Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng. ĐHY PX Nguyễn Văn Thuận [11]

Thứ năm - 01/01/2026 11:15
Này, người lữ khách hôm nay thân mến! Nơi đây không cống hiến cho con những lời khuyên lơn răn bảo, cũng không thay con suy ngắm. Nhưng đây chỉ là những kinh nghiệm sống của các bậc Thánh và các người Thánh, "Những người lữ hành trên đường hy vọng". Họ có thật và họ sống thật!
 

32- Việc Tầm Thường

1. Tầm thường nhưng cao đẹp

* Muốn nên thánh, con hãy làm những việc thường, có khi xem ra vô ý nghĩa nhất. Nhưng con đặt vào đó tất cả niềm mến yêu của con (ÐHV 814).

* Nhìn cây cổ thụ sum sê, con đừng quên rằng, từng trăm năm trước nó đã khởi sự từ một hạt giống tí ti (ÐHV 816).

* Tự nhiên có ai lên đỉnh núi Hy Mã Lạp Sơn được? Tự nhiên có ai lên cung trăng được? Thử thách, hiểm nguy, ôn luyện, chuyên cần mỗi ngày, nhiều ngày mới đạt được đích họ hy vọng (ÐHV 817).

Thánh nữ Margarita Maria (1647-1690) mồ côi cha tử thuở còn bé. Mẹ chị yếu đuối phải cậy nhờ người anh chồng đến giúp đỡ, trông coi cơ nghiệp. Ông anh vui vẻ nhận lời và cùng với vợ con dọn dẹp đến ở cùng gia đình em. Ông ta có biệt tài quản lý trông nom nhưng lại rất keo kiệt, thu tóm hết mọi quyền hành trong gia đình. Mẹ con chị Margarita có thiếu thốn sự gì cũng phải ngửa tay xin hai bác, lắm lúc hai bác lại từ chối một cách tàn nhẫn. Cả bánh ăn cũng giới hạn khiến mẹ con nhiều lần phải xách bị sang hàng xóm mà vay. Không những thế, hai bác còn hành hạ chửi rủa cháu bé một cách thậm tệ đắng cay. Nhiều khi bác đánh quá đau, Margarita phải trốn ở một góc chuồng bò hay xó vườn, mãi đến tối mới dám mò vô lại. Nhiều lần khác bị mắng nhiếc chua cay thậm tệ, cô bé chẳng biết làm sao hơn, bèn lủi thủi ra vườn ngồi khóc sướt mướt, mất cả ăn cả ngủ...

Tuy chịu đau đớn gian khổ từ bé như vậy, nhưng không bao giờ Margarita chịu hở môi kêu trách một lời. Sau này vì vâng lời cha linh hướng, chị mới đơn thành thuật lại mọi chuyện ấy. Ðức Giám mục Laugnet nói: "Chị Margarita rất hiền hậu, khiêm tốn. Chị tự đặt mình làm đầy tớ phục vụ mọi người trong bất cứ công việc nào. Không bao giờ người ta thấy chị tỏ dấu khinh bỉ hay làm mất lòng ai!"

Chính vì những hy sinh rất tầm thường nhưng cao đẹp trước mặt Chúa, mà chị Margarita đã được Chúa chọn để rao giảng sứ điệp tình yêu của Thánh Tâm Chúa.

2. Làm bất cứ bổn phận nào cũng có thể nên thánh

* Việc nhỏ, lòng nhỏ; việc lớn, lòng lớn; việc lớn, lòng nhỏ; việc nhỏ, lòng lớn. Con hãy thực hành cách sau hết: Trung tín trong việc lớn, dễ; trung tín trong việc nhỏ, khó. Chúa khen kẻ thực hành cách sau này (ÐHV 807).

* Không có công việc nào hèn hạ, chỉ có tâm hồn hèn hạ (ÐHV 811).

Thánh Bonaventura (1221-1274) trước khi làm Hồng Y coi sóc giáo phận, đã làm Bề trên Cả điều khiển Dòng Phanxicô. Ngài có tiếng là rất thông minh xuất chúng, viết nên nhiều tác phẩm lừng danh, trong đó có cuốn "Commentaire sur les quatres livres des sentences" và nhiều tác phẩm thần học rất có giá trị.

Một hôm, thầy nấu bếp xin gặp ngài với nét mặt thật thê lương ảm đạm, thầy trình bày:

- Thưa cha, mấy lâu nay con buồn quá nhưng vẫn cứ ấp ủ mãi trong lòng. Ðến hôm nay, con mới bạo dạn xin phép gặp cha để nhờ cha giải quyết nỗi lo âu cho con.

- Cha sẵn sàng giúp con, con cứ tự nhiên trình bày mọi chuyện.

- Thưa cha, con trộm nghĩ: thông thái thời danh như cha thì thật là hạnh phúc. Vì nhờ đó cha có thể yêu mến Chúa, phụng sự Chúa, và sau lên thiên đàng dễ dàng hơn, ngồi gần Chúa hơn!... Nghĩ lại phận con là một tên đầu bếp rất hèn, con cảm thấy quá buồn tủi! Không biết rồi đây có được lên thiên đàng không, thấy được sự vinh hiển Chúa không, có gần gũi Chúa như cha được không!

- Ồ, con đừng nghĩ thế! Chúa chẳng bao giờ đòi hỏi sự thông thái thời danh cả. Chúa chỉ sợ con không mến Chúa trong các công việc bổn phận tầm thường hằng ngày của con thôi!

- Vậy dốt như con cũng có thể yêu mến Chúa như cha Bề trên Cả sao?

- Ðúng thế! - Mấy bà ngoài chợ cũng thế à?

- Dĩ nhiên rồi! Miễn là mấy bà dâng cho Chúa mọi công việc!

Nghe đến đây thầy đầu bếp chẳng còn đè nén được niềm phấn khởi. Không kịp chào Bề trên Cả, thầy vội chạy ra khỏi phòng, leo lên thành, nhảy xuống đường, chạy đến phố chợ và la lên: "Anh chị em ơi! Các bà bán hàng ngoài chợ ơi! Tôi báo cho anh chị em một tin rất vui mừng, anh chị em có thể nên thánh bằng cha Bề trên Cả của chúng tôi được".

Thầy vừa chạy vừa la lớn tiếng như điên, quanh cả phố chợ. Người ta thật khó mà nhận ra thầy vì thầy chạy quá nhanh, nhưng giọng nói của thầy thì ai cũng nghe: "Cứ làm bổn phận tầm thường vì mến Chúa thì sẽ nên thánh cả. Chính cha Bonaventura mới cho tôi biết! Mừng quá! Vui quá!"

3. Tấm gương của ông Frank Duff

* Tìm việc lớn, khinh việc nhỏ, con lạc đường hy vọng, vì Chúa hứa: "vào hưởng sự vui mừng của Chúa cho những ai trung thành trong việc nhỏ" (ÐHV 815).

* Một bản nhạc du dương, một bức họa thần tình, một tấm khảm quí đẹp được kết tinh bằng những mũi chỉ, những nét mực, những nốt nhạc đơn sơ, nhưng phải có danh sư nhẫn nại mới sáng tạo ra tác phẩm (ÐHV 823).

* Một việc rất tầm thường mà tạo bầu khí "dễ thở", bầu khí yêu thương, không tốn của, không mất công, không ai thấy. Nhưng nguyệt cầu tốt đẹp mà không ai sống vì không có "bầu khí thở được" (ÐHV 826).

Sinh trưởng ở nước Cộng Hoà Ái Nhĩ Lan, Ông Frank Duff đã sống một cuộc đời rất mực đạo đức thánh thiện, hòan toàn dấn thân làm việc tông đồ giữa lòng trần thế với phương tiện của trần thế; đặc biệt ông rất có lòng sùng kính Ðức Mẹ Maria. Ông đã suy ngắm tác phẩm của thánh Montfort và nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Linh, ông đã thành lập Hội Ðạo Binh Ðức Mẹ (Legiô Mariae) vào năm 1921, ngay tại quê hương Ái nhĩ Lan của ông.

Như mọi người đều biết, Ðạo Binh Ðức Mẹ đã phát triển khắp nơi một cách nhanh chóng, làm ích cho muôn vàn linh hồn, khiến ông Frank Duff được Ðức Thánh Cha tỏ lòng quý mến ưu đãi, hàng giáo phẩm khắp nơi nể nang kính trọng; người ta đã mời ông đi diễn thuyết nhiều nơi trên thế giới. Thế nhưng, cuộc đời của ông bao giờ cũng được khoác lên một vẻ bình dị khiêm tốn. Ban đầu khi Ðạo Binh Ðức Mẹ mới thành lập, ông phải điều hành mọi công việc, nhưng về sau, tuy vẫn còn sức khỏe, chỉ có đôi tai hơi suy yếu, ông đã tự ý rút lui và nhường quyền điều khiển cho kẻ khác.

Mặc dù được nhiều người trên thế giới đến Dublin, thủ đô Ái Nhĩ Lan, viếng thăm, hỏi ý kiến, ông vẫn sống một cuộc đời nghèo khó, tận tụy với công việc bổn phận khiêm hèn nhất.

Nghe nói đến công việc bổn phận khiêm hèn nhất, chắc ai cũng buột miệng hỏi: "Việc gì vậy?"

Thưa đó là việc phát thư, tiếng xưa gọi là lon-ton hay tùy phái. Ai đến tận nơi chứng kiến tận mắt cảnh này cũng đều cảm kích xúc động và trào dâng muôn vàn kính mến. Nguyên trong thành phố Dublin đã có trên 500 tiểu đội Ðạo Binh Ðức Mẹ. Cứ mỗi sáng, vừa đi lễ về, ông Frank Duff đã ngồi ngay ngắn trên chiếc xe đạp cũ rích, và thế rồi, dù trời nắng hoặc sương mù hay mưa gió tuyết sa, chiếc xe đạp vẫn đều lăn bánh tiến về phía bưu điện. Tới nơi, ông Frank Duff nhảy vội đến hộp thơ lấy hết mọi thư tín mang về cho trung tâm. Tại trung tâm, ông lại còn phân phối và bỏ vào các hộc theo địa chỉ của mỗi văn phòng, mỗi cá nhân phụ trách. Nếu có thư về địa chỉ của một trong 500 tiểu đội ở thành phố, ông lại mau mắn đạp xe mang đi ngay.

Vào trung tâm Ðạo Binh Ðức Mẹ, cứ các buổi họp của Ban điều hành hay các buổi sinh hoạt của nhiều tiểu đội ở các phòng bên cạnh; nếu không có người giới thiệu chắc chắn quý khách sẽ xem ông già kia là một anh phát thơ làm mướn cho trung tâm, một tên vô danh tiểu tốt cứ mải mê thinh lặng soạn từng đống thư từ, xếp ngay ngắn vào hộc... Chỉ khi nào anh em cần ý kiến ông để trả lời, giải quyết một vấn đề hóc búa hoặc tế nhị nào từ phương trời xa xôi gởi đến, bấy giờ ông mới vui vẻ đóng góp ý kiến hoặc trả lời thay...

Có phải ông Frank Duff thích làm như thế vì bản tính tự nhiên không? Ông làm như chỉ vì kính mến Chúa và Ðức Mẹ. Chính những hàng sau đây do từ ngòi bút ông viết ra cho chúng ta thấy chí khí phi thường của ông trong những việc tầm thường hèn mọn ấy:

"Lạy Chúa con không dám ước vọng làm những hành vi anh hùng cao cả, những hy sinh lớn lao như vị thừa sai, những việc đánh tội rùng rợn như một tu sĩ hoặc những công việc to lớn như các tâm hồn quảng đại đã làm. Không, con không ao ước làm những công việc ấy. Con chỉ muốn quyết tâm sống một cuộc đời bình thường, thêu dệt bằng những tháng ngày đơn điệu nối tiếp nhau với một tâm hồn quả cảm, không hề biết mỏi mệt.

"Thật ra bản tính tự nhiên con không tán thành cái ý định sống một cuộc đời âm thầm, bình dị, buồn chán, gồm toàn những công việc nhỏ nhặt không đáng kể. Và chính con người con cũng luôn luôn bị thúc bách phải thoát ly để đi tìm kiếm những điều thích thú hay mới lạ hơn...

"Hình như người ta cho rằng, việc có một tâm hồn quả cảm, một ý chí anh hùng trong những công việc nhỏ mọn là một điều rất đỗi khó khăn. Nhưng riêng con, con biết rằng đó là con đường mà Chúa đã vạch ra cho con theo, con đường chứa vô số ơn trợ lực của Ngài, và vì thế mà con vô cùng yêu quý nó.

"Xin Chúa ban cho con một đời sống đầy trung thành và quảng đại".

4. Tâm hồn thánh thiện trong những việc tầm thường

* Theo mắt thế gian, công việc của Ðức Mẹ rất tầm thường: việc ở máng cỏ, việc giúp bà Isave, việc ở Nazareth, việc đi chầu lễ ở Jerusalem, việc chôn cất thánh Giuse, việc bị sỉ nhục đau đớn ở Calvariô. Theo mắt siêu nhiên, đời Ðức Mẹ phi thường, vì tất cả những việc ấy Mẹ đều làm vì mến Chúa Giêsu (ÐHV 808).

* Ẵm đứa bé là chuyện thường, nhưng được mẹ ẵm, đối với em bé là hạnh phúc lớn nhất mà em không chịu đổi với bất cứ giá nào ở trần gian (ÐHV 809).

* Muốn được phong thánh, phải chứng minh có "nhân đức anh hùng". Bền chí làm những việc tầm thường suốt cả cuộc đời vì mến Chúa, hẳn là anh hùng; thánh Têrêsa Hài Ðồng đã làm như thế (ÐHV 813).

* Thiên hạ mua vé lên đỉnh nhà chọc trời Manhattan, khen ngợi kiến trúc tân kỳ, nhưng mấy ai nhớ đến từng thanh sắt, từng viên sạn, từng hạt cát nhỏ nhít làm nền móng vững chắc, gánh vác nổi ngôi nhà ấy (ÐHV 819).

Chị thánh Têrêxa Hài Ðồng đã sống một cuộc đời rất đơn sơ bình dị đến nỗi khi chị ốm nặng, một chị trong dòng đã nói: "Chừng nào chị Têrêxa chết, biết lấy gì để viết về chị trong Nhật ký của nhà dòng đây?" Thế nhưng trong âm thầm khiêm hạ và qua những công việc tầm thường không ai hay, chị thánh Têrêxa đã đặt vào đó một lòng mến Chúa vô cùng cao cả. Chị viết:

"Trong một thời gian khá lâu, vào giờ gẫm buổi chiều, chị ngồi sau lưng con hay có cử chỉ kỳ kỳ; đó là khi vừa quỳ vào chỗ, chị bắt đầu làm ra nhiều tiếng động lạ, giống như tiếng vỏ ốc cọ vào nhau; và chỉ có một mình con nghe thôi, vì tai con thính lắm (đôi khi lại quá thính). Thưa mẹ, con không sao diễn tả cho mẹ hiểu những tiếng sột soạt ấy làm cho con khó chịu đến mực nào; con muốn quay xuống nhìn một cái cho chị hiểu, vì chắc là chị không cố ý làm, và đó là phương thế duy nhất giúp chị thấy. Nhưng con nghĩ bụng: thà để như vậy thì hơn, trước là vì lòng mến Chúa, sau là khỏi làm phiền lòng chị em. Bởi đó, con ngồi yên và cố gắng kết hợp với Chúa cho quên những tiếng động ấy... Nhưng vô ích, chúng như châm chích vào màng nhĩ, càng nghe càng khó chịu, không thể cầm trí mà nguyện gẫm được. Vì thế, con bèn tìm cách mà chịu đựng với tâm hồn thư thái, nghĩa là cố gắng cho mình yêu thích tiếng sột soạt khó nghe đó. Thay vì cố quên đi thì con lại tập trung tất cả trí khôn để nghe cho rõ như thể lắng nghe một khúc nhạc tuyệt diệu. Và như thế là việc nguyện gẫm của con (không phải là giờ nguyện gẫm an tĩnh đâu) đã biến thành việc dâng lên Chúa Giêsu khúc nhạc đó.

"Mẹ yêu mến, con là một tâm hồn thơ bé chỉ biết dâng lên cho Chúa những lễ vật nhỏ mọn như thế thôi, và những việc nhỏ mọn này làm cho tâm hồn con luôn thư thái an tịnh..."

