CN 5 Mùa Chay. Giải thích Lời Chúa.

Đăng lúc: Thứ hai - 19/03/2012 17:01 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Trong Tin Mừng Gioan, đây là cuộc thần hiện duy nhất. Thánh Gioan không tường thuật cuộc Biến Hình; thánh nhân tường thuật biến cố Phép Rửa chỉ gián tiếp và không có bất kỳ ám chỉ nào đến tiếng phán từ trời. Đoạn văn nầy là đoạn văn duy nhất ám chỉ đến sự can thiệp từ trời.
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY
 
      

     Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay hôm nay dâng hiến những chủ đề rất gần với những tưởng niệm lễ Vượt Qua: thiết lập Bí Tích Thánh Thể, Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô. Cả ba bài đọc đều cấu trúc theo một nét chung: ở giữa lòng của nỗi xao xuyến vang lên một tiếng kêu tràn đầy hy vọng.
 
      Gr 31: 31-34
 
      Trước khi Thành Thánh Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ bị tàn phá, ngôn sứ Giê-rê-mi-a công bố rằng không có gì phải mất cả: này sắp đến những ngày, Thiên Chúa sẽ thiết lập một “Giao Ước Mới”. Đức Giê-su lấy lại diễn ngữ nầy khi thiết lập Bí Tích Thánh Thể: “Chén nầy là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 20: 20; 1Cr 11: 25).
 
      Dt 5: 7-9
 
      Thư gởi tín hữu Do thái nhắc nhớ rằng Đức Giê-su cảm thấy xao xuyến tận đáy lòng trước tấn thảm kịch của sự chết, nhưng nhờ cuộc Tử Nạn của Ngài, sự chết trở nên “nguồn ơn cứu độ đời đời” cho nhân loại.
 
      Ga 12: 20-33
 
      Tin Mừng Gioan gợi lên rằng trước cuộc Tử Nạn gần kề của Ngài, Đức Giê-su xao xuyến, nhưng rồi trấn tỉnh khi nghĩ đến cuộc chiến thắng vinh quang của Ngài trên Xa-tan, quyền lực của sự Dữ.
 
      BÀI ĐỌC I (Gr 31: 31-34)
 
      Chúng ta thường nghĩ rằng diễn ngữ “Giao Ước Mới”, được rút gọn: “Tân Ước”, xuất xứ từ các sách Tin Mừng, trong đó Đức Giê-su đã sử dụng diễn ngữ nầy vào buổi chiều Tiệc Ly: “Chén nầy là Giao Ước Mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 20: 20; 1Cr 11: 25). Thật ra, diễn ngữ nầy được gặp thấy rồi trong Cựu Ước. Diễn ngữ nầy xuất hiện lần đầu tiên ở nơi đoạn trích hôm nay đánh dấu đỉnh cao sứ điệp tinh thần của vị ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ông loan báo một “Giao Ước Mới” dưới hai dấu chỉ: tác động nội tâm của Thần Khí và ơn tha thứ tội lỗi. Quả thật, đây là sấm ngôn linh hứng của vị ngôn sứ, nhưng cũng là thành quả của một kinh nghiệm mà vị ngôn sứ đã sống với một tâm trí minh mẫn.
 
      Kinh nghiệm nầy được hình thành hai giai đoạn: “thời kỳ hạnh phúc”“thời kỳ bi thương” của dân tộc mình. Giê-rê-mi-a có lẽ chào đời vào năm 645 trước Công Nguyên. Vào thời niên thiếu của mình, ông đã kinh qua thời kỳ hưng phấn (dù ông không bao giờ ám chỉ đến): thời kỳ cải cảnh của vua Giô-si-gia, khởi sự vào năm 622 trước Công Nguyên. Trước triều đại của vị vua cải cách nầy, là triều đại của vua Mơ-na-se, vị vua vô đạo đã du nhập và phổ biến việc thờ ngẫu tượng cho đến tận Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Ông còn bảo trợ tội bội giáo của dân chúng nữa.
 
      1. thời kỳ hạnh phúc:
 
      Vào năm 622, trong khi Nhà Đức Chúa đang được trùng tu, người ta tìm thấy “sách Luật” (có thể đây là sách Đệ Nhị Luật hay ít ra những bản văn cốt yếu của sách này), sách đã bị quên lãng hơn nữa thế kỷ qua (vua Mơ-na-se đã cai trị từ năm 687 đến 642 trước Công Nguyên).
 
