỡ là không thể chấp nhận được đối với người Kitô hữu. — Pope Francis (@Pontifex) November 6, 2014
Being humble helps us share the burdens of others.
Lòng khiêm nhu giúp chúng ta chia sẻ gánh nặng của người khác. — Pope Francis (@Pontifex) November 4, 2014
A good example brings about so much good, but hypocrisy brings about much evil.
Một gương sáng mang lại nhiều điều tốt đẹp bao nhiêu thì sự giả hình mang lại nhiều ác hại bấy nhiêu. — Pope Francis (@Pontifex) November 1, 2014
The principal mission of the Church is evangelization, bringing the Good News to everyone.
Nhiệm vụ chủ yếu của Giáo Hội là truyền giáo, mang Tin Mừng đến tất cả mọi người. — Pope Francis (@Pontifex) October 30, 2014
May we help people to discover the joy of the Christian message: a message of love and mercy.
Chúng ta hãy giúp mọi người khám phá niềm vui của sứ điệp Kitô giáo: một sứ điệp của tình yêu và lòng thương xót. — Pope Francis (@Pontifex) October 28, 2014
Jesus’ Cross shows the full force of evil, but also the full power of God’s mercy.
Thập giá của Đức Giêsu cho thấy tất cả sức nặng của tội lỗi, nhưng đồng thời cũng cho thấy tất cả sức mạnh của lòng từ ái của Thiên Chúa. — Pope Francis (@Pontifex) October 25, 2014
The family is where we are formed as people. Every family is a brick in the building of society.
Gia đình là nơi chúng ta hình thành nhân cách của mình. Mỗi gia đình là một viên gạch xây dựng xã hội.. — Pope Francis (@Pontifex) October 23, 2014
If faith is to be strong and healthy, it must be constantly nourished by the Word of God.
Để đức tin được khỏe mạnh thì phải được thường xuyên nuôi dưỡng bằng Lời Chúa. — Pope Francis (@Pontifex) October 21, 2014
To change the world we must be good to those who cannot repay us.
Để biến đổi thế giới, chúng ta cần làm điều tốt cho người không có khả năng đáp trả chúng ta. — Pope Francis (@Pontifex) October 18, 2014
A Christian is merciful by nature; this is heart of the Gospel.
Người Kitô hữu phải biết xót thương; đó là trái tim của Tin Mừng. — Pope Francis (@Pontifex) October 16, 2014
O Lord, comfort all those who suffer, especially the sick, the poor and the unemployed.
Lạy Chúa, xin ủi an tất cả những ai đau khổ, đặc biệt những bệnh nhân, kẻ nghèo khó và người thất nghiệp. — Pope Francis (@Pontifex) October 14, 2014
The spiritual power of the Sacraments is boundless. With grace, we can overcome every obstacle.
Sức mạnh thiêng liêng của các bí tích là vô biên. Với ân sủng, chúng ta có thể vượt qua mọi trở ngại. — Pope Francis (@Pontifex) October 11, 2014
Dear young people, Christ is counting on you to be his friends and witnesses to his infinite love.
Hỡi các bạn trẻ, Đức Kitô xem các bạn là bạn hữu và những nhân chứng tình cho yêu vô biên của Ngài. — Pope Francis (@Pontifex) October 10, 2014
Let us ask the Lord for the grace not to speak badly of others, not to criticize, not to gossip, but rather to love everyone.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta đừng nói xấu người khác, đừng phê phán, đừng ngồi lê đôi mách, nhưng yêu thương hết mọi người. — Pope Francis (@Pontifex) October 7, 2014
Come, Holy Spirit. Bestow upon us your gifts during the Synod.
Lạy Chúa Thánh Thần xin hãy đến. Xin ban xuống trên chúng con các ơn của Ngài trong thời gian diễn ra Thượng Hội Đồng. — Pope Francis (@Pontifex) October 6, 2014
As we begin the Synod on the Family, let us ask the Lord to show us the way forward.
Đây là lúc khởi đầu Thượng hội đồng Giám mục, chúng ta hãy cầu xin Chúa soi sáng cho chúng ta con đường phía trước.. — Pope Francis (@Pontifex) October 5, 2014
As Jesus told Martha in the Gospel, one thing is necessary: prayer.
Như Chúa Giêsu đã nói với bà Marta trong Tin Mừng, chỉ có một điều cần thiết thôi: đó là cầu nguyện. — Pope Francis (@Pontifex) October 4, 2014
Happy families are essential for the Church and for society.
Gia đình hạnh phúc là nền tảng thiết yếu của Giáo hội và xã hội. — Pope Francis (@Pontifex) October 3, 2014
A Synod means walking together but also praying together. I ask all the faithful to participate.
Thượng Hội đồng có nghĩa là cùng nhau bước đi, nhưng cũng có nghĩa là cùng nhau cầu nguyện. Tôi kêu mời tất cả anh chị em tín hữu cùng tham gia. — Pope Francis (@Pontifex) October 2, 2014

ỦNG HỘ-CHIA SẺ





THÁNH CA MÙA VỌNG 2014

HIỆP THÔNG THÁNG 12

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 31
  • Khách viếng thăm: 24
  • Máy chủ tìm kiếm: 7
  • Hôm nay: 4304
  • Tháng hiện tại: 135577
  • Tổng lượt truy cập: 7565815