Và chính lời Chúa giúp cho chị hiểu chị có thể nên thánh, có thể yêu mến Chúa bằng nhiều việc tầm thường nhất. Chị có viết như sau:

"Thưa mẹ, như mẹ biết, con vẫn hằng ước ao được nên thánh. Song than ôi, mỗi lần sánh mình với các thánh, con đều nhận thấy giữa các thánh với con có một khoảng cách như giữa một ngọn núi chót vót cao và một hạt cát ti tiện dưới chân khách bộ hành. Con muốn tìm ra một phương pháp lên trời bằng một tiểu lộ vừa thẳng lại vừa không quá dài, một tiểu lộ hòan toàn mới. Chúng ta đang ở trong thế kỷ phát minh, bây giờ không phải leo từng bậc thang nữa; những nhà giàu đã thay thang cổ điển bằng thang máy hiện đại thật là tiện lợi. Phần con, con cũng muốn một cái thang máy để nâng con lên với Chúa Giêsu vì con nhỏ bé quá sức, chả sao lên được cái thang trọn lành dốc dác. Thế là con đi tìm trong Kinh Thánh những chỉ dẫn cho biết thứ thang máy con ao ước và con đã đọc thấy những lời sau đây phát xuất từ miệng Ðấng Khôn ngoan muôn đời: "Kẻ nào thật bé nhỏ thì hãy đến với Ta" (Châm ngôn 9,4).
* * *

Tối áp lễ Ðức Bà Núi Carmêlô, một chị nhà tập nói với chị Têrêxa rằng: "Nếu sáng mai chị rước lễ xong rồi lập tức lìa trần, có lẽ sự ra đi tốt lành ấy an ủi em khỏi hết phiền muộn". Chị thánh Têrêxa đáp lại: "Rước lễ rồi lìa trần! Lìa trần trong ngày lễ trọng! Không, em không muốn thế đâu: những linh hồn thơ ấu không thể học đòi như vậy được. Trong tiểu lộ em đang đi, chỉ có những cái tầm thường, giản dị thôi. Việc gì mà em đã làm, phải là việc các linh hồn thơ ấu cũng làm được hết!"

Trong hội đồng quyết định việc phong thánh cho chị Têrêxa, có một giáo chức thuộc giáo triều đã nói: "Ðời chị Têrêxa không có gì lạ cả, chỉ toàn là những việc tầm thường thôi". Ðức Piô XI trả lời ngay: "Tôi chấp nhận việc phong thánh cho chị, vì chị đã làm những việc tầm thường".

5- Hai thầy trợ sĩ

* Thử lấy kính hiển vi mà xem: một giọt nước óng ánh hơn kim cương, một con vi trùng ghê tởm rùng mình; đừng khinh những cái nhỏ (ÐHV 820).

* Ngày sống của con là một "chuỗi lời nguyện tin yêu cụ thể hóa trong công tác tầm thường" (ÐHV 822)

Mặc dù trong cuộc đời thánh Giêrađô Magella và Martinô Porres có xuất hiện nhiều phép lạ lớn lao, cũng chẳng qua là vì Thiên Chúa muốn dùng sự thánh thiện của cả hai như khí cụ để thực tình và cứu giúp các linh hồn; nhưng chính bản thân các thầy thì chỉ chuyên tìm kiếm những việc tầm thường, luôn hạ mình sống ở địa vị khiêm tốn rốt hèn trong tu viện, làm trợ sĩ, phụ tá cho các anh em linh mục, chứ không thi hành những việc cao cả hoặc có ảnh hưởng bên ngoài lừng lẫy như dâng lễ, giải tội, thuyết giáo.

Martinô Porres, sau khi suy nghĩ kỹ càng và cầu nguyện sốt sắng, đã đến gõ cửa tu viện Santo Rosariô. Vì lòng khiêm nhu, cậu chỉ xin được xem như một lao công trong nhà dòng.

Dằng dẳng chín năm trường, cha tu viện trưởng Juan de Torenzana thấy lòng đạo đức của Martinô quá phi thường và sáng chói, nên đã cho thầy chính thức mặc áo dòng làm trợ sĩ. Martinô tiếp tục vui vẻ làm các việc hèn hạ nhất trong tu viện. Ngoài ra, vì trước khi vào dòng thầy có học nghề y tá, nên thầy còn được phép săn sóc bệnh nhân. Vì quá yêu thương những người xấu số không chốn ngụ cư nên thầy đã xin phép mang họ về nhà dòng để tận tình săn sóc cứu chữa. Có những lần phòng thầy hết cả chỗ, thày phải đem họ sang gởi gắm ở nhà bà chị kế bên.
* * *

* Con bảo đợi lúc nào có thời cơ, con sẽ làm việc vĩ đại; không biết đời con thời cơ sẽ đến mấy lần! Nhưng hãy cướp thời cơ mỗi ngày để thực hiện cách phi thường những việc tầm thường (ÐHV 818).

* Xin nước bà Samaritana, mượn lừa cỡi vào thành Jerusalem, mượn thuyền ngồi giảng, mượn phòng lập phép Thánh Thể, nhìn đồng tiền bà góa bỏ vào hòm cúng; chủ nhân đâu ngờ việc không đâu mà mình được hân hạnh đến thế! (ÐHV 825).

Thầy Giêrađô Magella, lúc còn tuổi thanh niên, đã sớm ôm ấp mong ước ao trở thành một tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế, nhưng mẹ thầy không chấp thuận, bởi lẽ thầy là con trai cả độc nhất của bà; hơn nữa, các cha trong nhà dòng cũng chê thầy, chẳng muốn nhận thầy vào Tu viện làm chi. Một đêm kia sau nhiều năm tháng cầu nguyện và thao thức, Giêrađô đã đi đến một hành động quyết liệt: cậu lấy cái khăn phủ giường trong nhà chắp nối lại với nhau, buộc một đầu vào song cửa sổ, đầu kia thắt ngang hong rồi tung mình nhảy xuống đất trốn ra khỏi nhà, để lại trên bàn một mảnh giấy với dòng chữ: "Con từ giã mẹ và các em để đi làm thánh, xin đừng mất công tìm kiếm con".

Biết sáng hôm ấy các cha dòng đi giảng ở Rionoro, nên Giêrađô lặn lội suốt đêm, nhắm hướng ấy mà tiến. Trời vừa sáng, nhác trông thấy các cha dòng ở đàng xa, cậu vừa vẫy tay vừa lớn tiếng gọi các cha. Các ngài dừng lại. Cậu chạy đến thở hổn hển, nước mắt ràn rụa van nài: "Xin các cha nhận con vào dòng. Con quá khát khao trở thành người toàn hiến cuộc đời cho Chúa". Các cha cương quyết từ chối: "Con không thể làm trợ sĩ trong dòng được đâu, về nhà đi". Lòng Giêrađô vô cùng đớn đau nhưng vẫn không nản chí; cậu tiếp tục nói: "Ít là xin các cha cho con thử một thời gian, nếu không được thì đuổi con về". Các cha lẳng lặng tiếp tục con đường, Giêrađô kiên nhẫn lẻo đẻo theo sau. Ðến xứ Rionore, cậu dốc hết khả năng, ngôn ngữ, nài xin tha thiết một lần nữa: "Xin các cha cho con thử một thời gian ngăn ở nhà dòng cũng được". Các vị vẫn lắc đầu. Giêrađô một mực không chịu trở về nhà, cậu ở lại giúp thầy trợ sĩ của các cha. Một hôm, không thể cầm mình được nữa, cậu can đảm quỳ xuống trước mặt cha Cafaro, vừa khóc vừa nức nở kêu xin: "Nếu cha không nhận con thì hằng ngày con sẽ nhập đoàn cùng các kẻ khó đến xin ăn ở cửa tu viện!" Thấy lòng khiêm nhường nhẫn nại của Giêrađô, cha Cafaro xúc động và thầm nghĩ: "Chắc cậu ta có ơn Chúa nhiều mới bền đỗ được như thế". Vì vậy sau đó, ngài đã gọi cậu đến cùng cha Lorenzô d'Antonio, tu viện trưởng ở Illicêtô với mấy dòng chữ giới thiệu sau đây: "Con xin gởi đến cha một thanh niên mới chỉ xin vào dòng. Chắc cậu ta chẳng làm được việc gì, vì sức kém lắm; nhưng con xét đáng nhận, vì cậu ta nài xin con rất tha thiết, vả lại cậu ta cũng có tiếng là đạo đức thánh thiện ở xứ Murô". Ðược sự chấp thuận của cha Lorenzô, Giêrađô vô cùng sung sướng, cậu liên lỉ cảm tạ Chúa và hăng hái trong môi trường của mình.

Quả thực, đúng như lời giới thiệu của cha Cafaro, thầy Giêrađô không làm được việc gì ích lợi cho nhà dòng. Thầy chỉ chuyên việc giữ cửa, quét dọn nhà cơm và khâu may áo xống cho anh em. Thế nhưng lời cha Cafaro lại càng đúng hơn, Giêrađô rất mực đạo đức thánh thiện. Bởi thế, các cha đi giảng đại phúc ở đâu cũng đòi thầy đi cho bằng được. Thầy nấu cơm, giặt giũ quần áo giúp các cha, nhất là cầu nguyện ở nhà thờ và khuyên bảo các tội nhân. Có những kẻ quá cứng lòng, các cha không làm gì được, bèn phải trao cho thầy Giêrađô khuyên lơn an ủi, và lần nào thầy cũng đạt được thành quả tốt đẹp, đến nỗi có một cha phải thốt lên: "Sự hiện diện của thầy Giêrađô trong tuần đại phúc cần thiết cho chúng tôi hơn là có một trăm vị linh mục!"

6. Giám mục bán sữa và Giám mục sửa xe

* Việc nhỏ, nhưng do sức mồ hôi nước mắt mà quí, việc thường nhưng tình yêu tha thiết mà trọng. Người con thảo mặc chiếc áo len cũ rích nhưng không chịu đổi với bất cứ áo đắt tiền nào khác, vì mỗi mũi len đối với anh ta là một cử chỉ yêu thương của mẹ (ÐHV 821).

* Dù con có tử đạo, "nộp mình chịu thiêu," dù con có làm tông đồ: giảng dạy bằng "các thứ tiếng nhân loại và thiên thần", dù con có hoạt động từ thiện "đem cả tư gia vốn liếng mà phát chẩn", mà con "lại không có lòng mến thì cũng hư không vô ích" cho con. Việc con làm không quan hệ. "Cách" con làm mới quan hệ (ÐHV 831).

Cha Trochta, người Tiệp khắc, đã bị bắt giam dưới thời Ðức quốc xã và bị đem đi xử bắn ban đêm với một số đông đảo tù nhân khác. Một loạt súng máy nổ dòn. Tất cả đều ngã gục xuống đất. Sau đó, các tử thi được vứt lên xe. Chuyến xe nặng nề chuyển bánh trong đêm hướng về lò thiêu xác.

Nằm giữa các xác chết, linh mục Trochta dần dần tỉnh lại, một ống chân của ngài đã bị gãy, máu me bê bết khắp cả và mình. Ngài cố hết sức để chui ra khỏi đống tử thi đang phủ trên người; và khi đến một khúc quanh, xe chạy chậm lại, ngài vội vàng tụt xuống đất, nép mình dưới một bờ ao. Sáng sớm hôm sau, đồng bào gặp được cha, họ tìm hết cách để thu giấu ngài và ra sức chạy chữa thuốc men cho ống chân bị gãy...

Sau đại chiến, Ðức quốc xã bại trận, ngài được chọn làm Giám mục, nhưng lại phải bị cầm tù vì tội phản động một thời gian sau. Mãi nhiều năm trôi qua, ngài mới được trả tự do, trở về giáo phận cũ. Kỳ họp Thượng Hội đồng Giám mục nào cũng đều có mặt ngài tại Rôma cả. Dân chúng rất kính yêu quý chuộng ngài, vì ngài thật thánh thiện và bình dân. Họ tặng cho ngài một biệt hiệu rất dễ thương: "Giám mục bán sữa". Thực vậy, ngài có một chiếc xe nhỏ, sáng nào cũng lái đến hãng sữa, lãnh sữa chở đi phân phối cho các tư gia đã đặt mua hàng năm, rồi nhặt các chai không mang về nạp cho hãng sữa. Xong công việc, ngài lại lái xe về Tòa Giám mục chăm lo việc mục vụ, giảng huấn...

Năm 1974, Ðức Phaolô VI tuyên bố Ðức Cha Trochta là một trong hai vị Hồng Y mấy lâu nay chưa được công bố. Nhà Nước Tiệp Khắc đã quan tâm giúp đỡ cho ngài sang Roma để lãnh mũ đỏ trong một nghi thức long trọng được tổ chức riêng cho một mình ngài.
* * *

* Với tâm hồn cao cả, việc tầm thường hóa ra cao cả: Ai cho một bát nước lã vì danh Chúa sẽ được thưởng trên thiên đàng (ÐHV 812).

* Trên đường "dâng hiến", không có việc gì là tầm thường cả, một cử chỉ nhỏ nhặt nhất vì kẻ khác là một bước đến tình yêu, do tình yêu, là một sự phát triển con người (ÐHV 827).

Ðức Cha Alfred Ancel (1898- ), Giám mục phụ tá tổng giáo phận Lyon, là Bề trên Tổng quyền của Tu Hội linh mục Prado, kế vị cha Chevrier, đồng thời cũng là một diễn giả rất nổi tiếng, đã được mời đi khắp đó đây để giúp các tuần tĩnh tâm, các buổi hội thảo cho hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân mọi hạng.

Ðể hòa mình với giới lao động theo gương Chúa Giêsu ở Nazareth, ngài làm việc mục vụ nửa ngày, còn nửa ngày mang búa, kềm, mỏ lét, cờ-lê... ra xưởng sửa xe, nêu cao giá trị của những công việc tầm thường nhưng rất đẹp lòng Chúa. Năm 1963, ngài cho xuất bản một cuốn sách nói về kinh nghiệm "Giám mục thợ" ấy, mang tên: "Năm năm trời với các bạn thợ".

7. Những cử chỉ đơn sơ phản ảnh một tâm hồn cao cả

* Ngày sống của con là một "chuỗi lời nguyện tin yêu cụ thể hóa trong công tác tầm thường" (ÐHV 822).

Ðức Hồng Y Agagianian, quê ở Arménie (Liên Sô), từ thuở còn bé đã có trí thông minh lạ thường. Mới 13 tuổi đầu mà cậu đã được giáo phận gởi sang du học ở Roma. Vì phải đơn thương độc mã đi tàu thủy đến Napoli, rồi từ Napoli lại phải sang xe lửa lên Roma và tìm đường đến trường nên gia đình cậu, sợ cậu bé thất lạc ở giữa đất khách quê người, bèn làm một tấm bảng, bắt cậu mang trước ngực, trên đó ghi đầy đủ tên tuổi và địa chỉ cần thiết để nhờ hành khách hướng dẫn cho. Mấy năm sau, học hết thần học mà thầy Agagianian vẫn chưa đủ tuổi để lãnh chức linh mục...

Bước đầu lên cấp bậc trong Hội Thánh, Ðức Hồng Y Agagianian suýt đắc cử Giáo Hoàng năm 1958 trong mật tuyển viện bầu Ðức Gioan XXIII.

Vào khoảng năm 1965, ngài bị ung thư ở thận. Vì quý trọng tài đức của ngài nên Ðức Phaolô VI yêu cầu ngài hy sinh tiếp tục điều khiển Thánh Bộ Phúc Âm hoá cho đến tuổi về hưu (75 tuổi). Một bác sĩ cũng gốc Arménie được triệu đến để chẩn bệnh cho ngài. Vị bác sĩ cho biết vì ngài đã quá già chẳng nên giải phẩu làm chi. Tuy rất đau đớn và nhọc mệt, ngài vẫn luôn phấn đấu, bình tĩnh và vui tươi cho đến hơi thở cuối cùng. Mọi người đều biết ngài mắc bệnh ung thư, nhưng chính ngài thì không bao giờ nói đến bệnh tật của mình cả. Ngài vẫn tươi cười niềm nở tiếp đón các Giám mục khắp nơi đến Thánh bộ. Ai hỏi đến sức khỏe của ngài, ngài chỉ mỉm cười trả lời: "Chúng ta đang ở trong lòng bàn tay nhân từ của Thiên Chúa".
* * *

* Dù con có tử đạo, "nộp mình chịu thiêu," dù con có làm tông đồ: giảng dạy bằng "các thứ tiếng nhân loại và thiên thần", dù con có hoạt động từ thiện "đem cả tư gia vốn liếng mà phát chẩn", mà con "lại không có lòng mến thì cũng hư không vô ích" cho con. Việc con làm không quan hệ. "Cách" con làm mới quan hệ (ÐHV 831).