      Vua Giô-si-gia công bố trước toàn dân tất cả các lời trong sách Giao Ước đã tìm thấy trong Nhà Đức Chúa. Vua long trọng cam kết đi theo đường lối của Đức Chúa và hết lòng hết dạ tuân giữ các mệnh lệnh, chỉ thị và quy tắc của Ngài. Toàn dân đồng thanh chấp nhận Giao Ước (2V 23: 1-3). Vua Giô-si-gia thực hiện cuộc cải cách tôn giáo tận căn: trừ tiệt tất cả mọi vết tích thờ ngẫu tượng ra khỏi đất nước, dẹp bỏ các tế đàn ở nơi cao và tập trung việc phụng tự kính Đức Chúa vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
 
      Nhưng than ôi! Vào năm 609, vua tử trận trong cuộc chiến chống quân đội Ai-cập. Ngay sau cái chết của vua, nền phụng tự ngoại giáo lại có cơ hội bộc phát. Chính vào thời điểm nầy mà những sấm ngôn của ngôn sứ Giê-rê-mi-a vang lên, loan báo những tai họa thảm khốc nhất nếu nhà Giu-đa không thành tâm hoán cải (Gr 26). Vì thế, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã chứng kiến việc tái lập Giao Ước bị thất bại: công việc cải cách đã tác động đến việc tế tự, phụng vụ, nghi lễ, nhưng đã không biến đổi tấm lòng của dân chúng. Vị ngôn sứ không quên bài học nầy.
 
      2. Thời kỳ bi thương:
 
      Ngôn sứ Giê-rê-mi-a, được mệnh danh là ngôn sứ của những tai họa, không ngừng cảnh báo quốc họa rất gần kề; vì thế, người ta đã âm mưu hãm hại ông, quấy nhiễu ông và tống giam ông. Những sấm ngôn của ông bị vua Giô-gia-kim xé từng trang và bỏ vào lò sưởi. Tuy nhiên, những lời sấm nầy đã được ứng nghiệm. Kinh thành Giê-ru-sa-lem bị quân vua Na-bu-cô-đô-nô-xo đánh chiếm vào năm 597 trước Công Nguyên; thành phần ưu tú bị phát lưu ở Ba-by-lon; Đền Thờ bị phá hủy vào năm 587, sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị chiếm lần thứ hai.
 
      Ngôn sứ Giê-rê-mi-a đọc được những ý định của Thiên Chúa qua thực tại bi thảm này: cuộc tái lập Giao Ước tỏ ra thất bại, Thành Đô hoang tàn đổ nát, Đền Thờ chẳng bao lâu sau bị tàn phá, đây không phải là những dấu hiệu cho thấy Thiên Chúa có một kế hoạch khác, vì lòng chai dạ đá của dân Ngài sao? Chính như vậy mà ngay vào lúc Kinh Thành Giê-ru-sa-lem sắp bị tàn phá, vị ngôn sứ loan báo rằng không có gì phải mất cả và diễn tả niềm hy vọng bất diệt của Ít-ra-en bằng những lời lẽ tuyệt vời: “Nầy sắp đến những ngày” Đức Chúa sẽ thiết lập với dân Ngài một Giao Ước Mới, không còn là Giao Ước được khắc vào bia đá như Ngài đã thiết lập với ông Mô-sê, cũng không trên cuốn sách như được tìm gặp trong Đền Thờ, nhưng sẽ được ghi tạc vào lòng dạ dân chúng, sẽ khắc sâu vào tâm khảm dân chúng…
 
      Ở nơi khác, ngôn sứ công bố: “Ta sẽ ban cho chúng một tâm hồn để nhận biết rằng chính Ta là Đức Chúa” (Gr 24: 7) hay “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và một con đường hành động, để chúng kính sợ Ta mãi mãi, nhờ đó chúng và con cháu sau nầy được sống hạnh phúc. Ta sẽ lập với chúng một Giao Ước muôn đời: Ta sẽ không bỏ chúng nữa, sẽ tiếp tục theo dõi, và không ngừng thi ân cho chúng, cũng như ban cho chúng lòng kính sợ Ta, để chúng không xa rời Ta nữa” (32: 39-40).
 
      Ngôn sứ Giê-rê-mi-a loan báo cuộc sống theo Thần Khí và dưới tác động của ân sủng. Nhờ tác động của Thần Khí, mọi người, từ bé thơ cho đến người lớn, đều nhận biết và thi hành ý muốn của Thiên Chúa mà không cần phải dạy bảo nhau nữa.
 
      Ngôn sứ Ê-dê-ki-en trong cảnh lưu đày ở Ba-by-lon cũng thoáng thấy một niềm hy vọng về một Giao Ước Mới: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng cho các ngươi một trái tim bằng thịt. Chính thần khí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thực hành” (Ed 36: 26-27).
 
      Cuộc đời của vị ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã là một mẫu gương về một cuộc sống trong Thần Khí rồi. Một con người đạo hạnh tận đáy lòng, đối thoại thường hằng với Thiên Chúa, vị ngôn sứ xứng đáng được gọi là “cha của kinh nguyện”. Bằng cuộc sống của mình, ông làm chứng về tôn giáo mà ông loan báo. Chính từ môi miệng ông mà sấm ngôn về “Giáo Ước Mới” được thốt lên thành lời. Đó không phải là hợp lý sao?
 
      BÀI ĐỌC II (Dt 5: 7-9)
 
      Phải nói một cách chính xác, “thư gởi cho các tín hữu Do thái” không thực sự là một “bức thư” vì tác giả không tự giới thiệu mình và cũng không cho biết người nhận là cho ai (nhan đề “thư gởi cho các tín hữu Do thái” xuất hiện chỉ vào thế kỷ thứ hai).
 