Ðức Ông Don Luigi, trước là người phụ trách các trại huấn luyện tuyên úy hướng đạo Công giáo tại Ý, sau được Ðức Phaolô VI chọn làm Giám mục hầu cận Giáo Hoàng tại Vatican, đã tiết lộ: "Chúng tôi là những người hân hạnh ở sát cạnh Ðức Thánh Cha tại Tòa Thánh cũng như các chuyến công du rất bận rộn và mệt mỏi của ngài. Sau bao năm chung sống, điều đánh động chúng tôi nhất, là Ðức Phaolô VI không kêu mệt kêu đau bao giờ. Chúng tôi biết ngài lớn tuổi, ngài ít ngủ, ngài bị thấp khớp nặng nhưng chí khí sắt đá và ý chí mãnh liệt về sứ mệnh của ngài đã lướt thắng và chấp nhận tất cả, như ngài vẫn thường nói: "Tất cả vì Hội Thánh".
* * *

* Ba mươi năm khôn tả ở Nazareth, chúng ta không biết Chúa, Mẹ Maria làm gì cả; lên thiên đàng chúng ta sẽ hiểu được phần nào (ÐHV 828).

* Chúng ta có thể nghĩ rằng ba mươi năm này đầy mầu nhiệm, mầu nhiệm thông hiệp, mầu nhiệm hiệp nhất. Tình yêu nhân loại không hiểu thấu vì là mầu nhiệm của Tình Yêu Thiên Chúa (ÐHV 829).

* Ba mươi năm chỉ xiết nhìn trông. Mấy hồi thầm lặng nói không ra lời. Giêsu nhìn Giuse, Maria, cha mẹ nhìn Giêsu. Cả nhà nhìn lên Chúa Cha; ba mươi năm hạnh phúc, làm việc tầm thường nhất trong cái nhìn thông hiệp thần linh nhất (ÐHV 830).

Trong hồ sơ điều tra để phong thánh cho một vị tu sĩ, có một chứng tích rất đơn sơ nhưng giàu ý nghĩa. Nhân chứng khai rằng: "Tôi là một nhân chứng ở cạnh phòng thầy. Lối kiến trúc cổ điển trong các tu viện thường xếp hai dãy phòng đối diện nhau, dọc theo một hành lang ở giữa. Sống chung lâu ngày, thành thử tuy đóng cửa, nhưng hễ nghe tiếng giày khua trên nền gạch từ xa tiến lại là chúng tôi đoán được dễ dàng bước đi của ai. Có những người anh em bước đi thật mạnh dội vang khắp cả nhà. Thậm chí còn có kẻ bước những bước thật nặng nề hoặc năng đóng cửa cái "rầm" khiến cho mọi người mất cả nghỉ ngơi, an tĩnh. Còn thầy tuy ở sát phòng tôi suốt mấy mươi năm trời, nhưng dù đêm hay ngày, thầy vẫn bước những bước rất nhẹ nhàng, đóng mở cửa thật dịu dàng cẩn thận đến nỗi anh em cũng như tôi không bao giờ biết được thầy đi, thầy về lúc nào. Tôi nghĩ đây chỉ là một cử chỉ nhỏ mọn, nhưng nói lên tất cả sự tế nhị của tâm hồn đầy bác ái yêu thương".

8. Mỗi tháng đi thăm Giám mục một lần

* Với năm cái bánh và hai con cá của em bé, Chúa đã làm phép lạ nuôi năm ngàn người. Chúa vẫn toàn năng, nhưng Chúa yêu thương thiện chí của con (ÐHV 824).

* Có hai đường để sống giây phút hiện tại: Thực hiện ý con hay thực hiện ý Chúa (ÐHV 832).

Cha Thomas Brophy, thuộc địa phận Melbourne (Úc), đã chia sẻ kinh nghiệm sống như sau:

"Tôi thụ phong linh mục đã 27 năm, từng làm phó xứ, làm chánh xứ. Tôi muốn xây dựng xứ đạo tôi thành một cộng đồng mới, tạo lý tưởng yêu mến Chúa bằng cách giúp giáo dân ý thức luôn có Chúa Giêsu đang sống trong họ. Nhưng chương trình ấy không thành công. Nghe nói có khoá tu nghiệp ở Ý dành cho các linh mục, nên nhân dịp năm ngân khánh của tôi, tôi xin phép sang tham dự. Tôi chung sống huynh đệ với 62 linh mục và tu sĩ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Thời gian đó giúp tôi khám phá được câu trả lời cho những băn khoăn của cuộc đời tôi:

Sống giây phút hiện tại và yêu mến Chúa trong anh em.

Tôi cảm thấy như sờ được chính Thiên Chúa trong anh em và trong vạn vật. Tôi lấy lại niềm tin và sung sướng về lại với giáo phận. Nhưng rồi, ngoài việc xây dựng lại giáo xứ, một hôm tôi đã suy nghĩ: Ðức Giám mục R. Knox của tôi thực là cô đơn, chính ngài là Chúa Giêsu bị bỏ rơi. Mặc dù ngài tiếp nhiều khách, có nhiều nhân viên phụ trách nhiều văn phòng, nhưng hết giờ ai về nhà nấy. Người ta chỉ gặp ngài vì công vụ. Tôi bèn quyết định mỗi tháng sẽ đi thăm ngài một lần. Tôi gọi điện thoại xin phép gặp ngài, ngài hẹn giờ, tôi đến. Nội dung câu chuyện chỉ là trình bày công việc mục vụ trong xứ, hỏi thăm sức khỏe. Sau nửa tiếng đồng hồ, tôi rút lui. Mấy tháng sau tôi cũng làm như vậy. Ðến tháng thứ tư, Ðức Tổng Giám mục R. Knox hỏi tôi: "Trước kia cha không thăm tôi, sao bây giờ tháng nào cha cũng đến? Cha cứ nói thực, cha có vấn đề gì khó khăn không? Có ý kiến gì cần trình bày không?"

- Thưa Ðức Tổng, con không có vấn đề gì cả. Giáo xứ con vẫn vui vẻ và tiến triển tốt; nhưng thú thực, con đã dốc lòng mỗi tháng đi thăm Ðức Tổng một lần, vì con nghĩ Ðức Tổng là Chúa Giêsu bị bỏ rơi, con phải yêu mến, thăm viếng, chia sẻ nỗi lòng của Ðức Tổng...

Nghe tôi nói, ngài rất bỡ ngỡ và cảm động:

- Mấy lâu nay tôi không ngờ và không để ý đến lòng tốt của cha. Cám ơn cha lắm! Quý hoá quá!

Thế rồi ngài nói hết lo âu của ngài, những khó khăn ngài gặp phải, những chương trình ngài dự định... Tôi chỉ việc ngồi nghe. Lúc tôi kiếu về, ngài bắt tay thân mật và dặn:

- Hẹn tháng sau nhé! Nhớ đến thăm tôi!

Và mỗi lần tôi đến, ngài giữ tôi lại nói chuyện suốt mấy tiếng đồng hồ, thao thao bất tuyệt...

Bây giờ tôi hiểu: Tuy ngài có bao nhiêu là Giám mục Phụ tá, Tổng đại diện quản hạt. Nhưng có lẽ tất cả chỉ tiếp xúc với ngài vì công việc thôi. Còn tôi, tuy chỉ là một linh mục tiểu tốt vô danh, chỉ làm một việc rất tầm thường, là mỗi tháng đi thăm Giám mục của tôi một lần, và chăm chỉ nhẫn nại ngồi nghe ngài. Nhưng tôi thiết nghĩ việc nhỏ mọn này cũng có giá trị phần nào và cần thiết, vì Ðức Giám mục của tôi còn có người biết lắng nghe bao tâm sự đang chất chứa trong lòng.
-----o0o-----
 
 
33- Lãnh Ðạo

1. "Ánh sáng thế gian"

* Lãnh đạo là dấu hiệu hữu hình của quyền bính. Người lãnh đạo phải ý thức sứ mệnh chỉ huy của mình, sứ mệnh đại diện cho uy quyền và bổn phận làm cho kẻ khác trọng uy quyền của mình. Làm như thế là phục vụ quần chúng (ÐHV 840).

* Tai họa lớn nhất của con khi lãnh đạo là sợ nói và hành động như một nhà lãnh đạo (ÐHV 841).

* Không có hành động nào mà không phải là "thánh giá", nếu không vác nổi thánh giá thì không được gì cả (ÐHV 849).

Tháng 9 năm 1939, nhà độc tài Phátxít Hitler xua quân xâm lược Tiệp Khắc, rồi tiếp đó thôn tính Ba Lan, thi hành những thủ đoạn cướp bóc, tàn phá, diệt chủng...

Với ý ngay lành và nhằm mục đích cứu vãn Giáo Hội phần nào, một vị Hồng Y Giáo chủ Ðông Âu đã có những lời tuyên bố có vẻ xu thời, xoa dịu, hòa hoãn với chính quyền Phátxít và đã bị Hitler lợi dụng để xuyên tạc che mắt thế giới, cũng như gây bao hoang mang cho giáo dân đang quằn quại giữa lòng cuộc chiến ghê tởm.

Biết được tin ấy, Ðức Piô XI đánh điện tín khẩn trương mời vị Hồng Y Giáo chủ về Roma. Ngài lắng nghe, thông cảm với ý ngay lành của vị Hồng Y, nhưng không nhất trí với thái độ và lập trường của nhà lãnh đạo ấy. Theo ý Ðức Thánh Cha, Hồng Y Giáo chủ phải là người lãnh đạo dân Chúa, phải là "ánh sáng thế gian" như lời Chúa dạy trong Phúc Âm. Ngọn hải đăng không cần tuyên bố rùm beng, nhưng chỉ cần sáng lên giữa phong ba bão táp, kiên vững giữa gầm sóng vỗ, để người ta thấy rõ con đường trước mặt mà hăng hái tiến đi. Một người khác có thể nói lời hòa dịu với Hitler và ai hiểu sao thì hiểu; nhưng người lãnh đạo dân Chúa thì không được phép làm vậy, không thể có thái độ ba phải, dù phải gian nan khổ cực, dù phải hy sinh mạng sống. Chúa Giêsu đã nói: "Ta là Mục tử tốt lành... thí mạng sống mình vì chiên... Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta" (Jn 10). Nhưng nếu tiếng của ta mập mờ, sinh nhiều rối loạn thì ai biết ngã nào theo nữa!

Hồng Y Giáo chủ nghe Ðức Thánh Cha giải thích đã hiểu được trách nhiệm của mình. Ngài cám ơn Ðức Thánh Cha và hứa sẽ vâng lời Ðức Thánh Cha trong hết mọi sự, bất chấp mọi nguy hiểm sa đọa. Ngài đã trở lại quê hương, nói rõ lập trường của Giáo Hội đối với những tội ác xâm lược, tàn sát người vô tội đến độ diệt chủng do nhà độc tài Phátxít Hitler gây nên.

Thế giới lấy làm kính phục tâm hồn quả cảm của vị Hồng Y Giáo chủ ấy. Riêng Hitler, ông ta gầm thét căm thù, gây nên cho ngài nhiều chuyện khó dễ, rắc rối; nhưng ngài vẫn kiên trì đứng vững, thinh lặng và sáng chói như ngọn hải đăng. Giáo dân vững tâm nhìn lên ngài như vị lãnh đạo tinh thần rất xứng đáng của họ.

2. Sẵn sàng đối thoại chân thành

* Chúa Giêsu không loại bỏ các Tông Ðồ vì họ không hiểu Ngài hay cứng đầu đối với Ngài. Con đừng nản lòng, cứ nhẫn nại, tử tế với hạng người ác ý, ác tâm, đê tiện. Ơn Chúa sẽ thu phục họ (ÐHV 876).

* Nhiều gia đình, nhiều cộng đoàn chỉ dùng lưỡi để đối thoại với nhau. Nếu biết dùng lưỡi để đối thoại với nhau. Nếu biết dùng quả tim đối thoại đứng đắn, tâm hồn họ sẽ xích lại gần nhau (ÐHV 877).

* Tìm đâu ra bí quyết của đối thoại làm tâm hồn được giải thoát, cởi mở, trí khôn sáng suốt? - Hãy tìm trong Phúc Âm (ÐHV 879).

* Chúa Giêsu không từ khước một ai đối thoại với Ngài. Ngài đối thoại với bạn hữu, với người lạ, với dân ngoại, với người tội lỗi, với người chống đối (ÐHV 880).

Một trong những thành tựu lớn lao đời Giáo Hoàng của Ðức Phaolô VI là việc bình thường hóa quan hệ với các nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Ðông Âu và sinh hoạt của Hội Thánh tại các nước ấy.

Ngài đã thành lập "Văn phòng liên lạc với các nước vô thần" để tiếp tục công trình riêng của ngài và nhất là công trình của Công đồng Vatican II. Chính ngài đã niềm nở, can đảm và chân thành đối thoại với các vị lãnh tụ của các nước Chủ Nghĩa Xã Hội. Người ta còn nhớ vào tháng 6 năm 1977, ông Janes Kadar, Bí Thư thứ nhất của ban chấp hành Trung ương Ðảng Công Nhân Xã Hội Chủ Nghĩa Hungari; đã chính thức viếng thăm Tòa Thánh Vatican cùng hội kiến thân mật với Ðức Phaolô VI. Liền sau cuộc tiếp kiến, khi được các phóng viên báo chí phỏng vấn, ông Kadar đã nói lên với họ một câu vắn tắt nhưng đầy ý nghĩa: "Tôi không phải là Kitô hữu nhưng tôi thuộc Kinh Thánh rất nhiều. Tôi nhớ có chuyện bà Lót, trên đường chạy thoát, đã ngoái nhìn phía sau và liền bị biến thành một bức tượng. Ta cùng đừng nhìn lại phía sau như vậy".

Ðức Phaolô VI muốn hướng về tương lai, muốn lãnh đạo Hội Thánh trên con đường mới nên, cũng như ông Janes Kadar, ngài chỉ muốn nhìn tới trước để tiến lên mãi.

3. Lãnh đạo là phục vụ công lý tạo tác hòa bình

* Lãnh đạo là phục vụ: phụng sự Thiên Chúa, phục vụ người mình điều khiển, phục vụ công ích. Lãnh đạo là nô bộc tình nguyện (ÐHV 835).

Năm 1965, giữa lúc Johnson cho chiến tranh leo thang tại Việt Nam, thì Ðức Phaolô VI được Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, qua vị Chủ tịch Amintore Fanfani và vị Tổng Thư ký U-Thant, mời sang Nữu-Ước (4.10.1965). Trước sự hiện diện của Tổng Thống Johnson, Ðức Phaolô VI không ngần ngại nói thẳng đến vấn đề hòa bình, nhắc lại lời của một vị Tổng Thống mà ông Johnson đang kế nghiệp:

"Từ nay đừng còn cảnh người này chống lại người kia, vâng, đừng bao giờ nữa! Chẳng phải vì chính mục đích này mà Liên Hiệp Quốc được thành lập sao? Xin hãy lắng nghe lời lẽ sáng suốt của một vĩ nhân quá cố, ông John Kennedy, đã nói cách đây bốn năm: Nhân loại phải chấm dứt chiến tranh, bằng không, chiến tranh sẽ chấm dứt nhân loại... Xin quý vị nhớ cho rằng máu của hằng triệu con người, những nỗi thương đau chưa từng thấy, những cuộc tàn sát dã man và những tàn phá kinh khủng đang phê chuẩn cái hiệp ước đã liên kết quý vị lại, trong một lời thề khiến lịch sử thế giới mai hậu phải đổi thay: Ðừng chiến tranh, đừng bao giờ còn chiến tranh nữa. Mà chính là hòa bình. Hòa bình phải hướng dẫn số phận các dân tộc và toàn thể nhân loại."

Ngài luôn có những hoạt động nhằm chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Với các Giám mục Việt Nam đến Roma, ngài thường nói: "Tôi làm tất cả những gì có thể được để vãn hồi hòa bình ở Việt Nam. Việt Nam có một chỗ đặc biệt trong trái tim và lời cầu nguyện của tôi. Mỗi tối trước khi ngủ, tôi mở cửa sổ, hướng về Việt Nam, cầu nguyện và chúc phúc lành cho Việt Nam!".

Các đoàn hành hương biết "chỗ ngứa" của ngài, nên trong các buổi triều yết chung, mỗi khi ngài nhắc đến "Việt Nam" thì họ vỗ tay vang dội cả đền thờ Thánh Phêrô. Họ biết làm thế ngài rất vui thỏa. Không danh xưng một quốc gia, dân tộc nào được Ðức Phaolô VI nhắc đến bằng hai chữ Việt Nam. Ngài đã có 92 diễn từ về Việt Nam.

Mặc cho thế lực nào phản đối, mặc cho chế độ nào phiền trách. Ðức Phaolô VI vẫn ý thức sáng suốt sứ mệnh rao truyền chân lý, hòa bình, công chính của ngài và đã can đảm thực hiện sứ mệnh ấy. Lịch sử tôn vinh ngài, bao nhiêu quả tim trên thế giới yêu mến ngài. Ngài đã kiên cường lãnh đạo Hội Thánh đi theo con đường Công lý Hòa bình vậy.

4. Ai muốn đi đạo hãy đến với Giám mục Phanxicô Salêsiô

* Chinh phục được con tim của tùy viên, người lãnh đạo dám:
- Ðể tùy viên nhìn gần mà không sợ mất mát,
- Hạ mình họ mà vẫn cao thượng,
- Tự do từ tốn mà kính phục,
- Cương quyết đòi hỏi mà được vâng lời triệt để (ÐHV 866).

* Chúa Giêsu không nhằm biến đổi tức khắc các Tông Ðồ bằng mệnh lệnh, nhưng Chúa để họ tuần tự canh tân. Con hãy tin tưởng và làm cho người ta tin tưởng, sống và làm cho người ta thích sống như con (ÐHV 873).

* Chúa Giêsu không định giờ để ra lệnh, hay mở lớp huấn luyện tinh thần. Ngài dùng cơ hội thực tế trong đời sống để cho các tông đồ những bài học thiết thực: lúc đi ngang vuờn nho, cây vả, đồng lúa, lúc các em bé đến chơi, lúc các Tông Ðồ tranh giành địa vị (ÐHV 874).

Ðức Cha Bossuet (1627-1704), Giám mục giáo phận Meaux (Pháp), là một người sống gần thời thánh Phanxicô Salêsiô (1567-1622). Giám mục giáo phận Annecy (Pháp) và thành Genève (Thụy Sĩ).

Ngài vừa là một văn hào vừa là một nhà hùng biện lỗi lạc nổi tiếng khắp Châu âu. Trong văn chương nước Pháp ngày nay người ta vẫn còn học tác phẩm của ngài (ngài được xem như một trong những văn sĩ cổ điển thượng thặng). Ngài chuyên về các điếu văn, bài giảng, lịch sử và nhất là tranh biện tôn giáo. Chính ngài đã viết một pho sách lớn công kích các giáo hội Tin lành. Nghe danh ngài, ai ai cũng nể phục.

Trong khi đó Ðức Cha Phanxicô Salêsiô, một người cũng thông minh xuất chúng, lại có một lối bênh đạo khác hẳn. Ngài rất nhân từ, bình dân, giản di, niềm nở đón tiếp mọi người, nghe ngóng mọi người, tìm hiểu và giải quyết những thắc mắc của họ sẵn sàng đối thoại ngay cả đối với những anh em lạc giáo có ác tâm muốn bắt bẻ ngài nhưng cuối cùng chính họ là những kẻ bị ngài chinh phục. Ngài không ngại mất thời giờ nhẫn nại nghe họ, như thể chỉ có mình ngài với họ thôi. Có người góp ý: "Ðức Cha tiếp họ làm gì cho mất công, họ có ý đến để bài bác Ðức Cha đó!..." Ngài trả lời: "Mỗi linh hồn đã là một giáo phận đối với một Giám mục". Nhờ tìm hiểu đón tiếp từng cá nhân như vậy mà ngài đã làm cho trên 10.000 người theo lạc giáo trở lại Công giáo (nên nhớ miền Chablais và thành Genève thuộc giáo phận Annecy là trung tâm hoạt động của Tin lành Calvino Thụy Sĩ).

Giám mục Bossuet khiêm tốn nhận thức điều ấy và tuyên bố công khai: "Ai muốn tranh luận về giáo lý thì hãy đến với tôi, tôi sẽ làm cho họ thua lý. Nhưng ai muốn đi đạo thì đi đến Ðức Cha Phanxicô Salêsiô; ngài hiền từ, không tranh luận, nhưng có một khả năng chinh phục lạ thường".

5. Lãnh đạo là răn bảo trong yêu thương

* Biết điều con muốn và cách cương quyết. Nếu không cương quyết định đoạt, con sẽ làm các tùy viên tê liệt. Ðể các tùy viên tự do quyết định, con sẽ gây hỗn loạn (ÐHV 846).

* Lãnh đạo là sống kỷ luật, tìm hiểu lệnh trên, khôn khéo hành động theo mệnh lệnh. Lãnh đạo là tìm kiếm phương thế thực hiện và giàu nghị lực để thắng các trở ngại (ÐHV 847).

Dòng Salésiens (Institut des Prêtres Salésiens, lấy tên Thánh Phanxicô Salêsi) do thánh Gioan Boscô thiết lập năm 1868 (với mục đích mở trường dạy các em mồ côi nghèo khổ) đã phát triển mạnh mẽ, có nhiều chi nhánh tại Tây Ban Nha. Một hôm trong giấc ngủ, cha Giám đốc của một trường thuộc nhà dòng nghe thánh Gioan Boscô nói về mình rõ ràng từng tiếng: "Con lãnh đạo nhà này, nhưng con sơ suất để nhiều học sinh lỗi luật, hãy cải thiện nếp sống trong nhà lập tức". Lúc ấy thánh Boscô đang hoạt động ở nhà mẹ tại Turinô (Ý) nhưng Chúa hay ban cho ngài cùng một lúc có mặt ở hai chỗ.

Cha Giám đốc trường bận rộn nhiều công việc, vì thế tâm trí phải xao lãng, không nhớ lời thánh Boscô. Vài hôm sau ngài lại nghe tiếng thánh nhân bảo như lần trước. Nhưng rồi, ngài cũng quên nốt. Ít ngày sau, thỉnh thoảng ngài có nhớ đến chỉ thị của thánh Boscô, nhưng ngài lại tự nhủ: "Mình đã phấn đấu làm hết phận sự, lại được các tu sĩ khác cùng cộng tác, cùng chia sẻ trách nhiệm cả mà... Hay đây chỉ vì mình bị in trí, ám ảnh? Không nên vội tin những giấc mơ!"

Ðã mấy ngày trôi qua mà ngài chẳng khởi sự cải cách một điều gì cả! Sáng hôm ấy, ngài dâng lễ như thường lệ. Lúc bắt đầu đọc kinh Cáo mình, ngài nghe tiếng thánh Boscô nói rõ ràng: "Hãy mau cải thiện kỷ luật trong nhà, nếu không thì đây là Thánh lễ cuối cùng của đời con". Kinh khiếp quá!

Lễ xong ngài liền bàn hỏi với các linh mục, tu sĩ phụ tá ai cũng lắng lo, suy nghĩ, nhưng thảo luận suốt ngày mà vẫn không tìm được nơi nào hoặc học sinh nào lỗi luật cả. Tối hôm ấy, cha Giám đốc trằn trọc trên giường, thao thức, hồi hộp, không sao nhắm mắt được. Lời thánh Gioan Boscô phán bảo ban sáng vẫn còn vang vẳng bên tai: "...nếu không thì đây là Thánh lễ cuối cùng của đời con!". Ngài vắt tay lên trán, tính nhẩm từng giờ, từng khắc, từng phút đang trôi qua chầm chậm... "mai tôi còn sống để dâng lễ nữa không?"

Bỗng chốc mắt ngài sáng rực lên: thánh Gioan Boscô đứng ngay cạnh giường từ hồi nào:

Hãy chỗi dậy, mặc áo vào và đi theo cha!

Cha Giám đốc nửa mừng nửa sợ vâng lời chỗi dậy, mặc áo vào và lẻo đẻo theo sau thánh Gioan Boscô. Ði đến đâu các cửa đã khoá đều tự động mở ra cả. Thánh nhân đưa tay chỉ từng phòng học, từng nhà ngủ, từng nhà chơi, phòng khách... chỉ đến đâu ngài phê bình đến đó: phòng này được, đáng khen, có lòng đạo đức, học hành tiến bộ; phòng kia kỷ luật lỏng lẻo, học tập lôi thôi... Cuối cùng, thánh nhân đưa cha Giám đốc tới một phòng và chỉ cho ngài thấy:

- Xem kìa, chúng nó thật vô kỷ luật: bỏ việc học hành, biếng lười lao động, xao nhãng kinh nguyện, thậm chí còn có đứa trẻ trở thành sa đọa, xấu xa... Cha Giám đốc trông thấy rõ ràng từng đứa từng lỗi, từng sự việc xảy ra... thánh Boscô tiếp:

- Cha nhắc lại: Phải yêu thương chúng nó, hòa mình với chúng nó, tìm hiểu chúng nó, cùng ăn, cùng giải trí, cùng cầu nguyện, cùng đối thoại với chúng nó. Sự hiện diện đầy yêu thương của chúng ta khiến chúng được đặt vào một tình trạng không thể phạm tội. Phải cương quyết ngăn chận sự dữ với bất cứ giá nào...

Cha Giám đốc lúng túng cám ơn thánh Gioan Boscô đoạn hứa sẽ làm theo lời khuyên bảo của ngài. Thánh nhân đưa cha trở lại tận giường, chúc lành cho cha rồi vụt biến đi.

Vừa tảng sáng, cha Giám đốc triệu tập Hội đồng các tu sĩ trong nhà lại, thuật lại tỉ mỉ câu chuyện thánh Gioan Boscô đến thăm cùng nói lại những điều, những biện pháp thánh nhân đã đề nghi. Cả nhà nhất trí, phân công tác theo dõi các học sinh cách chặt chẽ. Họ đã bắt gặp quả tang mọi việc đúng hệt như thánh Boscô đã cho thấy. Họ thi hành kỷ luật ngay: một số ít bị loại ra khỏi nhà, số còn lại phải chịu kỷ luật nặng nhẹ tùy trường hợp. Từ ngày ấy trở đi, tinh thần trong nhà, từ tu sĩ đến học sinh đã có những bước cải tiến rõ rệt. Ngôi trường từ đó trở thành một gia đình hạnh phúc, gương mẫu.

6. Những lời nhắn nhủ người lãnh đạo

* Hãy khiêm tốn quảng đại nếu Chúa muốn chọn con lãnh đạo trong môi trường của con. Sứ mệnh cao cả, quan trọng. Con cần ý thức hạnh phúc của các Tông Ðồ khi nghe Chúa Giêsu nói: "Thầy sẽ làm cho các con chinh phục người ta" (ÐHV 837).

Cha Joan Habillon (1632-1707) Dòng Biển Ðức, Tu viện Saint Maur, Paris, là một diễn giả danh tiếng, một thầy dạy đàng nhân đức rất ảnh hưởng, đã để lại nhiều tác phẩm giá trị. Qua các tác phẩm đó, người ân cần khuyên nhủ những người lãnh đạo bằng lời lẽ thật thâm trầm, sáng suốt, khiến mọi người đều phải nghiêm chỉnh lắng nghe:

"Ôi, bao nhiêu là bó buộc trong chức vụ lãnh đạo! Con chỉ nhận nhiệm vụ ấy khi đức vâng lời kêu gọi con, và chỉ ở trong chức vụ ấy với tất cả lòng run sợ của con.

Con hãy đem hết nỗ lực và khi cần, phải hy sinh cả mạng sống con để mưu ích cho các tu sĩ, nhưng cũng đừng giảm bớt sự lo lắng cho chính linh hồn con.

Con hãy phân phối các hoạt động con bên ngoài cũng như bên trong tu viện, đồng thời cũng đừng làm mất sự thinh lặng nội tâm.

Con hãy mở lòng rộng rãi đối với anh em, với người nghèo túng, đừng sợ sẽ thiếu thốn gì.

Con hãy có một đức bác ái rộng lớn, đến nỗi bao quát được các sự cần thiết của anh em con, một đức quảng đại đến nỗi lướt thắng mọi khó khăn xảy đến.

Con hãy bền chí đến nỗi không bao giờ chán nản và buông xuôi.

Con hãy siêu thoát đến nỗi không bao giờ tìm lợi cho bản thân mình.

Con hãy hòa hợp với tầm ức mọi người, hãy âu yếm giúp đỡ những người mới tập sự.

Con hãy thương xót những ai yếu đuối với một tâm lòng chiếu cố đầy bác ái, con hãy khuyến khích những người mạnh mẽ bằng những lý do xác đáng, cao thượng.

Con hãy xa lánh khác nào thuốc độc mọi thái độ thống trị độc tài.

Con chỉ ra lệnh sau khi đã sốt sắng cầu nguyện và đem hết lý lẽ để thuyết phục.

Con chỉ quở trách với tất cả tâm lòng yêu thương.

Nếu buộc lòng con phải cương quyết quở trách, thì con cho hành động vì đam mê.

Con hãy dùng hình phạt vì bất đắc dĩ và hối tiếc.

Con chỉ làm cho người ta yêu mến để tránh sự dữ và tội ác.

Con hãy xác tín rằng con chỉ có quyền chuẩn luật dòng khi có lý do chính đáng vì bác ái hay khẩn cấp.

Sau khi con đã đem hết thiện chí chu toàn nhiệm vụ, con hãy xem mình là tôi tớ và nhìn nhận: vì khuyết điểm của con mà bề dưới phạm lỗi và thiếu nhân đức".

7. Bị phản đối, được cảm phục rồi được luyến tiếc

* Lãnh đạo là người: - Biết - Muốn - Thực hiện. Và đồng thời gây cảm hứng cho kẻ khác: - Biết - Muốn - và thực hiện (ÐHV 834).

* Con hãy đặt mình vào địa vị các cộng sự viên, trao đổi quan điểm thân mật với họ, đón tiếp ân cần, tỏ cho họ, thái độ nhân hậu ấy sẽ làm cho họ yêu thương con, tin tưởng con (ÐHV 863).

* Công trạng con không ghi trong huy chương trên ngực, trong các bản tuyên dương, các diễn văn ca ngợi con. Phần thưởng của con được ghi trong cái nhìn, trong quả tim của các cộng sự viên của con (ÐHV 864).

Ðó là trường hợp của Ðức Cha Hsu, Giám mục giáo phận Hồng Kông.

Là một người ngoại đạo, gốc ở Thượng Hải, Francis Hsu đã học tại Ðại học Oxford, Anh quốc, rồi về làm một công chức cao cấp tại Hồng Kông. Nhờ ơn Chúa soi sáng và hướng dẫn, ngài đã trở lại đạo Công giáo, dâng mình làm linh mục, sang học tại Ðại chủng viện dành cho những người tu muộn ở Roma.

Sau khi thụ phong linh mục, ngài trở về Hồng Kông, làm Giám đốc Caritas. Công việc đang phát triển tốt đẹp thì một ngày kia, Ðức Cha Biauchi thuộc Hội truyền giáo Pime đã già yếu, muốn chọn cha làm Giám mục phụ tá cho ngài.

Ða số giáo sĩ tại Hồng Kông, đều tỏ thái độ phản đối kịch liệt. Họ đưa ra nhiều lý lẽ thật vững chắc:

- Chúng tôi không muốn chấp nhận một người mới vào đạo làm Giám mục của chúng tôi. Cha Francis Hsu mới hôm qua đây là công chức của Nhà Nước Hồng Kông ai cũng còn nhớ cả! Hơn nữa, ngài là người Thượng Hải, mà tại Hồng Kông đa số là người Quảng Ðông, nói tiếng Quảng Ðông; cha Hsu nói tiếng Quảng Ðông với giọng Thượng Hải, ngài giảng thì ai nghe cho được!

Người khác lại bảo:

- Hồng Kông thiếu gì linh mục đạo đức, anh tài mà lại chọn người mới làm linh mục có mấy năm, chưa biết công việc mục vụ trong giáo xứ... lên làm Giám mục!

Cả một phong trào nổi lên phản đối rầm rộ. Họ viết thỉnh nguyện thư gởi sang Tòa Thánh, lại còn xin các Giám mục ở Ðài Loan can thiệp giùm để tránh được sự khốn nạn là được một người "nước rửa tội trên trán chưa ráo" lên làm Giám mục của một giáo phận lớn lao và phức tạp như Hồng Kông.

Sau khi cân nhắc kỹ càng, Tòa Thánh cương quyết phong cha Francis Hsu làm Giám mục Hồng Kông. Ngài làm phụ tá hai năm rồi lên Chánh toà. Vì đức tin và lòng vâng phục, hàng giáo sĩ Hồng Kông phải chấp nhận nhưng trong thâm tâm người nào cũng đầy thất vọng, lo lắng. Ai cũng chờ xem ông "đạo mới" hành động ra sao... Một ít lâu sau, họ bắt đầu thấy Ðức Cha Hsu bắt tay vào việc.

Ngài trùng tu ngôi nhà thờ Chánh tòa cho khang trang và mỹ thuật, phù hợp với phụng vụ mới, phân phối lại các giáo xứ, mở thêm nhiều trung tâm Caritas để phục vụ giới nghèo, tạo điều kiện cho giới trẻ học nghề, học văn hóa bổ túc.

Các tổ chức trong giáo phận như Hội đồng Linh mục, Hội đồng mục vụ, Tông đồ giáo dân đều hoạt động sôi nổi, theo sát các sáng kiến và chỉ thị của Tân Giám mục. Ngài lắng nghe mọi người, học hỏi với những nhà chuyên môn, đi đến những xóm nghèo, những khu lao động để tìm hiểu thao thức nguyện vọng của giáo dân. Ngài tiếp đón mọi người. Phân phối công việc cho ai nấy tùy khả năng và thiện chí. Tất cả đều diễn tiến một cách tốt đẹp, khiến cho mọi linh mục phải thốt lên: "Trước đây người ta phản đối việc tấn phong Giám mục cho Ðức Cha Hsu bao nhiêu thì ngày nay người ta lại phục sát đất các công việc và con người của ngài bấy nhiêu!".