      Bức thư nầy được gán cho thánh Phao-lô vì vài tư tưởng và ngôn từ rất gần với tư tưởng và ngôn từ của thánh nhân, nhưng đề tài trung tâm không thuộc về thánh Phao-lô: tác giả muốn chứng tỏ rằng Đức Ki-tô là vị Thượng Tế Tân Ước, cao vời trên vị Thượng Tế Cựu Ước. Đức Ki-tô là Đấng Trung Gian tuyệt vời, vị Tư Tế duy nhất và hiến lễ của Ngài thì thập toàn. Ấy vậy, thánh Phao-lô không bao giờ gán cho Đức Ki tô tước hiệu tư tế.
 
      Người nhận là những người Ki-tô hữu gốc Do thái chịu những bách hại và chắc chắn mang một nỗi nhớ khôn nguôi về nền phụng tự Cựu Ước. Về niên biểu, bức thư nầy chắc chắn được viết trước khi Đền Thờ và Kinh Thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá vào năm 70 sau Công Nguyên, bởi vì tác giả nói về phụng vụ Đền Thờ như về phụng vụ hiện hành và luôn luôn sinh động. Ngoài ra, nếu bức thư được viết sau biến cố năm 70, tác giả không thể nào không ám chỉ đến biến cố nầy, vì biến cố này rõ ràng củng cố đề tài của ông về tình trạng vô hiệu của Giao Ước Cũ.
 
      Đoạn trích ngắn nầy diễn tả sâu sắc hai khía cạnh bất khả phân của con người Đức Ki-tô, khiến cuộc Tử Nạn của Ngài được phơi bày hết mức kịch tính: nỗi xao xuyến của kiếp sống phàm nhân và vị thế Con Thiên Chúa.
 
      1. Kiếp sống phàm nhân (5: 7):
 
      Tác giả ám chỉ đến việc Đức Giê-su “lớn tiếng kêu van khóc lóc, mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” ở vườn Ghết-sê-ma-ni. Chắc chắn Đức Giê-su đã cầu nguyện lớn tiếng đến nổi ba môn đệ ở gần đó có thể nghe được. Nhưng đây cũng có thể ám chỉ đến tiếng kêu cuối cùng của Ngài lên cùng Cha Ngài trong cơn hấp hối trước khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mt 27: 46). Tác giả muốn nhắc nhớ rằng Đức Giê-su đã chia sẻ tận mức những yếu đuối của chúng ta và nỗi sợ hãi của chúng ta trước cái chết. Quả thật, “Thiên Chúa đã nhận lời Ngài” nhưng không theo cách thế mà con người ở nơi Đức Giê-su mong ước: để có thể chiến thắng tử thần, Ngài phải trải qua sự chết.
 
      2. Vị thế Con Thiên Chúa (5: 8-9):
 
      Trong phần hai, tác giả muốn cho thấy rằng không có bất kỳ kiếm khuyết nào ở nơi Đức Giê-su. Dầu là Con Thiên Chúa, Đức Giê-su chấp nhận thánh ý của Chúa Cha với một thái độ vâng phục trọn vẹn. Từ “vâng phục” âm vang tư tưởng của thánh Phao-lô. Thánh Phao-lô nói về “sự vâng phục tràn đầy niềm tin”.
 
      “Người đã trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”. Gian khổ là trường đào tạo tốt nhất để thành nhân, nhân loại tiến bộ nhờ những kinh nghiệm đau thương. Tác giả áp dụng tư tưởng này vào Đức Ki tô: “bản thân đã tới mức thập toàn”. Chính không phải với tư cách là Con Thiên Chúa mà Ngài “đạt tới mức thập toàn”, nhưng với tư cách là Đấng Cứu Độ. Bằng đau khổ mà Ngài sẵn lòng chấp nhận, Đức Ki tô đã trở nên hy lễ hữu hiệu tận mức đem lại ơn tha thứ tội lỗi. Như vậy, Ngài trở nên Đấng Trung Gian lý tưởng, vừa người anh em của con người vừa Con Thiên Chúa, làm một với Thiên Chúa và một với chúng ta. Đó là một trong những tư tưởng cốt yếu của “thư gởi tín hữu Do thái”  nầy.
 
      TIN MỪNG (Ga 12: 20-33).
 
      Trong Tin Mừng Gioan, câu chuyện này xảy ra ngay sau bài tường thuật về việc Đức Giê-su khải hoàn tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem vào lúc lễ Vượt Qua sắp đến gần.
 
      Trong cùng một chuyển động, đến lượt mình, các lương dân bày tỏ “muốn được gặp” Đức Giê-su. Trong Tin Mừng Gioan, cách nói “muốn được gặp” bày tỏ dáng dấp niềm tin rồi. Lời thỉnh cầu của họ đã gây xúc động sâu xa ở nơi Đức Giê-su: những người Hy lạp nầy đại diện thế giới lương dân mà cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài sẽ mở ra cho họ con đường cứu độ. Cuộc Tử Nạn sắp đến gần của Ngài làm cho Ngài đầy xao xuyến.
 