Thật thế giáo phận Hồng Kông là một giáo phận vô cùng phức tạp: Phức tạp từ việc nhiều linh mục Trung quốc từ Lục địa đi ra thuộc đủ mọi giáo phận, gây lắm khó khăn cho sự hòa đồng, đến chuyện các tu sĩ thuộc các dòng vừa bị trục xuất cũng từ Lục địa Trung quốc ra mà đa số là những thừa sai ngoại quốc, những nhà chuyên môn với trình độ kiến thức cao, rất khó điều khiển! Hơn nữa, trong giáo phận lại có vô số dòng nam, dòng nữ, các Hội Truyền giáo cũng nhiều, chỉ cần kể đến một ít tổ chức lớn cũng đủ thấy bao nhiêu là khó khăn, phức tạp: Dòng Tên, Dòng Ða Minh, Dòng Maristes, Hội Thừa sai MEP (Pháp), Hội Thừa sai PIME (Ý), Hội Thừa sai Maryknoll (Mỹ)... Thế mà, với một vóc người nhỏ thó, lanh lẹ, Ðức Cha Hsu đã làm nổi bật tài lãnh đạo sáng suốt, sự bình tĩnh phi thường trong tất cả các buổi họp. Vấn đề nào ngài cũng am tường, câu hỏi hóc búa nào cũng được ngài giải quyết cách dễ dàng, thực tế, và cho những quyết định thật sáng suốt hay ho. Không một ai qua mắt ngài nổi! Các linh mục ngoại quốc hết lời ca tụng ngài, dân Tây cũng như dân Tàu đều tỏ ra cảm phục, quý mến ngài. Giáo phận Hồng Kông thực sự hướng đến một tương lai huy hòang, đầy lạc quan và tin tưởng.

Các vấn đề đối ngoại cũng được Ðức Cha Hsu giải quyết cách tốt đẹp. Ngài là một trong những ủy viên uy tín nhất của ban lãnh đạo Ðài phát thanh Veritas ở Phi luật Tân. Chính ngài là người đã tổ chức các buổi họp Ban thường vụ Hội Ðồng Giám mục Á châu ở Hồng Kông.

Làm sao một mình ngài lại có thể cùng một lúc thực hiện được nhiều công việc thuộc nhiều lãnh vực như thế? Thưa vì ngài biết dùng người, tin người và phân phối công việc cho mỗi người, mỗi Dòng cách hợp lý và chính xác. Thành quả rõ ràng nhất là ngài đã tổ chức, điều hành cách tốt đẹp, thoải mái, đâu vào đấy, nhiều phiên họp của Ban Thường vụ Hội Ðồng Giám mục Á châu tại Hồng Kông. Hồng Y, Giám mục nào đến tham dự cũng đều thỏa mãn, khâm phục.

Năm 1973, tại Hồng Kông xảy ra một vụ tổng đình công của toàn thể giáo sư, giáo viên trong nhiều tháng mà chính quyền bó tay bất lực, giải quyết không nổi. Cuối cùng cả hai bên đều nhất trí mời Ðức Cha Hsu đứng ra làm người hòa giải trung gian. Nên nhớ đại đa số giáo sư, giáo viên ở Hồng Kông đều là người ngoài Công giáo, điều ấy chứng tỏ uy tín của Ðức Cha Hsu lớn biết chừng nào. Suốt nhiều đêm ngày, ngài đã vất vả hội họp, gặp gỡ riêng từng nhóm giáo sư, giáo viên, nghiên cứu các yêu cầu của họ rồi thương lượng với Nhà Nước. Công việc đang tiến hành tốt đẹp, hai bên đã đi đến chỗ thỏa thuận, ngày thành công huy hoàng sắp đến thì đùng một cái: trưa hôm ấy, sau khi dùng cơm tại khách sạn Lee's Gardens trong một buổi họp mặt vui vẻ với các giáo sư, lúc đứng dậy ra về bỗng nhiên Ðức Cha Hsu ngã nhào xuống. Một giáo sư bác sĩ Y khoa có mặt trong buổi họp mặt vội chạy đến tìm cách cấp cứu. Nhưng than ôi, quả tim Ðức Cha Hsu đã ngưng đập! vì tinh thần hy sinh, bác ái hòa giải; vì xót thương biết bao con em hiện đang thất học; vì quá lao nhọc trong suốt những ngày vừa qua, nên quả tim của nhà lãnh đạo tài ba phải ngưng đập một cách mau chóng, lôi kéo theo bao niềm đau đớn, tiếc thương.

Không một đám tang nào trọng thể như đám tang của Ðức Cha Hsu: ngoài giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận khóc thương ngài, người ta còn thấy sự hiện diện của đông đảo các giáo sư, những người ngoài Công giáo đã được tiếp xúc hiểu biết ngài. Ai ai cũng thương tiếc một vị thầy, một người bạn, một nhà lãnh đạo sáng suốt và trìu mến của xứ Hồng Kông.

8. Nhà lãnh đạo can đảm

* Ðường hy vọng cần người lãnh đạo, theo từ ngữ là người dẫn đường, cũng gọi là thủ lãnh, nghĩa là người làm đầu. Không có đầu suy nghĩ, tứ chi sẽ suy nhược, thiện chí bị phân tán, nghị lực sẽ lụi bại, hỗn loạn sẽ thống trị và công cuộc tan vỡ (ÐHV 833).

* Nhà lãnh đạo công tâm và khiêm tốn làm việc cho người kế vị, bất kể người đó là ai. Con hãy nhằm sự trường cửu của công việc lên trên danh tiếng và lợi ích cá nhân con (ÐHV 868).

Ðức Hồng Y Roques, Tổng Giám mục giáo phận Rennes. Ngài đã liên tục ra sức tranh đấu cho trường tư thục Công giáo ở Pháp trong thời kỳ tiếp theo sau đệ nhị thế chiến; bởi vì tuy nước Pháp là một nước mà đại đa số công dân là người Công giáo, nhưng trong thời kỳ ấy lại có một chính sách kỳ thị, bài trừ tôn giáo hết sức trắng trợn dưới sự chỉ huy của phái Tam điểm.

Họ đề ra nguyên tắc: là người công dân ai cũng phải đóng thuế vào công việc văn hóa giáo dục, nhưng lại chủ trương người học trường công thì được miễn phí tổn, còn người học trường tư thì lại phải tự đài thọ lấy. Mà ta biết Giáo hội Pháp từ lâu đã có một hệ thống giáo dục rất chặt chẽ và nổi tiếng, gồm từ mẫu giáo lên đến Ðại học và kỹ thuật; mà như thế là phải vừa nộp thuế giáo dục vừa phải nai lưng đóng góp để tự đài thọ mọi chi phí cho các học đường của mình! Ðức Hồng Y Roques đã lên tiếng quyết liệt yêu cầu xóa bỏ sự bất công này. Chính quyền bèn đưa ngài ra tòa án. Ngài bằng lòng chấp nhận. Và hôm ấy, tòa án đã là diễn đàn để ngài nói lên tiếng nói của công lý, của sự thật, tiếng nói của vị chủ chăn bênh vực quyền lợi được giáo dục của con chiên mình. Mặc dù bị phạt vạ 3 đồng, ngài vẫn là kẻ chiến thắng vì được mọi người hoan nghênh cảm phục và yêu mến, và cũng từ đó uy tín của ngài ngày càng lên cao.

Tiếng nói và bản án của Ðức Hồng Y Roques đã là "tiếng nói báo động" khơi mào cho một cuộc đấu tranh liên tục. Người Công giáo đã mạnh dạn lên tiếng về vấn đề ấy trên các báo chí, sách vở, diễn đàn Thượng Hạ Viện. Dư luận quần chúng cũng ngày càng thuận lợi cho công cuộc đấu tranh. Cuối cùng, đến thời tướng De Gaulle đứng ra lập chính phủ lần thứ hai (1958), Lưỡng viện đã bỏ phiếu một dự luật mới đem lại thắng lợi cho các trường tư thục.

Tên tuổi Ðức Hồng Y Roques từ đó gắn liền với các nền giáo dục tư thục Công giáo Pháp một cách chặt chẽ. Trong cũng như ngoài nước Pháp, ai ai cũng nhắc đến vị lãnh đạo tinh thần với bản án "Ba phật lăng" nầy kèm theo một lòng trìu mến, kính phục vô biên.

9. Những đức tính của người lãnh đạo theo thánh Anphongsô

* Chúa Giêsu đem lửa đến thế gian và muốn cho quả đất rực cháy. Con phải là ngọn lửa sáng với chí khí tông đồ, con đốt sáng ngọn đuốc khác, để chuyển lửa sáng lan rộng cho đến lúc thế giới thành một biển ánh sáng (ÐHV 836).

* Nhận trách nhiệm lãnh đạo, con phải nhớ rằng, sau khi đem hết thiện chí chu toàn nhiệm vụ, con hãy xem mình là tôi tớ vô dụng, nhìn nhận con còn nhiều khuyết điểm và không ngạc nhiên, buồn phiền khi được đáp trả bằng hiểu lầm và vô ơn (ÐHV 882).

Thánh Anphongsô (1696-1787) thực sự là người đủ tư cách và thẩm quyền để khuyên bảo các nhà lãnh đạo trong Hội Thánh, trong các Dòng. Tại sao như thế? Vì giữa xã hội, ngài đã là một luật sư danh tiếng, trong lòng Giáo Hội ngài là một Giám mục giáo phận và là đấng lập Dòng tu. Ngài đã vui hưởng nhiều danh dự vinh quang nhưng cũng đã gánh vác, cảm nghiệm không biết bao nhiêu thử thách, lo âu, đau khổ, nhất là trong những năm cuối cùng của đời ngài.

Rút tỉa những kinh nghiệm quý báu của mình, ngài đã nhắn nhủ các người lãnh đạo như sau:

- "Lãnh đạo phải có một đời sống nêu gương. Nếu lãnh đạo không thi hành điều mình nói, thì sự chỉ huy của mình sẽ trở nên vô ích và độc hại.

- Lãnh đạo phải luôn luôn làm việc vì Chúa và phải xác tín rằng mình thường được đền đáp bằng vô ơn bội nghĩa.

- Lãnh đạo quá nghiêm khắc sẽ huấn luyện nên những tu sĩ nhiều khuyết điểm và thích giấu che vì họ chỉ hành động do lòng khiếp sợ và nô lệ đối với bề trên.

- Lãnh đạo kiêu ngạo sẽ bị mọi người ghét bỏ, tính xấu ấy còn ngăn trở chính mình cũng như tu sĩ thánh hóa bản thân và hơn thế còn gây trở ngại cho sự bảo tồn luật pháp trong nhà dòng.

- Lãnh đạo phải có một lòng can đảm, nhẫn nại vô bờ, phải hy sinh chịu đựng đủ mọi sự chống đối, công việc mệt nhọc; lại còn luôn tỏ ra bình tĩnh, hòa nhã, dễ thương với hết mọi người.

- Lãnh đạo phải bác ái yêu thương tiếp đón tất cả mọi người trong bất cứ mọi trường hợp.

- Lãnh đạo phải vô tư, phải yêu thương tất cả không phân biệt, phải giúp đỡ hồn xác mọi người, chớ thiên vị một ai.

- Lãnh đạo nào không lướt thắng những ác cảm và thiện cảm, những xúc cảm khó chịu của bản thân, sẽ xét đoán hấp tấp và sa vào muôn nghìn khuyết điểm. Lãnh đạo đừng tự phụ rằng mình có thể quản trị Hội dòng với ánh sáng riêng của mình, vì phải luôn luôn cần đến lời cầu nguyện và lời khuyên bảo của kẻ khác.

- Lãnh đạo phải biết đoán phòng các nhu cầu thiêng liêng và vật chất của tu sĩ để nâng đỡ họ với tâm lòng của một người cha người mẹ, người anh, người chị.

- Lãnh đạo phải tỉnh thức xem xét việc giữ luật dòng, phải kiểm điểm cách đúng đắn và cẩn thận.

- Lãnh đạo đừng vội vã xét đoán, nhưng hãy cân nhắc, suy nghĩ và thăm dò trước khi phán quyết.

- Lãnh đạo phải trừng phạt những lỗi phạm luật dòng, nhưng trước khi quở phạt phải bảo ban nhiều lần với tâm hồn đầy tràn bác ái.

- Lãnh đạo phải cương quyết đối với hạng người bất khẳng và ngăn ngừa gương xấu truyền nhiễm.

- Lãnh đạo phải công bình, gương mẫu, khôn ngoan, bác ái, hòa nhã và tỉnh thức, nếu không muốn bị xét đoán kinh khủng trước tòa Chúa".

10. Tài lãnh đạo của Ðức Gioan XXIII

* Muốn lãnh đạo sáng suốt, cần phải biết nghỉ ngơi. Nghỉ ngơi là nghệ thuật cần thiết để tránh nóng nảy, mệt trí, cau có, mất tự chủ, hoảng hốt (ÐHV 850).

* Quá lao lực, có ngày sẽ bất lực, quá bận tâm, có ngày mất nội tâm. Mặc dù bận rộn và càng bận rộn, con phải dành thời giờ để suy tư, học hỏi và nhất là cầu nguyện. Con sẽ tìm được bình an (ÐHV 852).

* Ðể có thể điều khiển mọi hoạt động và quy hướng mọi cố gắng về mục đích, người lãnh đạo có khả năng phân biệt rõ ràng những ý tưởng tổng quát, nhờ đó có cái nhìn toàn diện và hiểu biết đầy đủ về mọi ngành trong tổ chức của mình (ÐHV 860).

* Mỗi cá nhân là một "mầu nhiệm"; muốn lãnh đạo, con cần phải biết từng tùy viên, với nhu cầu, sở thích, tính tình, phản ứng của họ, đánh giá đúng mức, đặt vào đúng chỗ (ÐHV 861).

Ai cũng công nhận Ðức Gioan XXIII là một nhà lãnh đạo lỗi lạc có biệt tài, đã từng giữ nhiều chức vụ then chốt và tế nhị trong Hội Thánh:

- Phục vụ Thánh Bộ Truyền giáo (1920).
- Khâm Mạng Tòa Thánh tại Bungari (1925).
- Ðại diện Tông tòa tại Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp (1934).
- Sứ thần Tòa Thánh ở Pháp (1944).
- Hồng Y Giáo chủ Venise (1953).
- Giáo Hoàng (1958).
- Triệu tập Công đồng Vatican II, biến cố vĩ đại nhất của Hội Thánh trong thế kỷ XX.

Ngài đã học tập lãnh đạo với ai?

Với Ðức Giám mục Radini-Tedeschi, vị sư phụ mà ngài hết lòng yêu mến và kính phục ngay từ hồi còn là một chủng sinh trẻ tuổi, nhất là về sau, lúc trở thành Bí thư Tòa Giám mục. Ngài đã học tập với Ðức Cha Radini-Tedeschi không biết bao nhiêu là đức tính quý hóa và chính tay ngài đã viết một cuốn sách về thân thế và sự nghiệp của vị Giám mục đáng kính này.

Nhưng ngoài gương mẫu của con người sống động mà ngài đã được hạnh phúc gần gũi này, Ðức Gioan XXIII còn học trong sách vở báo chí. Sau này người ta biết được rằng ngài đã nghiên cứu rất nhiều về một vị lãnh đạo thời danh khác trong Hội Thánh là thánh Carôlô Borômêô, Hồng Y Tổng giáo phận Milanô (1538-1584). Ngài đã say mê cuộc sống thánh Carôlô cách lạ lùng, đã khảo cứu tất cả các tài liệu về vị thánh ấy trong nhiều thư viện và đã xuất bản thành một tác phẩm rất công phu gồm hai cuốn sách nhan đề là: "Những cuộc kinh lý mục vụ của thánh Carôlô Bôrômeô". Vì lòng sùng kính vị thánh này mà ngài đã chọn chính ngày lễ của thánh nhân (4.11.1958) để làm Lễ Ðăng quang.
* * *

Bên ngoài, xem như ông già Gioan XXIII làm việc tùy hứng, không có chương trình gì, nhưng kỳ thực bên trong là cả một sự đúc kết hài hòa tuyệt diệu của lòng mến tin, hy vọng, phó thác vào Chúa và sự khôn ngoan phi thường của một bậc vĩ nhân. Ngài thường hay nhắc đi nhắc lại mấy nguyên tắc lãnh đạo của ngài như sau:

1- Chấp nhận tất cả với tâm hồn đơn sơ. Không tìm địa vị, danh vọng. Biết tin tưởng các cộng sự viên và uốn nắn họ dần dần.

2- Có vài ý kiến đơn sơ, tầm thường, nhưng tầm quan trọng bao trùm thế giới, và quyết tâm thực hiện cho kỳ được.

3- Luôn luôn chỉ bảo và giúp đỡ người khác làm việc. Biết tin người, dùng người.

4- Không bao giờ tự làm tất cả. Không tự ái, khiêm tốn, luôn có kế hoạch phân phối công việc, chia sẻ trách nhiệm.

5- Một đôi khi để người khác tự do làm. Có những thí nghiệm bạo dạn, không ra chỉ thị nhưng theo dõi và cho phép các người khác thử.

11. Thập đại bại và thập đại thắng

* Ðón nhận mọi ý kiến, nhưng không lệ thuộc ý kiến (ÐHV 842).

* Có vô số ý kiến mà không quyết định là vô ích. Có ít tư tưởng mà thực hiện tất cả mới là lãnh đạo thực sự (ÐHV 845).

* Biết giữ kỷ luật cá nhân, biết tổ chức đời sống, biết phân giá trị mọi việc. Ðó là những điều kiện giúp con lãnh đạo cách hiên ngang, anh hùng, đem lại tin tưởng lúc mọi người rung động, loạn lạc... (ÐHV 854).

* Con đừng quên rằng tùy viên của con là người, là một nhân vị, là con Chúa, nên chỉ có họ và Thiên Chúa có quyền đối với họ. Không ai được coi họ như vật sở hữu, như máy móc sản xuất (ÐHV 867).

* Lãnh đạo không gương sáng được vâng phục mà không kính phục. Lãnh đạo chỉ nêu gương sáng trong nhiệm vụ được vâng phục, kính phục, mến phục và tỏa ra một tầm ảnh hưởng rất sâu rộng (ÐHV 869).

* Ðặc điểm của lãnh đạo thiên tài là biết quy tụ cộng tác viên bằng cách: Tìm họ, khám phá họ, tiếp đón họ, chọn họ, huấn luyện họ, tín nhiệm họ, sử dụng họ, mến yêu họ. Không ai là nhà lãnh đạo lý tưởng cũng như không ai là cộng tác viên thập toàn (ÐHV 870).

* Lãnh đạo phải trở nên mọi sự cho mọi người, trong bất cứ trường hợp nào, chấp nhận mọi thứ công việc, nhọc mệt, chống đối và khi cần phải hy sinh cả mạng sống con để mưu ích cho đoàn thể, nhưng đừng bao giờ làm giảm sút sự lo lắng cho chính linh hồn con (ÐHV 881).

Một thanh niên nọ có dịp học hỏi nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Trong các anh hùng người Việt, vị mà anh khoái nhất là ông Nguyễn Trãi, vì tinh thần ông rất dũng cảm, khí thế ông rất kiêu hùng. Anh ta thuộc lòng cả bài "Bình Ngô đại cáo" của ông.

Khi đọc bức thư của ông gởi cho tướng lãnh Trung quốc khuyên bảo họ nên rút quân xâm lược về, nếu không sẽ thảm bại nhục nhã; anh khoái nhất là chỗ vị quân sư của vua Lê Lợi đã phân tích sự việc dưới tiêu đề: "Lục đạt bại và Lục đại thắng", nghĩa là sáu nguyên do bất lợi khiến cho Trung quốc xâm lược phải thua và sáu nguyên nhân về thiên thời, địa lợi, nhân hòa, chính nghĩa, ái quốc khiến quân ta sẽ thắng.

Chàng thanh niên ấy đêm ngày cứ trầm ngâm suy nghĩ về "Lục đại bại và lục đại thắng" mãi cho đến một hôm anh nảy ra một sáng kiến về thuật lãnh đạo, mà rồi, vì thấy hay hay, anh bèn bắt chước Nguyễn Trái đặt tên cho là: "Thập đại bại và thập đại thắng". Anh lấy làm thích chí và vui vẻ đem ra giải thích cho các bạn mười lý do khiến người lãnh đạo thất bại và ngược lại mười lý do khiến người lãnh đạo thành công. Các bạn anh nghe qua cũng tạm được bèn tặng cho anh một biệt hiệu khiêm tốn nhưng cũng rất oai: "Nguyễn Trái tí hon". Tuy là sáng kiến của một "cậu bé tí hon" nhưng cũng đáng cho chúng ta suy nghĩ:

Thập đại bại (của lãnh đạo):

1- Kiêu căng, xem người như máy móc, độc đoán chẳng chịu nghe ai, bảo thủ ý kiến.

2- Băn khoăn, bi quan, khiến cho người khác cũng đâm hoang mang.

3- Không biết dùng người, không chọn người, không biết huấn luyện, không hòa mình, không khoan dung, sống cách biệt, giữ óc địa phương.

4- Ða nghi đối với mọi người, mang bệnh "do dự mãn tính", sợ mất lòng, thay đổi ý kiến như chong chóng.

5- Tự mình ôm đùm bao quát tất cả, lạc lõng trong những chuyện vụn vặt, phiền toái không phân biệt đâu là chính yếu đâu là phụ thuộc.

6- Miệng nói rất khéo, nhưng làm thì khác, cuối cùng chẳng ai tin. Tuyên bố rùm beng, nhưng sống và hành động không ra gì. Gặp khó khăn thì buông xuôi nản lòng. Thành công thì huênh hoang tự đắc và cướp công, vô ơn đối với kẻ thành tâm giúp mình.

7- Dấn thân nửa vời, thịnh thì xu thời, "xông pha cứu trợ người thắng trận" trước ai hết; suy thì rút lui nhẹ nhàng không chịu trách nhiệm và đổ lỗi cho kẻ khác

8- Không có chương trình và kế hoạch, hăng tiết theo cảm hứng, thích tấn công, khó chịu khi nghe sự thật mất lòng.

9- Ích kỷ, chỉ tìm danh lợi cho bản thân mình, sợ người khác hơn mình, giấu kỹ những kinh nghiệm của mình.

10- Không cầu nguyện, chỉ tin vào tài năng và mưu mô, thủ đoạn trần tục, trông cậy vào quyền thế.

Thập Ðại thắng:

* Sáng kiến hợp thời và hữu hiệu mới lãnh đạo được (ÐHV 843).

* Con phải tin tưởng vào sứ mạng của con, cảm hóa và truyền thông lòng tin tưởng, bầu nhiệt huyết trong con cho kẻ khác (ÐHV 838).

* Con hãy dùng ý chí tập trung tư tưởng, can đảm quyết định và quyết định kịp thời (ÐHV 844).

* Chỉ trích cấp trên làm nhụt nhuệ khí, tạo chia rẽ giữa các tùy viên và mở đường cho họ bình phẩm phương pháp, bươi móc khuyết điểm của chính con (ÐHV 848).

* Lãnh đạo phải can đảm, có cái nhìn bình tĩnh trước mọi biến cố, ở mọi nơi, trong mọi lúc. Chừng ấy con ổn định được tình trạng thử thách nguy hiểm nhất (ÐHV 851).

* Con đừng phí một giây, đừng dư một lời, đừng bỏ một dịp. Con sẽ cương quyết hơn. Ðược người cảm phục hơn (ÐHV 853).

* Nhìn rõ, nhìn thật, nhìn đúng. Xét người, xét việc, xét cảnh. Ðó là óc thực tế con cần có để lãnh đạo, dựa trên các dữ kiện khách quan (ÐHV 855).

* Dùng toàn công thức là máy móc, ngủ trong thủ tục là lỗi thời, lạc trong chi tiết là chật hẹp.
Con phải: - Nhìn tổng quát, - Thích ứng dẻo dai, - Biến dở thành hay.
Con cần: - Cố vấn, - Chuyên viên, - Nhất là cần ý chí của con (ÐHV 856).

* Như Chúa Giêsu đã ở liên lỉ với các Tông Ðồ suốt ba năm, con hãy hòa mình với các cộng tác viên của con, thông cảm, chia sẻ tâm sự, vui buồn và đoán biết tâm lý từng người. Con sẽ ngạc nhiên vì lúc ấy họ sẽ đoàn kết và cố gắng vượt mức (ÐHV 862).

* Chiếm được con tim của tùy viên, con có thể thấy họ dốc toàn lực để theo con, vì họ biết con yêu họ thành thực, đậm đà, hy sinh cho tận tụy. Nếu con không lãnh đạo bằng tình yêu, con phải sử dụng hạ sách: "vũ lực" (ÐHV 865).

* Thiên Chúa là bí quyết của nhà lãnh đạo: Ngài ban uy quyền và không bỏ ai dựa vào quyền năng của Ngài để lãnh đạo. Tinh thần khiêm nhường và lòng bác ái là căn bản; Phúc Âm của Ngài hướng dẫn nhà lãnh đạo (ÐHV 871).

* Nhà lãnh đạo không chỉ căn cứ vào báo cáo thôi, nhưng lo lắng đọc "sách đời sống" của mỗi tùy viên hơn: đọc trong lòng họ, trong khả năng họ, trong thử thách họ (ÐHV 872).

* Lúc đối thoại, Chúa Giêsu không đóng miệng Phêrô nóng nảy. Lời lẽ bồng bột chua chát của người khác không làm sụp đổ vũ trụ đâu. Con đừng sợ, cứ đối thoại với tất cả tâm hồn thay vì lý sự (ÐHV 878).

1- Khiêm tốn, trong nhân phẩm của mỗi cá nhân, uyển chuyển, linh động, lắng nghe sáng kiến mọi người, rồi suy nghĩ lượng giá.

2- Ý thức, tin tưởng sứ mạng của mình như một ơn Chúa, bình tĩnh trước mọi biến cố.

3- Có thuật dùng người, chấp nhận đối thoại tìm hiểu từng người, tâm hồn quảng đại, biết quên bỏ những lầm lỗi của kẻ khác, lắng nghe bạn bè khuyên bảo, mà nhất là biết nghe kẻ thù chỉ trích.

4- Tín nhiệm cộng sự viên; xem, xét, làm. Quyết định sáng suốt, thực hiện cho kỳ được.

5- Chia sẻ trách nhiệm với các cố vấn, chuyên viên, cộng sự viên. Luôn học hỏi, trau dồi thêm khả năng.

6- Nói ít, làm nhiều, luôn luôn trọng kỷ luật, đi tiền phong, nêu gương sống trong mọi lãnh vực, nhìn thẳng thực tế, khách quan, khiêm tốn lúc thành công, chia sẻ niềm vui với cộng sự viên, kiên trì và nhẫn nại, không bao giờ thất vọng.

7- Sẵn sàng hy sinh tất cả vì sứ mệnh, can đảm nhận trách nhiệm, cùng thành công cùng thất bại, không bao giờ làm tổn thương tình huynh đệ. Tình nguyện nhận điều khó cho mình, để cái dễ cho cộng sự viên.

8- Trước mỗi việc đều có chương trình, kế hoạch, sau mỗi việc đều kiểm điểm chân thành, phê bình và tự phê, sợ tâng bốc thích nghe nói thẳng, nói thật.

9- Chỉ tìm phục vụ, quên mình đi vì đại cuộc, xác tín rằng mình chỉ là khí cụ trong tay Chúa, nên chỉ tìm thánh ý Chúa, giữ vững lập trường, thấy ai hơn mình thì vui mừng, chuẩn bị cho tương lai, dọn đường và trao hết kinh nghiệm cho người kế vị mình.

10- Trước mọi công việc, trong mọi khó khăn, biết cầu nguyện, tìm ánh sáng và sức mạnh nơi Chúa, bàn hỏi với Chúa trước hết, phó thác cho Chúa trọn vẹn. Hy vọng trong thất vọng, cứ vui vẻ tiến lên, ngày mai có Chúa lo.

Chắc các bạn cũng cảm nghiệm cái lý thú của "Thập đại bại và thập đại thắng" rồi chứ gì? Hoan hô "Nguyễn Trãi tí hon"!
-----o0o-----
 
 
34- Kiểm Ðiểm

1. Công đồng Vatican II, một cuộc kiểm điểm sâu rộng trong Hội Thánh

* Trên đường hy vọng, thỉnh thoảng con phải dừng chân nơi bóng mát, để kiểm điểm lại: rút kinh nghiệm bước tiến, chuẩn bị thêm hành trang, sửa chữa những bước lệch lạc (ÐHV 883).

* Công tác càng lớn, kế toán càng kỹ. Nếu con cẩu thả, ấy là dấu con xem thường sự sống đời đời của con (ÐHV 884).

Dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, rảo qua những chặng đường lịch sử của Hội Thánh của Ðức Giáo Hoàng đã can đảm mạnh dạn đứng ra triệu tập nhiều Công đồng chung để kiểm điểm lại lối trình bày nền Thần học của Hội Thánh, phi bác các chủ trương lầm lạc của các lạc giáo, canh tân đời sống đạo của mọi Kitô hữu.

- Công đồng Nicêa (325).

- Công đồng Constantinopoli (381).

- Công đồng Chalcêdonia (451) phán dạy các tín điều về Thiên Chúa Ba Ngôi, về Chúa Giêsu Con Thiên Chúa, về Chúa Thánh Thần đồng bản tính với Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Con.

- Công đồng Êphêsô (431) truyền dạy Tín điều Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa, phi bác lạc thuyết của Nestêriô, Thượng phụ thành Constantinôpôli.

- Công đồng Tridentinô (1545-1563) dạy các Tín điều về sự Cứu rỗi, về Ðức tin, về phép Thánh Thể, bác lại các lạc thuyết do Lutherô, Calvinô, Zwingli... đồng thời ban bố những Huấn thị về việc đào tạo các chủng sinh, về kỷ luật các hàng giáo sĩ.

- Công đồng Vaticanô I (1870) quyết định Tín điều về đặc ân "Bất khả ngộ" của Ðức Giáo Hoàng.

Riêng Công đồng Vaticanô II (1962-1965), thì có một sắc thái hoàn toàn mới mẻ, tuyệt nhiên không nhằm phi bác hay rõ rệt lên án một lạc thuyết nào; nhưng ngược lại đã kiểm điểm những thiếu sót còn tồn tại ở một số thành phần của Hội Thánh cách chân thành và khiêm tốn. Ta có thể đọc đó đây giọng kiểm điểm như sau:

Trách nhiệm của người Công giáo đối với vấn đề Vô thần:

"...Lắm lúc người tín hữu cũng mang lấy một phần trách nhiệm về tình trạng này. Vì Vô thần không tự mình phát sinh, nhưng do nhiều nguyên nhân: một trong những nguyên nhân là phản ứng chống lại các tôn giáo, cách riêng chống lại các Kitô giáo trong vài miền. Vì thế các tín hữu có một phần trách nhiệm rất to trong việc sinh ra Vô thần, vì họ đã che kín hơn là làm sáng tỏ khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa và tôn giáo, bởi chểnh mảng trong việc giáo huấn đức tin, trình bày đạo lý sai lầm, vì những khuyết điểm của đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội..." (Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng, số 19).

Hội Thánh không ngừng thúc đẩy tẩy luyện và đổi mới.

"Mặc dầu Hội Thánh, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, vẫn luôn là bạn tình trung thành của Chúa, và luôn là dấu chỉ phần rỗi trong thế giới; tuy nhiên, Hội Thánh cũng nhìn nhận là qua các thế kỷ, trong các chi thể của mình. giáo sĩ hay giáo dân, có những người đã bất trung với Thánh Thần của Thiên Chúa" (Thánh Ambrosiô).

"Ngay cả hiện giờ, Hội Thánh thấy cách biệt khá xa giữa sứ điệp của Hội Thánh rao giảng và sự yếu đuối của những kẻ được ủy thác sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Cho dầu lịch sử có phê phán nào về những khuyết điểm đó, chúng ta vẫn phải ý thức và cương quyết sửa sai để khỏi làm tổn thương đến công việc truyền bá Phúc Âm. Ðể mở rộng lối liên lạc với thế giới, Hội Thánh thấy cần học hỏi nhiều với kinh nghiệm của các thế kỷ. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, Hội Thánh không ngừng thúc đẩy con cái tẩy luyện và đổi mới để cho dấu hiệu của Chúa Kitô được rạng chiếu tươi sáng thêm trên khuôn mặt của Hội Thánh". (Hiến chế Vui Mừng và Hy vọng, số 43).

Hội Thánh còn thúc đẩy kiểm điểm và canh tân cách cụ thể.

Ðây chỉ là một tỉ dụ về các Dòng tu: "Phải thích nghi xét lại các Hiến chế, căn bản chỉ nam, các sách luật lệ, sách kinh, sách nghi thức và các sách khác như vậy; hay bỏ những gì đã lỗi thời để thích nghi với các Văn kiện của Thánh Công đồng này..." (Sắc lệnh về Cải tổ và Thích nghi các Dòng tu, số 3).