      Câu chuyện nầy thật cảm động. Dầu thánh ký không nêu lên nỗi xao xuyến ở vườn Ghết-sê-ma-ni, nhưng tình tiết được trình bày ở đây như tham dự trước nỗi xao xuyến ở vườn Ghết-sê-ma-ni.
 
      1. Niềm tin của những người Hy-lạp:
 
      Những người Hy-lạp nầy đến Giê-ru-sa-lem để mừng lễ Vượt Qua, họ thuộc vào số những lương dân có thiện cảm với Độc Thần Giáo Do thái. Sách Công Vụ gọi họ “những người sùng mộ Thiên Chúa” hay “những người kính sợ Thiên Chúa”.
 
      Họ ngỏ lời xin gặp Đức Giê-su với ông Phi-líp-phê. Ông Phi-líp-phê nói lại với ông An-rê, đoạn cả hai đến thưa chuyện với Thầy mình. Đức Giê-su không trả lời trực tiếp với những người Hy-lạp đến xin gặp Ngài. Thời gian của những cuộc chuyện trò riêng tư đã qua. Bây giờ là giờ của ơn cứu độ phổ quát.
 
      2. Giờ của Đức Giê-su:
 
       Cho đến lúc đó, Đức Giê-su đã từ chối mang sứ điệp của Ngài đến lương dân, bây giờ Ngài biết rằng thời giờ của họ đã đến; Ngài sắp đổ máu mình ra cho tất cả họ. Trước đó vài ngày, Ngài đã nói: “Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên. Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn nầy” (Ga 10: 15-16). Những chiên khác không thuộc ràn nầy, chính là những lương dân này, họ đang thỉnh cầu được gặp Ngài. Xúc động tận đáy lòng, Đức Giê-su hân hoan nói: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh!”.
 
      Chúa Giê-su thích dùng tước hiệu “Con Người” để nói về mình. Tước hiệu nầy quy chiếu đến thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en, trong đó một nhân vật huyền nhiệm “như Con Người đến trên mây trời” nhận được danh dự, quyền năng và vinh quang (Đn 7: 13-14). Tước hiệu bí ẩn nầy cho phép Đức Giê-su diễn tả tính siêu việt của Ngài ở nơi nhân tính của Ngài, đồng thời vẫn giữ được mầu nhiệm con người Ngài.
 
      “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh”. Trong Tin Mừng Gioan, giờ tôn vinh bắt đầu ở đồi Can-vê. Thật ra, việc tôn vinh bao gồm cuộc Phục Sinh và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, mà đỉnh cao chính là Thập Giá. Chính ở nơi Thập Giá mà hành động cứu độ viên mãn của Đức Giê-su được thực hiện và ý định yêu thương vô hạn của Thiên Chúa được thể hiện. Chúa Giê-su diễn tả chân lý nầy bằng một sự so sánh rất giản dị: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.
 
3. Lời mời gọi theo Ngài:
 
      Chúng ta ghi nhận rằng mỗi lần Đức Giê-su loan báo cuộc Tử Nạn của Ngài, Ngài đều mời gọi bước theo Ngài trên con đường gian nan của sự từ bỏ: “Ai quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời nầy, thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống đời đời” (cf. Mt 16: 21-24; Mc 8: 31-35; Lc 9: 22-23). Chính đó là câu trả lời của Ngài cho những người Hy-lạp mong ước được gặp và biết Ngài. Một cách nào đó, Ngài cho họ một cuộc hẹn gặp: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”. Không ai có thể gặp gỡ Đức Giê-su, nếu không chung bước trên cùng con đường với Ngài.
 
      Viễn cảnh của con đường đau khổ nầy làm xao xuyến Đức Giê-su tận đáy lòng. Ba chuyển động nối tiếp nhau: xao xuyến tận đáy lòng, kêu cầu cùng Chúa Cha và chấp nhận dâng hiến mạng sống mình, mà các sách Tin Mừng Nhất Lãm dùng để mô tả con người của Đức Giê-su ở vườn Ghết-sê-ma-ni. Nhưng vào giây phút nầy, Đức Giê-su không để cho mình ngã quỵ dưới sức nặng của cuộc Tử Nạn, nhưng trấn tĩnh lại ngay. Thêm nữa, một tiếng phán từ trời an ủi Ngài.
 
      4. Tiếng phán từ trời:
 
      Trong Tin Mừng Gioan, đây là cuộc thần hiện duy nhất. Thánh Gioan không tường thuật cuộc Biến Hình; thánh nhân tường thuật biến cố Phép Rửa chỉ gián tiếp và không có bất kỳ ám chỉ nào đến tiếng phán từ trời. Đoạn văn nầy là đoạn văn duy nhất ám chỉ đến sự can thiệp từ trời. Đây là dấu chỉ sau cùng được ban cho đám đông. Phải chăng đây là dấu chỉ mà người Biệt Phái đòi hỏi nhưng bị từ chối? Đức Giê-su chỉ ban dấu chỉ nầy vào lúc quá muộn: án tử của Ngài đã được quyết định rồi.
 
      5. Cuộc chiến thắng trên Xa-tan:
 
      Vào lúc nỗi buồn phiền dâng cao, Chúa Giê-su lấy lại niềm hưng phấn lúc ban đầu: ơn cứu độ mà Ngài mang đến cho thế gian sẽ đánh dấu sự thất bại của Xa-tan. Nhân loại sẽ tránh khỏi quyền lực của sự Dữ. Thập Giá sẽ là dấu chỉ của cuộc chiến thắng nầy: “Phần tôi, khi được nâng lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi”. Động từ “nâng lên” được dùng ở đây có nghĩa vừa “được giương lên cao” vừa “được tôn vinh”, tức là được đưa lên trên Thập Giá và được tôn vinh bên cạnh Chúa Cha. Đức Giê-su đã trả lời cho ông Ni-cô-đê-mô theo cùng một cách như vậy: “Con Người cũng sẽ được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3: 14-15).
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 7/2015


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/7/2015 

- That which gives us true freedom and true happiness is the compassionate love of Christ.
Điều làm cho chúng ta được tự do và hạnh phúc đích thực chính là tình yêu thương xót của Chúa Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/7/2015 

- A great challenge: stop ruining the garden which God has entrusted to us so that all may enjoy it.
Một thách thức lớn: Ngừng làm tổn hại đến khu vườn (trái đất) mà Thiên Chúa đã ủy thác cho chúng ta để mọi người có thể cùng chung hưởng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/6/2015 

- How wonderful it is to proclaim to everyone the love of God which saves us and gives meaning to our lives!
Đẹp biết bao khi loan báo cho mọi người tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu cứu độ và mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/6/2015 

- The Church is a mother with an open heart, ready to help all people, especially those who try the hardest.
Giáo hội là một người mẹ với trái tim rộng mở, sẳn sàng giúp đỡ mọi người, đặc biệt những người truân chuyên nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/6/2015 

- In Confession, Jesus welcomes us with all our sinfulness, to give us a new heart, capable of loving as he loves.
Trong bí tích Giải tội, Chúa Giêsu đón tiếp chúng ta với tất cả tội lỗi chúng ta, để ban cho chúng ta một trái tim mới, có khả năng yêu thương như Ngài yêu thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/6/2015 

- God’s love is free. He asks for nothing in return; all he wants is for his love to be accepted.
Tình yêu của Thiên Chúa là cho không. Ngài không đòi đền đáp; Ngài chỉ muốn tình yêu của Ngài được đón nhận.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18-19/6/2015 

- Lord, seize us with your power and light, help us to protect all life, to prepare for a better future.
Lạy Chúa, xin hãy chiếm lĩnh chúng con bằng sức mạnh và ánh sáng của Chúa, giúp chúng con bảo vệ mọi sự sống, để chuẩn bị cho một tương lai tốt hơn.

- Let us sing as we go. May our struggles and our concern for this planet never take away the joy of our hope.
Chúng ta hãy vừa đi vừa hát. Ước gì cuộc đấu tranh và mối quan tâm của chúng ta đối với hành tinh này không bao giờ tước đi niềm vui và niềm hy vọng của chúng ta.

- Let us sing as we go. May our struggles and our concern for this planet never take away the joy of our hope.
Chúng ta hãy vừa đi vừa hát. Ước gì cuộc đấu tranh và mối quan tâm của chúng ta đối với hành tinh này không bao giờ tước đi niềm vui và niềm hy vọng của chúng ta.

- An integral ecology includes taking time to reflect on our lifestyle and our ideals.
Một sinh thái học toàn vẹn bao hàm việc dành thời gian suy nghĩ về lối sống và lý tưởng của chúng ta.

- Christian spirituality proposes an alternative understanding of the quality of life.
Linh đạo Kitô giáo đề xuất một cách thức khác để hiểu chất lượng cuộc sống.

- Living our vocation to be protectors of God’s handiwork is not a secondary aspect of our Christian experience.
Sống ơn gọi của chúng ta để trở thành người bảo vệ công trình của Thiên Chúa không phải là khía cạnh thứ yếu của trải nghiệm Kitô giáo của chúng ta.

- The teachings of the Gospel have direct consequences for our way of thinking, feeling and living.
Những giáo huấn của Tin Mừng mang lại cho chúng ta cách suy nghĩ, cảm nhận và sống.

- Many things have to change course, but it is we human beings above all who need to change.
Có nhiều thứ cần phải thay đổi, nhưng tiên vàn chính con người chúng ta cần phải thay đổi.

- Believers must feel challenged to live in a way consonant with their faith.
Người tín hữu phải trải nghiệm thử thách để sống một cách hòa hợp với đức tin của mình.

- We know how unsustainable is the behaviour of those who constantly consume and destroy.
Chúng ta biết điều đó không bền vững vì thái độ của những người luôn chỉ biết tiêu thụ và phá hủy.

- A decrease in the pace of production and consumption can at times give rise to another form of progress and development.
Việc giảm tốc độ sản xuất và tiêu dùng theo thời gian có thể làm phát sinh một hình thức khác của tiến bộ và phát triển.

- Reducing greenhouse gases requires honesty, courage and responsibility.
Việc cắt giảm khí nhà kính đòi hỏi sự trung thực, lòng can đảm và tính trách nhiệm.

- Interdependence obliges us to think of one world with a common plan.
Sự phụ thuộc lẫn nhau bắt buộc chúng ta phải nghĩ về một thế giới với một kế hoạch chung.

- Leaving an inhabitable planet to future generations is, first and foremost, up to us.
Điều đầu tiên và quan trọng nhất của chúng ta là để lại cho thế hệ tương lai một hành tinh có thể sống được.

- What is at stake is our own dignity.
Phẩm giá của chúng ta là thứ đang bị đe dọa.

- What kind of world do we want to leave to those who come after us, to children who are now growing up?
Chúng ta muốn trao lại cho thế hệ kế tiếp, cho con cháu chúng ta đang lớn lên một loại thế giới nào?

- The world we have received also belongs to who will follow us.
Thế giới chúng ta nhận được cũng thuộc về những người sẽ kế tục chúng ta.

- Having a home has much to do with a sense of personal dignity and the growth of families.
Có một ngôi nhà có nghĩa là có nhiều việc phải làm cùng với ý thức về phẩm giá của từng người và sự tăng trưởng của các gia đình.

- For indigenous communities, land is not a commodity, but a gift from God, a sacred space.
Đối với các cộng đồng bản địa, đất đai không phải là một mặt hàng, mà là một quà tặng của Thiên Chúa, một không gian linh thánh.

- We need an integrated approach to combating poverty and protecting nature.
Chúng ta cần một lối tiếp cận toàn vẹn để chống lại đói nghèo và bảo vệ thiên nhiên.

- It is contrary to human dignity to cause animals to suffer or die needlessly.
Hành hạ hoặc giết chết động vật khi không cần thiết là trái với phẩm giá con người.

- The culture of relativism drives one person to take advantage of another, to treat others as mere objects.
Nền văn hóa của chủ nghĩa tương đối lợi dụng người này để mang lại lợi ích cho người khác, xem tha nhân đơn thuần là những đối tượng.

- Christian thought sees human beings as possessing a particular dignity above other creatures.
Tư tưởng Kitô giáo nhìn nhận con người có phẩm giá đặc biệt vượt trên mọi tạo vật khác.

- There is an urgent need for us to move forward in a bold cultural revolution.
Nhu cầu cấp thiết của chúng ta là tiến về phía trước bằng một cuộc cách mạng văn hóa mạnh mẽ.

- Scientific and technological progress cannot be equated with the progress of humanity and history.
Tiến bộ khoa học và công nghệ không thể được đánh đồng với tiến bộ của nhân loại và lịch sử.

- By itself the market cannot guarantee integral human development and social inclusion.
Thị trường tự nó không thể bảo đảm sự phát triển toàn diện con người và hòa nhập xã hội.

- We are learning all too slowly the lessons of environmental deterioration.
Chúng ta học được quá chậm các bài học về sự suy thoái của môi trường.

- It is possible that we don’t grasp the gravity of the challenges before us.
Có thể chúng ta không nắm bắt được tính nghiêm trọng của những thách thức trước mắt chúng ta.

- Each age tends to have only a meagre awareness of its own limitations.
Mỗi lứa tuổi có xu hướng hiểu biết ít ỏi về những giới hạn riêng của mình.

- Never has humanity had such power over itself, yet nothing ensures that it will be used wisely.
Chưa bao giờ nhân loại có được sức mạnh như thế trên chính mình, nhưng không có gì bảo đảm rằng sức mạnh đó sẽ được sử dụng cách khôn ngoan.

- For believers, this becomes a question of fidelity to the Creator.
Đối với những người tín hữu, điều này trở thành một truy vấn về sự trung thành với Đấng Tạo Hóa.

- Earth is essentially a shared inheritance, whose fruits are meant to benefit everyone.
Về cơ bản trái đất là một di sản được chia sẻ, nghĩa là hoa trái của nó là phúc lợi của mọi người.

- We continue to tolerate some considering themselves more worthy than others.
Chúng ta đang phải chịu đựng một số người tự cho mình giá trị hơn những người khác.

- We should be particularly indignant at the enormous inequalities in our midst.
Chúng ta phải đặc biệt xấu hổ về sự bất bình đẳng rất lớn giữa chúng ta.

- At times more zeal is shown in protecting other species than in defending the equal dignity of human beings.
Đôi khi họ nỗ lực bảo vệ các loài khác hơn là bảo vệ sự bình đẳng phẩm giá của con người.

- A fragile world challenges us to devise intelligent ways of directing, developing and limiting our power.
Một thế giới mong manh đang thách thức chúng ta tìm ra những cách thông minh để lèo lái, phát triển và hạn chế quyền lực của chúng ta.

- Every creature is the object of the Father’s tenderness, who gives it its place in the world.
Mỗi tạo vật là đối tượng của lòng trìu mến của Chúa Cha, Đấng đã cho chúng một chỗ đứng trong thế giới.

- “Creation” has a broader meaning than “nature”; it has to do with God’s loving plan.
“Công trình sáng tạo” có nghĩa rộng hơn “thiên nhiên”; nó được thực hiện với kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa.

- Each community has the duty to protect the earth and to ensure its fruitfulness for coming generations.
Mỗi cộng đồng có trách nhiệm bảo vệ trái đất và bảo đảm nó sinh hoa trái dồi dào cho các thế hệ mai sau.

- The present world system is certainly unsustainable from a number of points of view.
Một số quan điểm cho rằng hệ thống thế giới hiện tại rõ ràng không bền vững.

- We need only to take a frank look at the facts to see that our common home is falling into serious disrepair.
Chỉ cần có một cái nhìn thẳng thắn vào sự thật chúng ta sẽ thấy rằng nhà chung của chúng ta đang rơi vào tình trạng hư hỏng nghiêm trọng.

- Whatever is fragile, like the environment, is defenceless before the interests of a deified market.
Bất cứ điều gì mong manh, như môi trường chẳng hạn, đều không thể tự bảo vệ trước những lợi ích của thị trường bị thần thánh hóa.

- The alliance between economy and technology ends up sidelining anything unrelated to its immediate interests.
Liên minh giữa kinh tế và công nghệ chặn đứng bất cứ tiến trình nào không mang lại lợi ích trước mắt của chúng.

- Economic interests easily end up trumping the common good.
Các lợi ích kinh tế rất dễ dàng lấn át lợi ích chung.

- There is no room for the globalization of indifference.
Không có chỗ cho sự toàn cầu hóa thói dửng dưng.

- Developed countries ought to help pay this debt by limiting their consumption of nonrenewable energy.
Các nước phát triển phải giúp trả khoản nợ này bằng cách hạn chế sử dụng năng lượng không tái tạo.

- A true “ecological debt” exists, particularly between the global north and south.
Đang tồn tại một “món nợ sinh thái” đích thực, đặc biệt giữa bắc bán cầu và nam bán cầu.

- To blame population growth, and not an extreme consumerism on the part of some, is one way of refusing to face the issues.
Một số người đổ lỗi cho sự gia tăng dân số, chứ không phải một thứ chủ nghĩa tiêu thụ thái quá, là cách từ chối đối mặt với các vấn đề.

- We have to hear both the cry of the earth and the cry of the poor.
Chúng ta cần lắng nghe cả tiếng kêu la của trái đất và tiếng khóc của người nghèo khổ.

- The deterioration of the environment and of society affect the most vulnerable people on the planet.
Sự suy thoái của môi trường và xã hội tác động đến những người dễ bị tổn thương nhất trên trái đất.

- The human environment and the natural environment deteriorate together.
Môi trường sống của con người và thiên nhiên cùng bị xấu đi.

- One particularly serious problem is the quality of water available to the poor.
Một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng là chất lượng nước dành cho người nghèo.

- These problems are closely linked to a throwaway culture.
Các vấn đề này có mối liên kết mật thiết với nền văn hóa gạt bỏ.

- The earth, our home, is beginning to look more and more like an immense pile of filth.
Trái đất, ngôi nhà của chúng ta, bắt đầu càng ngày trông càng giống một đống rác mênh mông.

- Climate change represents one of the principal challenges facing humanity in our day.
Biến đổi khí hậu tiêu biểu cho một trong những thách thức chính đối với nhân loại trong thời đại chúng ta.

- The climate is a common good, belonging to all and meant for all.
Khi hậu là phúc lợi chung, thuộc về mọi người và có nghĩa là cho mọi người.

- “To commit a crime against the natural world is a sin against ourselves and a sin against God.” (Patriarch Bartholomew).
Phạm một tội ác chống lại môi sinh là một tội chống lại chính chúng ta và là một tội chống lại Thiên Chúa.

- The throwaway culture of today calls for a new lifestyle.
Nền văn hóa gạt bỏ của ngày hôm nay đang kêu gọi một cách sống mới.

- There is a value proper to each creature.
Mỗi tạo vật đều có một giá trị riêng.

- There is a need to seek other ways of understanding the economy and progress.
Cần tìm kiếm những cách hiểu khác về nền kinh tế và sự tiến bộ.

- There is an intimate relationship between the poor and the fragility of the planet.
Có một mối quan hệ gần gũi giữa đói nghèo và sự mong manh của hành tinh.

- We need a new dialogue about how we are shaping the future of our planet.
Chúng ta cần một cuộc đối thoại mới về cách chúng ta định hình tương lai của hành tinh chúng ta.

- I invite all to pause to think about the challenges we face regarding care for our common home.
Tôi mời gọi mọi người dừng lại trong giây lát để suy nghĩ về những thách thức chúng ta phải đối mặt khi chăm sóc cho ngôi nhà chung của chúng ta.


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/6/2015 

Today the Church is a Church of martyrs, so many heroic witnesses. May we learn from their courage.
Ngày nay, Giáo hội là Giáo hội của các thánh tử đạo: có biết bao chứng nhân anh hùng. Chúng ta hãy học gương can trường của các ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/6/2015 

Where there is no work, there is no dignity.
Ở đâu không có việc làm, ở đó không có nhân phẩm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/6/2015 

In the Sacrament of the Eucharist we find God who gives himself.
Chúng ta thấy được Thiên Chúa trao ban chính mình trong bí tích Thánh Thể.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/6/2015 

We need to build up society in the light of the Beatitudes, walking towards the Kingdom with the least among us.
Chúng ta cần xây dựng xã hội theo ánh sáng của Tám Mối Phúc Thật, đồng hành cùng những người cuối hết trên đường về Nước Trời.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/6/2015 

The light of the Gospel guides all who put themselves at the service of the civilization of love.
Ánh sáng Phúc Âm là kim chỉ nam cho tất cả những ai dấn thân phục vụ nền văn minh tình thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/5/2015 

Lord, grant us the awesome gift of meeting you.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con món quà tuyệt vời là được gặp gỡ Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/5/2015 

Christians are witnesses not to a theory, but to a Person: Christ risen and alive, the one Saviour of all.
Kitô hữu là nhân chứng không phải về một lý thuyết nhưng là về một Con người: đó là Đức Kitô đã sống lại và đang sống, là Đấng Cứu chuộc duy nhất của mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/5/2015 

We can observe the Fourth Commandment by loving visits to our aging grandparents.
Chúng ta hãy thực hành Giới răn thứ Bốn bằng những cuộc thăm viếng đầy yêu thương các ông bà nội ngoại lúc tuổi già.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/5/2015 

Let us invoke the Holy Spirit each day: He guides us along the path of discipleship in Christ.
Chúng ta hãy khẩn cầu Chúa Thánh Thần mỗi ngày: Xin Ngài hướng dẫn chúng ta trên con đường của các môn đệ Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/5/2015 

Lord, send forth your Holy Spirit to bring consolation and strength to persecuted Christians. #free2pray.
Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến để mang lại niềm an ủi và sức mạnh cho các Kitô hữu bị bách hại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/5/2015 

There are times when God is silent, a silence which cannot be understood unless we gaze upon Christ crucified.
Có những lúc Thiên Chúa im hơi lặng tiếng, một sự im lặng chỉ có thể hiểu được khi chúng ta chiêm ngắm Chúa Kitô bị đóng đinh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/5/2015 

God is always waiting for us, he always understands us, he always forgives us.
Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta, Ngài luôn thấu hiểu chúng ta, luôn tha thứ chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/5/2015 

It is better to have a Church that is wounded but out in the streets than a Church that is sick because it is closed in on itself.
Một Giáo hội bị thương tích trên đường phố thì tốt hơn một Giáo hội bệnh hoạn vì bị giam hãm trong chính bản thân mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/5/2015 

Dear parents, have great patience, and forgive from the depths of your heart.
Hỡi các bậc làm cha mẹ, hãy hết sức kiên nhẫn, và hãy tha thứ tự đáy lòng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/5/2015 

Why is it so difficult to tolerate the faults of others? Have we forgotten that Jesus bore our sins?
Sao chúng ta khó tha thứ những lỗi lầm của người khác? Chúng ta quên rằng Chúa Giêsu đã gánh chịu tội lỗi của chúng ta sao?

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/5/2015 

Let us learn to live with kindness, to love everyone, even when they do not love us.
Chúng ta hãy học biết sống nhân ái, yêu thương mọi người, ngay cả với người không yêu thương chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/5/2015 

When we cannot earn our own bread, we lose our dignity. This is a tragedy today, especially for the young.
Khi một người không có cái ăn, họ đánh mất luôn phẩm giá (“bần cùng sinh đạo tặc”). Đó là bi kịch của ngày nay, đặc biệt đối với giới trẻ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/5/2015 

It is good for us to spend time before the Tabernacle, to feel the gaze of Jesus upon us.
Thật hữu ích khi ta bỏ chút thời gian hiện diện trước Nhà Tạm để cảm nhận ánh mắt của Chúa Giêsu nhìn chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/5/2015 

The love of Christ fills our hearts and makes us always able to forgive!
Tình yêu của Đức Kitô tràn ngập con tim chúng ta và khiến chúng ta luôn biết tha thứ.

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


HIỆP THÔNG THÁNG 7/2015

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 51
  • Khách viếng thăm: 46
  • Máy chủ tìm kiếm: 5
  • Hôm nay: 6688
  • Tháng hiện tại: 82565
  • Tổng lượt truy cập: 9438189