Nhìn tổng quát thì Công đồng Vatican II là một cuộc kiểm điểm toàn thể sinh hoạt trong nội bộ của Hội Thánh, cũng như kiểm điểm đường hướng đối ngoại, cái nhìn và sự đóng góp của Hội Thánh đối với thế giới ngày nay. Những chi tiết về vấn đề này sẽ được nói đến trong các mục "Canh tân" và "Dấn thân", xin miễn nhắc lại. Nhưng điểm đặc biệt ở đây là Công đồng Vatican II không kiểm điểm cách tiêu cực, bi quan, theo lối điều tra, chỉ trích, lên án, thanh trừng trong nội bộ hay đối phương, ngược lại, đây là một sự suy niệm sâu rộng dưới ánh sáng Tin Mừng, bao quát tất cả mọi vấn đề của con người, và nhằm đem lại hiệp nhất với các anh em ngoài Công giáo, thông cảm và hợp tác với các anh em Vô thần.

Ðức Phaolô VI, trong giây phút huy hoàng cảm động nhất của nghi thức bế mạc Công đồng Vatican II tại công trường thánh Phêrô, đã dùng những danh từ như sau để diễn tả sự kiểm điểm ấy: "Giờ lên đường, giờ giải tán đã điểm. Lát nữa, Chư huynh sẽ từ giã Ðại Hội Công đồng để trở về gặp gỡ nhân loại, mang về cho nhân loại Tin Mừng về sự canh tân Hội Thánh, công việc mà chúng ta làm từ bốn năm nay".

"... Từ cuộc suy niệm lâu dài của chúng ta về Chúa Kitô và về Hội Thánh Người, giờ đây phải thốt lên tiếng nói đầu tiên loan báo nền hòa bình và sự cứu độ cho 100 triệu người đang mong đợi..." (Sứ điệp gởi cho thế giới, số 1).

2. Khám phá giáo phận của mình

* Bay lồng lộng giữa không gian thế mà lộ trình của phi thuyền rất rõ rệt; là phi hành gia con phải sửa tay lái liên lỉ, và triệt để nghe lời chỉ bảo từ quả đất, lệch lạc là không đến đích (ÐHV 894).

* Ðể nhằm đúng hướng trên đường hy vọng, con phải phản ứng ngay: "Lạy Chúa, tất cả vì yêu mến Chúa, tất cả vì Chúa trong anh em con. Con không dành gì cho con, Con không muốn ai biết ơn con, Con không muốn phần thưởng nào." (ÐHV 903).

* Con thấy hoài bão lớn lao, chương trình hành động vĩ đại, trở ngại cao như núi, rộng như biển, con yếu đuối sao vượt nổi! Lấy phương tiện ở đâu? Thánh Phaolô đã nói với giáo dân ngày xưa băn khoăn như con: "Chúa chọn kẻ yếu đuối để làm cho kẻ mạnh mẽ phải hổ thẹn", "miễn là ơn Chúa không vô ích trong tôi", nghĩa là con phải trung tín nghe theo ơn Chúa (ÐHV 907).

Ðức Hồng Y Suhard (1874-1949) là một vị chủ chăn lỗi lạc, điều đó chẳng một ai dám phủ nhận, đặc biệt về đường hướng đạo đức thâm sâu mà ngài đã vạch ra trong các thư luân lưu danh tiếng, chẳng hạn như: - "Hội Thánh tiến hay lùi" (Essor ou déclin de l'Eglise, Mùa Chay 1948). - "Linh mục giữa xã hội" (Le Prêtre dans la cité, Mùa Chay 1949).

Ðức Thánh Cha Piô XII rất lấy làm cảm phục khi đọc qua các thư luân lưu ấy. Trong một dịp Ðức Hồng Y Suhard đến Vatican để yết kiến, ngài đã tươi cười nói đùa rằng: "Năm nay Ðức Hồng Y có ra thông điệp nào mới không?"

Giữa những bận rộn của Giáo phận gồm mấy triệu giáo dân, mười Giám mục phụ tá, 1500 linh mục và cả vạn tu sĩ nam nữ, một hôm, linh mục Bí thư trình Ðức Hồng Y một tập sách mới viết, định xuất bản, do một linh mục trẻ trong giáo phận soạn ra. Linh mục ấy thiết tha xin Ðức Hồng Y xem qua cuốn sách và xuất ý trước khi ấn hành. - Tốt lắm, cha cứ để đấy, lúc nào rỗi tôi sẽ xem.

Một tuần rồi hai tuần, ba tuần trôi qua, Ðức Hồng Y bận nhiều công việc, cuốn sách cứ nằm cô đơn ở một góc bàn. Cha Bí thư lựa dịp tiện nhẹ nhàng nhắc lại:

- Khi nào xin Ðức Hồng Y xem qua tập sách!

- Ðược lắm, tôi không quên đâu, nói cha ấy thông cảm nhé!

Lại một tháng nữa trôi qua. Cha trẻ cảm thấy thời gian ấy dài gần như nửa thế kỷ!

Chiều hôm ấy, trời rét như cắt thịt, Tòa Tổng Giám mục hoàn toàn vắng khách; trong bầu không khí thân mật, đầm ấm, cha Bí thư rụt rè trình bày:

- Thưa Ðức Hồng Y, xin Ðức Hồng Y xem qua tập sách cho ông cha trẻ kia được phấn khởi, ông ta cứ hỏi con hoài à! Có thể hôm nay vắng khách, xin Ðức Hồng Y xem qua tí thôi, cũng như đọc sách báo giải trí vậy!

- Ðúng, tôi bận quá nên chậm trễ mất, cha đưa cuốn sách cho tôi, tôi bắt đầu đọc ngay bây giờ.

Cha Bí thư mừng khấp khởi, trao ngay cuốn sách Ðức Hồng Y và nhẹ nhàng rút lui.

Bảy giờ tối, chuông điện báo giờ cơm reo vang, mọi người đứng đợi ở phòng ăn, ai cũng thắc mắc "thường ngày Ðức Hồng Y là người rất đúng giờ mà sao hôm nay lại phải đợi ngài lâu thế này? Hay là ngài có việc gì chăng?"

Cha Bí thư lon ton chạy lên phòng Ðức Hồng Y, gõ cửa, bước vào:

- Mời Ðức Hồng Y xuống xơi cơm tối.

- Thôi, cha nói trong nhà cứ ăn đi, đừng đợi tôi!

- Thưa Ðức Hồng Y ốm à?

- Không, tôi không sao cả! Cha bảo họ mang vào cho tôi bát xúp và ít bánh mì là đủ rồi. Ðừng cho ai vào, tôi bận tí việc thôi, không ốm đâu!

Nghe cha Bí thư thuật lại, mọi người trong nhà vẫn chưa an tâm, vì biết rõ Ðức Hồng Y là người rất chịu khó, không bao giờ than van ốm bệnh, lại chẳng đời nào bỏ buổi cơm chung, vì ngài rất quan tâm đến giờ sum họp gia đình ấy! Nhưng thế nào cũng phải vâng lời ngài: người giúp việc mang bát xúp và bánh mì vào để ở góc bàn rồi lui ra.

Mười hai giờ khuya... Ðèn trong phòng Ðức Hồng Y vẫn còn bật sáng, cha Bí thư gõ cửa bước vào:

- Thưa Ðức Hồng Y có ốm bệnh gì không? Mời Ðức Hồng Y đi nghỉ kẻo khuya rồi! Không sao cả, tôi đang đọc sách, cha cứ đi ngủ đi!

Một giờ sáng... Ðèn vẫn còn sáng trưng trong phòng. Các bà nữ tu giúp việc rất áy náy. Chẳng biết vì sao chiều nay ngài không xuống dùng cơm chung, bây giờ đã một giờ sáng, ngài cũng chưa đi ngủ! Nguy hiểm thật! Bà nhất và một bà phụ trách y tá gõ cửa, bước vào:

- Xin Ðức Hồng Y thứ lỗi, chúng con có mang ít thuốc cần dùng lên, nếu Ðức Hồng Y nghe trong mình khó chịu không ngủ được, xin Ðức Hồng Y dùng chút ít.

Ðức Hồng Y vừa cười vừa nói:

- Không sao cả, các bà đi ngủ đi! Cha đọc cuốn sách hấp dẫn quá, đọc từ trưa qua đến giờ, quên cả ăn! Cha quyết đọc xong mới đi ngủ. Chỉ có thế thôi, cám ơn các con.

Hôm sau vừa dùng điểm tâm xong, Ðức Hồng Y gọi ngay cha Bí thư vào và bảo:

- Cha gọi điện thoại mời các Giám mục phụ tá, các Tổng đại diện và ban cố vấn đến họp!

- Thưa Ðức Hồng Y, chúng ta chưa chuẩn bị gì cả! Chưa có chương trình nghị sự!

- Không sao! Cha cứ điện thoại mời các đấng ấy đi?

- Thưa Ðức Hồng Y, con đã điện thoại cho tất cả Hội đồng cố vấn rồi; ai cũng hỏi con: có vấn đề gì khẩn trương đến thế?

- Nói thực cho cha nghe, đó là tập sách của cha Henri Godin nhan đề: "Nước Pháp, một xứ truyền giáo" (La France, pays de mission) mà cha đã giao cho tôi chiều hôm qua. Tôi đã đọc hết cả cuốn quên cả ăn cả ngủ. Mấy lâu nay tôi cứ nghĩ rằng tôi đã biết rõ thành phố Paris, giáo phận của tôi. Nhưng bây giờ tôi đọc trong đó thấy có nhiều sự kiện rất mới lạ và bất ngờ, khiến cho tôi phải bồn chồn thao thức. Tôi tự kiểm điểm lại: thực tôi chưa biết rõ giáo phận của tôi. Tôi rất cảm kích. Những tư tưởng ấy ám ảnh, thúc bách tôi, khiến tôi trằn trọc suốt đêm, chỉ mong mau đến sáng để gặp các vị cố vấn và tức khắc đi thẳng vào vấn đề... Cám ơn cha Henri Godin đã trao sách ấy cho tôi đọc.

Và kết quả công việc kiểm điểm này là ngài đã lập ra Hội Truyền giáo Paris năm 1944 và ra hai bức thư luân lưu nổi tiếng nói trên.

3. Khiêm tốn kiểm điểm

* Nhìn quá khứ để than vãn: vô ích. Nhìn kết quả để kiêu căng: nguy hiểm. Nhìn quá khứ để rút kinh nghiệm cho hiện tại: khôn ngoan (ÐHV 885).

* Kiểm điểm kỹ càng, kiểm điểm sáng suốt, kiểm điểm chân thành, kiểm điểm can đảm. Không kế toán viên nào, không máy IBM nào kiểm điểm thay con được nếu con muốn cho đáp số trước (ÐHV 886).

* Kiểm điểm mấy cũng vô ích, nếu con không dốc quyết cải thiện. Coi máy mà không làm máy lại, xe chẳng chạy được (ÐHV 895).

* "Ðể sau", đôi khi là đường lối của người khôn ngoan, lắm lúc là khẩu hiệu của những người bi quan, nhát đảm và bại trận (ÐHV 897).

* Chỉ giây phút hiện tại quan trọng. Ðừng nhớ ngày hôm qua của anh em để chỉ trích. Ðừng nhớ ngày hôm nay của con để khóc lóc. Nó đã vào dĩ vãng. Ðừng nhìn ngày mai của con để bi quan. Nó còn trong tương lai. Giao quá khứ cho lòng nhân từ Chúa, giao tương lai cho sự quan phòng Chúa, giao cả cho tình yêu Chúa (ÐHV 898).

Một Giám mục gần San Paolô (Thủ đô Braxin) đã biết rõ tinh thần của phong trào Focolare (Bác ái Hiệp nhất). Ngài muốn tinh thần tốt đẹp ấy cũng được thâm nhập vào giáo phận của ngài. Ngài mời một nhóm linh mục của nhóm Focolare đến giảng tĩnh tâm. Họ đã đến, nhưng ngay những ngày đầu tiên họ gặp phải một sự chống đối rất nặng nề và cảm thấy trở ngại rất nhiều trong việc giảng huấn. Sau đó, vào giờ nói chuyện với các linh mục, họ nhận ra rằng giữa các linh mục và Giám mục có một sự căng thẳng rất trầm trọng. Họ trình bày với Ðức Giám mục về chuyện đó, ngài hứa sẽ sẵn sàng xin lỗi các linh mục trong Thánh lễ ngày mai về những khuyết điểm sai lầm và bất công trong suốt thời gian qua. Ngài muốn sống đúng theo câu khuyên của Chúa: "Khi con dâng lễ, nếu chợt nhớ ra có ai bất bình với con, hãy để lễ vật đó trước bàn thờ rồi đi làm hòa với anh em con trước đã, rồi bấy giờ hãy đến mà dâng lễ vật" (Mt 5,23-24).

Trong Thánh lễ, Ðức Giám mục đã khiêm tốn xin lỗi cộng đoàn linh mục, nhưng điều đó vẫn không mang lại một kết quả nào. Ngài hiểu rằng cần phải tiến thêm một bước nữa. Ngài tìm đến từng phòng để nói chuyện riêng với mỗi linh mục. Cử chỉ này đã làm cho các linh mục rất đỗi xúc động. Các ngài bắt đầu cởi mở, trình với Ðức Giám mục hết mọi khó khăn, mọi vấn đề của các ngài. Các ngài bộc lộ hết tâm hồn mình cho Giám mục và chấp nhận Giám mục như là người anh, như chính Chúa Giêsu, và tạo nên một sự cảm thông sâu xa giữa hai bên. Trong tuần phòng đó, tất cả đã trở nên một đại gia đình, và cuối tuần phòng, Ðức Cha đã có một quyết định quan trọng: Ngài thay đổi cách thăm viếng. Từ nay, ngài sẽ ở lại chung sống hai ba ngày với từng linh mục trong mỗi giáo xứ để tạo một bầu khí huynh đệ giữa linh mục và Giám mục. Và từ đây các linh mục cũng rất ước mong đến ngày Ðức Giám mục đến thăm xứ mình.

4. Làm Giáo Hoàng mà vẫn còn nghiêm túc kiểm điểm

* Kiểm điểm mỗi tối, kiểm điểm mỗi tuần, kiểm điểm mỗi lần xưng tội, kiểm điểm mỗi lần tĩnh tâm. Xe tốt mấy cũng làm máy lại, sức khỏe mấy cũng khám tổng quát nếu muốn tránh sự sụp đổ bất ngờ, không cứu vớt được (ÐHV 887).

* Con đừng khinh dể những sự bất tín nhỏ mọn; không cần bão lụt khủng khiếp, những con sâu nhỏ trong một đêm, có thể làm tan nát bao nhiêu vốn liếng lao lực trong một cánh đồng xanh tươi thơm ngát (ÐHV 888).

* Chỉ có lính điên mới đưa lưng lãnh đạn, miễn đừng tử thương thì thôi. Ðó là thái độ của con khi phạm tội nhẹ, chỉ cốt tránh tội trọng thôi (ÐHV 889).

* Con đau đớn vì thấy nhiều phản bội với Chúa: tốt, nhưng chưa đủ. Phải làm như Mađelêna "được tha nhiều vì đã yêu nhiều"; phải làm như Gioan: trốn bỏ Chúa trong vuờn Giêtsêmani, nhưng trở lại đứng bên thánh giá, dốc quyết hằng yêu mến bằng hành động (ÐHV 890).

* Không tránh tội nhẹ, con mến Chúa ít quá, con không đủ động lực nội tâm để tiến trên đường hy vọng (ÐHV 891).

Trong cuốn "Tâm hồn nhật ký" Ðức Gioan XXIII đã ghi lại tất cả cuộc sống thiêng liêng của ngài, trong đó phần quan trọng nhất là phần ghi lại những lần tĩnh tâm từ lúc còn ở chủng viện (1898) cho đến những năm trên ngôi Giáo Hoàng (1963). Ðối với ngài, mỗi lần tĩnh tâm là mỗi lần kiểm điểm lại cuộc đời và có quyết định mới. Ðặc biệt là lúc đã ngoài 80 tuổi, gần từ giã dương thế, mặc dù ở trên ngôi Giáo Hoàng bận rộn muôn nghìn công việc đại sự, ngài vẫn thường xuyên tự kiểm điểm. Ngài luôn quyết tâm sống xứng đáng là một tâm hồn cao cả, muốn sửa đổi mình liên lỉ để sống đẹp lòng Chúa cho đến giây phút cuối cùng.

Ngày thứ hai 14.8.1961, ngài ghi:

"Sáu khẩu hiệu để sống hoàn hảo. Muốn được sống hoàn hảo, tôi phải: 1- Ao ước nên "công chính và thánh hóa" chỉ vì mong làm đẹp lòng Thiên Chúa. 2- Hướng mọi tư tưởng và hành động của tôi vào sự phục vụ cùng làm sáng danh Chúa và Hội Thánh. 3- Rất bình tĩnh trước mọi biến cố xảy ra cho tôi hay cho Hội Thánh, vì biết rằng Chúa gọi tôi. Luôn làm việc và chịu khổ vì Hội Thánh. 4- Luôn luôn phó thác cho Thiên Chúa Quan phòng. 5- Luôn luôn nhìn nhận tôi là không. 6- Sắp xếp công việc mỗi ngày rõ ràng, có trật tự."

5. Ông quản lý xí nghiệp dễ thương

* Không kiểm điểm "bệnh thiếu sót" là một thiếu sót lớn, đây là một ít hiện tượng: hững hờ làm việc Chúa, tính toán giảm thiểu các hy sinh, khéo léo tránh thoát trách nhiệm, hành động vì lý do trần tục, so đo lánh nặng tìm nhẹ... (ÐHV 892).

* Sự ăn năn hối cải của con không phải là "hát bội", khóc lóc não nùng xong rồi thì hết tuồng, hạ màn. Và đâu lại vào đó! (ÐHV 893).

* Dốc quyết ít điểm, dốc quyết thực tế, dốc quyết căn bản. Có những người tưởng mình thánh thiện vì có một sổ lớn đầy dẫy những dốc quyết mây mưa (ÐHV 896).

* Ðừng phiền muộn, đừng ngã lòng. Lắm lúc hiện tượng ấy do bịnh "kiêu ngạo" phát sinh. Con cứ đinh ninh rằng con thuộc chín phẩm thiên thần không thể phạm tội sao? (ÐHV 899).

* Con dốc quyết làm tông đồ Chúa, nhưng con không phó thác vô điều kiện cho Chúa, làm sao con là khí cụ đắc lực trong tay Chúa, khi con còn tháo gỡ và cất giấu ít bộ phận (ÐHV 900).

Anh Romulo, quản lý một xí nghiệp ở Philippine có thuật lại câu chuyện của anh như sau: "Tôi làm việc tại một xưởng bia nọ ở Philippin. Trong xưởng có 1000 công nhân nhưng họ không hề liên lạc với nhau và sống tình huynh đệ chút nào cả. Tôi quản trị cái xí nghiệp này, nhưng cũng chẳng có mối dây thân hữu gì với họ. Tôi đối xử với họ như đối xử với nô lệ, vì thế tôi bị họ ghét cay, ghét đắng.

"Nhưng từ ngày tôi tập sống Lời Chúa, tập chia sẻ kinh nghiệm sống, biết kiểm điểm mọi sự dưới ánh sáng Tin Mừng, đời tôi biến đối rõ ràng. Tôi nhìn thấy Chúa trong những người công nhân, và do đấy muốn bắc một nhịp cầu thông cảm giữa họ với nhau và giữa họ với tôi, muốn yêu Chúa Giêsu nơi mỗi người trong họ. Nhưng thoạt đầu không phải là dễ! Vì ghét tôi, họ cho tôi là có ý đồ xấu: sợ đình công, gây cảm tình cá nhân, thu phục lòng nhân viên để dễ bề dò xét. Họ hoài nghi tôi không thành thật với họ; nhưng tôi đã kiên nhẫn, và sau hết đã thành công.

"Giờ đây, mỗi sáng tôi không còn cảm thấy chán ngấy khi bước chân vào xí nghiệp nữa, vì bầu khí đã thay đổi hẳn trong sự liên lạc giữa công nhân với nhau và với quản trị viên. Ðặc biệt nhất là một sáng kia, có một công nhân đến chào thăm ông Giám đốc, một chuyện chưa bao giờ xảy ra trước đó! Ông Giám đốc hỏi: "Tại sao thế?" Anh công nhân trả lời: "Vì ông đã thấy Chúa Giêsu trong tôi và tôi đã thấy Chúa Giêsu trong ông."

6. "Phải sửa chữa bất công"

* Kiểm điểm rồi con phải làm thế nào? Con hãy khiêm tốn khóc lóc tội mình như Phêrô, con hãy ngồi bên chân Chúa, yêu mến bù lại như Mađalêna, con hãy dốc quyết canh tân như Giakêu, con hãy làm tông đồ hăng say như Phaolô. Tràn đầy hy vọng con tiến lên (ÐHV 904).

Dưới nanh vuốt độc tài Phátxít của Hitler, chính Giáo Hội Công giáo Ðức là nạn nhân trước tiên và kế đến là những người Ðức lương thiện khác. Dầu vậy, sau ngày Ðảng Quốc xã bị triệt hạ, hàng giáo phẩm Ðức đã khiêm tốn cùng nhau kiểm điểm lại quá khứ đau thương cũng như trách nhiệm nặng nề của nước họ trong thế chiến thứ hai vừa qua. Nhân ngày 1 tháng 9 là ngày kỷ niệm đại chiến bùng nổ, hàng Giáo phẩm Ðức đã ra một tuyên bố như sau:

"... Dưới chế độ Quốc xã, nước Ðức của thời ấy đã gây nên một cuộc chiến tranh tiêu diệt 50 triệu người và làm cho vô số người bị thương tích trầm trọng, hoặc phải mất quê hương, gia tài, sản nghiệp.

"Trước sự kiện ấy, chúng tôi trước sau như một, nhất trí với lời tuyên bố của hàng Giám mục Ðức ngày 23.8.1945: "Những điều đã xảy ra trong nội bộ của nước Ðức trước chiến tranh thực là khủng khiếp; những điều này xảy ra trong chiến tranh do nước Ðức gây nên đối với các nước bị xâm lăng cũng rất khủng khiếp. Chúng tôi hối tiếc sầu xa về những sự việc ấy. Nhiều người Ðức, ngay cả trong hàng ngũ chúng tôi, vì bị mê hoặc bởi lý thuyết Quốc xã thâm độc xấu xa, đã hững hờ trước những tội ác phạm đến tự do và nhân vị của con người; lắm người lại có thái độ ủng hộ, dung túng tội ác; có kẻ còn trực tiếp nhúng tay vào tội ác đó nữa".

"Nên sau trận chiến thứ hai, toàn dân Ðức ta đã phấn đấu đến mức tối đa để sửa chữa, để đền bù những bất công đã gây nên, để rút những bài học về sự lầm lạc của chúng ta, bằng cách xây dựng lại cộng đồng của chúng ta và làm cho dân tộc ta hòa mình với cộng đồng các dân tộc khác.

"Chúng tôi xin nhắc lại lời cám ơn đối với những người, tuy đã chịu muôn vàn đau khổ do người Ðức gây ra cho họ trong cuộc thế chiến, thế mà vẫn sẵn lòng tha thứ, hòa giải...

"Chúng tôi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: "Vì sao nước Ðức đã đâm đầu vào một trận chiến tàn khốc đến mức độ ấy". Nhưng không phải vì thế mà chúng ta tránh được một câu hỏi khác: "Trách nhiệm về ai?"

"Chúng ta phải thẳng thắn bác bỏ luận điệu cho rằng là tội chung của dân Ðức, bởi vì nhiều người Ðức đã hy sinh mạng sống và tự do của họ để chống lại chủ nghĩa Quốc xã.

"...Chúng ta cũng đặt vấn đề trách nhiệm của chính Giáo Hội Ðức. Chúng tôi biết rằng có người đổ lỗi cho Giáo Hội. Dĩ nhiên, Giáo Hội Ðức có một phần trách nhiệm. Chúng tôi biết rằng chúng tôi phải phấn đấu liên tục hầu thoát khỏi hậu quả của những sai lạc và lầm lỗi mà thời đại kinh khủng ấy còn để lại. Từ mấy chục năm nay, chúng tôi đã tổ chức nghiên cứu tất cả các tài liệu lịch sử liên quan đến giai đoạn rùng rợn ấy.

"Nhưng không phải chỉ đối với quá khứ, chính đối với hiện tại mà chúng ta dễ đi con đường nguy hiểm là chối bỏ tội lỗi của bản thân chúng ta, kiếm cách tự bào chữa hay trốn tránh. Chính thái độ ấy đưa đến những thỏa hiệp đồng lõa sâu độc hơn và những trách nhiệm nặng nề hơn nữa. Chúng ta phải quyết tâm nhìn nhận trách nhiệm của chúng ta và xưng ra trước mặt Chúa.

"Chúng tôi kêu gọi mọi tín hữu và mọi người thiện chí hãy hiệp ý cùng chúng tôi để cầu nguyện, trong những ngày kỷ niệm đầy đau thương này, cho những nạn nhân của trận đại chiến thứ hai, và cũng cầu nguyện cho những nơi mà nay quyền căn bản của con người bị tước đoạt...."

7. Ðại Hội Giám mục Á châu

* Thấy công cuộc lớn lao, lắm lúc con nghe cám dỗ muốn được sự khuyến khích, được phương tiện của quyền thế để làm việc Chúa kết quả chóng hơn, vinh danh Chúa hơn. Vinh danh Chúa hay sáng danh con?
- Nếu cần phương diện quyền thế, Chúa Giêsu đã dùng rồi.
- Hãy tìm nước trời rồi mọi sự sẽ được ban thêm cho con.
- Chỉ trích kẻ khác, cậy quyền thế để rồi con cũng nương tựa và nô lệ quyền thế sao? (ÐHV 901).

* Phải chăng con sợ người sáng suốt cười con là "điên dại"? Têrêsa Avila, Phanxicô Assiô, Cottolengô, Gioan Boscô... lúc còn sống nhiều người gọi là điên dại, nhưng ngày nay những tên điên dại ấy lại được tôn làm thánh. Hãy tin tưởng và mạnh tiến (ÐHV 902).

* Mọi người đều mang nhiều ước vọng: Sách báo, Trường học, Hội đoàn, Nhà máy. Với sức con, ước vọng lại hoàn ước vọng. Nhưng để ơn Chúa vào trước cái ước vọng ấy, con có những số kỷ lục. Ngàn sách báo, Vạn trường học, Triệu hội đoàn, Tỷ nhà máy. (ÐHV 905).

* Phương tiện của con cũng như các Tông Ðồ:
Thánh Thể: "Thầy ở với con mỗi ngày đến tận thế."
Thánh Linh: "Thầy sẽ sai Ðấng An Ủi đến cho các con."
Mẹ Maria: "Ðây là Mẹ con."
Phúc Âm: "Hãy đi rao giảng Phúc Âm."
Chúa Giêsu đã trao cho con, con cho là ít sao? Thế gian có gì sánh được không? (ÐHV 906).

Dưới sự chủ tọa của Ðức Phaolô VI, từ 23-29 tháng 11 năm 1970 tại Manila, 250 vị Hồng Y, Tổng Giám mục, Giám mục khắp lục địa Á châu đã họp và thảo luận bảy đề tài liên quan đến Á châu, một lục địa mà dân số đông gần bằng hai phần ba nhân loại, một lục địa của những người trẻ: gần 60% dân số dưới 25 tuổi, một lục địa của nhiều nền văn hóa, tôn giáo, lịch sử và truyền thống cổ xưa khác nhau, một lục địa đang bừng tỉnh, đang viết nên lịch sự thời đại sắp đến cho nhân loại.

Sau khi nghe những bản tham luận do đại diện hàng giáo phẩm mỗi nước đọc, các Giám mục đã trao đổi, thảo luận và cuối cùng đã cùng nhau soạn thảo và bỏ phiếu từng số bản tuyên ngôn quyết nghị, trong đó, với những lời lẽ rất thắm thiết và chân thành, các Giám mục đã khiêm tốn kiểm điểm lại quá trình của sinh hoạt trong mỗi địa phương mình để tiến lên, dấn thân hoàn thành những bổn phận cụ thể của giai đoạn lịch sử sắp đến. Nhiều giáo sĩ, tu sĩ ngày ngày đã và đang đọc bản quyết nghị ấy để suy niệm và cầu nguyện như của chính bản thân mình. Chúng ta cũng hãy ghi lại một vài số trong bản quyết nghị ấy:

Số 16.

"Trong quá khứ, tạ ơn Chúa, chúng tôi đã cố gắng sống trung thành với sự đòi hỏi phục vụ, ngay cả với giá máu tử đạo: nhiều người đi trước chúng tôi đã giúp cho các quốc gia chúng tôi tiến bộ, nhờ trường học và nhà thương, nhiều hình thức phục vụ cộng đồng và các công cuộc từ thiện. Phần đóng góp của họ để phát triển văn hóa và tinh thần không phải là không đáng kể.

Số 17.

"Tuy nhiên, chúng tôi cũng phải lấy làm tiếc mà nhìn nhận rằng chúng tôi cũng đã thiếu sót. Chúng tôi đã chỉ bảo về những quyền lợi hẹp hòi và "riêng tư". Chúng tôi đáng lẽ phải tỏ ra cảm thương và lo lắng hơn cho người nghèo và phải lên tiếng một cách mạnh mẽ hơn cho công bình và cho công cuộc bảo vệ nhân quyền. Chúng tôi đã không thể hiện một đời sống Kitô hữu, và không làm cho Hội Thánh được nhập thể trong những đường lối và mẫu mực của mỗi nền văn hóa riêng của chúng tôi, và do đó đã làm cho Hội Thánh trở thành xa lạ trong quốc gia của chúng tôi. Chúng tôi đã không cố gắng tìm hiểu, giao hòa và cộng tác với những người anh em của chúng tôi thuộc các Giáo Hội Kitô giáo khác và thuộc những tín ngưỡng khác.

Số 18.

"Trước mặt Chúa Kitô và những anh em chúng tôi, chúng tôi hết lòng thành khẩn dấn thân chịu trách nhiệm "về tất cả những gì liên quan đến nhân phẩm con người". Bởi quả thực là sai lạc nếu vì chúng ta dấn thân với Chúa Kitô mà chúng ta quay bỏ những nhiệm vụ và công việc trần thế. Trái lại, lòng tin, lòng trông cậy và tình mến Chúa Kitô thúc đẩy chúng ta phục vụ anh em mình vì biết rằng như Chúa Kitô đã hy sinh mạng sống vì chúng ta, thì chúng ta cũng phải hy sinh mạng sống cho anh em chúng ta. (Tin thư cho nhân loại của các Nghị phụ Công đồng Vatican II, 20.10.1962).

Những bổn phận cụ thể.

Số 19:

"Trước hết, chúng ta nhất quyết thực sự phải là "Giáo Hội của người nghèo". Nếu chúng ta nhất quyết và đứng về phía những đám đông của lục địa Á châu thì chúng ta phải chia sẻ phần nào sự nghèo khổ của họ trong lối sống cụ thể của chúng ta. Hội Thánh không thể dựng nên những hải đảo trù phú trong một Ðại dương nghèo đói khốn khố. Chính đời sống tu của chúng ta phải làm chứng cho tinh thần thanh bần của Tin Mừng. Và mọi người, dù đơn hèn và nghèo khổ đến đâu, cũng sẽ không thấy khó khăn khi đến với chúng ta những người anh em của họ.

Số 20:

"Chúng tôi nhất quyết lấy can đảm mà lên tiếng bênh vực quyền lợi của những người bị thiệt thòi và có thể chống lại mọi hình thức bất công và bất cứ từ đâu đến. Chúng tôi sẽ không tự bó tay bằng cách thỏa hiệp và cấu kết với những người giàu có thế lực trong những quốc gia chúng tôi.

Số23:

"Trên lục địa gồm những người trẻ này, chúng tôi quyết trở thành "Giáo Hội của giới trẻ"! Trong giới trẻ và cho giới trẻ, chúng tôi muốn là một Giáo Hội được giới trẻ xem như xứng đáng với lòng ngưỡng mộ và ước vọng của họ. Một Giáo Hội tìm hiểu đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của con người trong xã hội hiện đại. Một Giáo Hội không "chế định trên thế giới và thể hiện hằng ngày bằng hành động, bằng xác tín của lòng tin và bằng sự thôi thúc của lòng mến. Chúng tôi biết đó là Giáo Hội mà giới trẻ đang tìm. Và với sự can đảm mà Thiên Chúa sẽ ban để nâng đỡ sự yếu đuối của chúng tôi, chúng tôi sẽ đáp ứng đòi hỏi đó."

Sau Ðại Hội, các Giám mục đã bắt tay thực hiện ngay một số việc cụ thể: bầu một Ban Thường Vụ của Hội Ðồng Giám mục Á châu, trong đó có mấy ủy ban chính sau đây nhằm nghiên cứu các vấn đề sôi bỏng nhất của khu vực này:

1- Ủy Ban Phát triển (Á châu là một thế giới của người nghèo).
2- Ủy Ban Phục vụ giới trẻ (Á châu là một thế giới đông người nhất).
3- Ủy Ban Nghiên cứu Tông đồ giáo dân (Thời đại của giáo dân).

(Còn tiếp)

Tác giả: PX Nguyễn Văn Thuận

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập564
  • Hôm nay138,357
  • Tháng hiện tại138,357
  • Tổng lượt truy cập91,185,531
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây