Banner giua trang

Chúa nhật 3 Mùa Chay. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 14/03/2017 07:01 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Chủ đề chính của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa nhật III và IV Mùa Chay là Bí Tích Rửa Tội: các Bài Đọc được chọn lựa nhằm chuẩn bị cho tân tòng đón nhận Bí Tích Rửa Tội vào đêm vọng Phục Sinh. Như vậy, vào Chúa Nhật III Mùa Chay nầy,...
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY

 
Chủ đề chính của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa nhật III và IV Mùa Chay là Bí Tích Rửa Tội: các Bài Đọc được chọn lựa nhằm chuẩn bị cho tân tòng đón nhận Bí Tích Rửa Tội vào đêm vọng Phục Sinh. Như vậy, vào Chúa Nhật III Mùa Chay nầy, chủ đề nổi bật là  “nước hằng sống”: nguồn ơn cứu độ.
 
Xh 17: 3-7
 
Suốt cuộc hành trình trong hoang địa, dân Do thái phải chịu cảnh khát nước. Thiên Chúa đã ban cho họ nước mát trong tuôn trào từ tảng đá. Qua đó, Thiên Chúa tỏ cho dân Ngài biết rằng Ngài vừa Đá Tảng vừa Nguồn Mạch luôn luôn tuôn trào sự sống và ơn cứu độ.
 
Rm 5: 1-2; 5-8
 
Thánh Phao-lô nói cho Giáo Đoàn Rô-ma biết rằng chính nhờ Đức Tin mà họ trở nên công chính và hưởng được niềm hy vọng lớn lao, đó là một ngày kia sẽ được dự phần vào vinh quang của chính Thiên Chúa. Đức cậy nầy có một nền tảng vững chắc bởi vì nó bám rễ sâu vào tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi.
 
Ga 4: 5-42
 
Tin Mừng tường thuật cuộc đối thoại của Đức Giê-su với người phụ nữ Sa-ma-ri ở bên bờ giếng Gia-cóp. Đức Giê-su tự đồng hóa mình với nguồn nước hằng sống đem lại sự sống đời đời.
 
BÀI ĐỌC I (Xh 17: 3-7)
 
Nhan đề của sách Xuất Hành tự nó nói lên nội dung của sách: “cuộc xuất hành khỏi đất Ai-cập”. Chương 17 nầy tường thuật một loạt những thử thách mà dân Do thái đã trải qua trong suốt cuộc hành trình băng qua hoang địa: cái đói, cái khát, chiến tranh, từ đó họ kêu trách, gây gỗ và nổi loạn.
 
Đoạn văn được trích dẫn hôm nay tường thuật dân Do thái trải qua cuộc thử thách về cái khát, và từ đó nẩy sinh sự nghi nan ngờ vực về sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài. Đối lại, Thiên Chúa đáp trả nhu cầu của dân. Vì thế biến cố nầy bao gồm hai bài học.
 
1. Qua việc ban nước hằng sống, Thiên Chúa tỏ mình ra là Đấng cứu độ:
 
“Ông Mô-sê đập cây gậy vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy tràn ra cho dân uống”. Đây không là một phép lạ từ hư không (ex nihilo). Chính Đức Giê-su cũng sẽ không thực hiện bất kỳ phép lạ từ hư không nào. Ngài luôn luôn sử dụng chất liệu tự nhiên: từ nước ở Ca-na, Ngài biến thành rượu; từ năm chiếc bánh và hai con cá Ngài nuôi một đám đông dân chúng. Cũng vậy trong trường hợp của ông Mô-sê, từ đá tảng Thiên Chúa cho nước mát trong chảy tràn ra cho dân chúng uống.
 
Cây gậy mà ông Mô-sê sử dụng là cây gậy mà Thiên Chúa đã ban cho ông để chiến thắng các cây gậy của các nhà phù thủy của Pha-ra-ô (Xh 7: 11-12). Việc cây gậy thần hay chiếc đũa thần làm nên những điềm thiêng dấu lạ chẳng có gì đáng ngạc nhiên đối với chuyện tích nhân gian, nhưng điều quan trọng chính là Thiên Chúa, qua người đại diện của Ngài, cho thấy quyền năng của Ngài hơn các quyền năng của các vị thần linh Ai-cập, qua các vị pháp sư này. Quả thật, Cựu Ước còn giữ lại những chuyện tích dân gian về một cây gậy, một chiếc đũa, một nhành lá, một cây lao, thậm chí những mũi tên, điều nầy chứng nhận tính cổ xưa của những văn bản nầy (x. Ds 17: 16; Gs 8: 18-19; 2V 13: 18-19, vân vân). Thật ý nghĩa biết bao ở Ds 20: 7-8, câu chuyện nầy được đọc lại, và thay vì cây gậy của ông Mô-sê, chính là “lời của ông” khiến nước phun ra từ tảng đá: “Đức Chúa phán với ông Mô-sê: ‘Hãy cầm lấy cây gậy, và cùng với A-ha-ron, anh ngươi, triệu tập cộng đồng lại. Trước mặt chúng, các ngươi sẽ nói với tảng đá và chúng sẽ cho nước…”.
 
Ân ban nước trong sa mạc Rơ-phi-đim được ghi trong sách Xuất Hành nầy là một hành động cứu độ. Thiên Chúa ban ơn cứu độ. Vì thế, trong Kinh Thánh, “nước” không chỉ là một yếu tố tự nhiên đảm bảo sự sinh tồn, nhưng còn hổ trợ cho một chủ đề huyền nhiệm và biểu tượng: hình ảnh về sự sống tâm linh:
 
“Hai tay cầu Chúa gio lên,
hồn con khát Chúa như miền đất khô” (Tv 143: 6)
 
hay:
 
 “Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong,
hồn con cũng trong mong được gần Ngài, lạy Chúa” (Tv 42: 2).
 
Tảng đá phun trào nước mát trong cho dân chúng uống ở Rơ-phi-lim mặc lấy cũng một ý nghĩa nầy. Truyền thống nầy vang dội trong thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô: Cha ông chúng ta “cùng uống một thức uống linh thiêng, vì họ cùng uống nước chảy ra từ tảng đá linh thiêng vẫn đi theo họ. Tảng đá ấy chính là Đức Kitô” (1Cr 10: 4).
 
2. Nghi ngờ trong thử thách.
 
Ông Mô-sê đã phải hứng chịu cơn thịnh nộ của dân chúng. Họ sợ hãi trước một cái chết thảm khốc: “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai cập để làm gì? Có phải để cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không?”. Đoạn, sự nghi nan ngờ vực trở thành lời nói phạm thượng: “Có Chúa ở giữa chúng tôi hay không?”.
 
Trước cuộc nổi loạn của dân chúng, ông Mô-sê khiếp sợ kêu lên cùng Chúa: “Tôi Phải làm gì cho dân nầy bây giờ? Chỉ còn chút nữa là họ lấy đá ném chết tôi!”. Ông Mô-sê chấp nhận đánh cược niềm tin của mình; Thiên Chúa phục hồi uy tín cho ông trước mắt mọi người khi cho ông thực hiện ân ban của Ngài trước sự chứng kiến của một số kỳ mục mà ông dẫn theo đến tảng đá.
 
Chính nhờ niềm tin mà ông Mô-sê đã vượt qua cơn nguy khốn này. Ông tin rằng không gì mà Thiên Chúa không thể làm được. Hơn nữa, ông đặt trọn niềm tin tưởng vào lòng nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng, bất chấp những cằn nhằn gây gỗ của dân Ngài, đã không từ chối ra tay cứu giúp họ. Đức tin không thể tương hợp với sự tuyệt vọng.
 
Việc dân Do thái thách thức và cằn nhằn gây gỗ ở Ma-xa và Mê-ri-ba được sách Đệ Nhị Luật nêu lên: “Anh em đừng thách thức Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, như anh em đã thách thức ở Ma-xa” (Đnl 6: 16). Khi chịu thử thách trong hoang địa, Đức Giê-su đáp lại cơn cám dỗ thứ hai của Xa-tan cũng bằng chính những lời nầy: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.” (Mt 4: 7).
 
BÀI ĐỌC II (Rm 5: 1-2, 5-8)
 
Thần học về ơn công chính hóa là phần cốt yếu của thư gởi tín hữu Rô-ma. Trong phần đạo lý (1: 16-11: 36), thánh Phao-lô nói cho chúng ta rằng chúng ta được trở nên công chính nhờ tin vào Đức Kitô. Phần đạo lý nầy được khai triển thành hai phần: phần thứ nhất (1: 18-4: 25) trong đó thánh Phao-lô chứng minh rằng ơn công chính hóa đạt được nhờ đức tin và phần thứ hai (5: 1-11: 36) trong đó thánh nhân sẽ bàn đến những hoa trái mà ơn công chính hóa sản sinh ở nơi những ai được trở nên công chính.
Đoạn thư mà chúng ta trích đọc hôm nay là phần đầu chương 5, chương đóng chức năng như bản lề của phần đạo lý này. Trong các chương trước, thánh Phao-lô đã trình bày cho chúng ta biết rằng chúng ta được cứu độ và trở nên công chính nhờ đức tin chứ không nhờ công này việc nọ. Bây giờ thánh nhân tiếp tục giải thích những hoa trái của đời sống mới. Hoa quả đầu tiên là “sống hòa hợp với Thiên Chúa”“niềm hy vọng vào vinh quang tương lai”.

1. Sống hòa hợp với Thiên Chúa (5: 1-2):
 
Được trở nên công chính, con người lại có thể sống trong mối thân tình với Thiên Chúa. Tội lỗi kéo theo sự thù địch giữa con người với Thiên Chúa, trong khi ơn công chính hóa chấm dứt tình trạng thù địch nầy. Con người sống trong tình trạng giao hòa với Đấng Tạo Hóa của mình. Những mối liên hệ giữa thụ tạo và Tạo Hóa được bình thường hóa. Đức Giê-su Ki-tô là Đấng trung gian của cuộc sống hoà hợp nầy. Để nhắc lại vai trò trung gian của Đức Giê-su, thánh Phao-lô cậy nhờ đến hình ảnh tế tự. Như một người tiến vào cung thánh nhờ chu toàn vài điều kiện, cũng vậy, hiện nay Đức Giê-su, Đấng cứu độ chúng ta, mở lối cho chúng ta vào để chúng ta được vui hưởng ân sủng của Thiên Chúa.
 
Vì thế, ân sủng không gì khác hơn là hành động của Thiên Chúa, nhờ đó con người được thụ hưởng ân nầy đến ân khác. Con người chỉ có thể tự hào và hoan hỉ vì những gì Thiên Chúa đã làm cho mình. Cuộc sống hòa hợp với Thiên Chúa mà con người được thụ hưởng hôm nay bảo đảm cho họ rằng ngày mai họ sẽ dự phần vào vinh quang Thiên Chúa, vào chính cuộc sống của Thiên Chúa. Ân ban bình an là tham dự trước vinh quang thiên quốc, ân ban nầy là bảo chứng cho cuộc sống thần linh mà một ngày kia họ sẽ thụ hưởng viên mãn.
 
2. Niềm hy vọng vào vinh quang tương lai (5: 5-8):
 
Thánh Phao-lô nêu lên hai lý do để khẳng định rằng niềm hy vọng vào vinh quang tương lai là có cơ sở vững chắc:
 
A-Ân ban Thánh Thần (5: 3-5):
 
Được công chính hóa, chúng ta không chỉ vui mừng vì đang được sống hòa hợp với Thiên Chúa và hy vọng về phần thưởng ngày mai, cho dù hiện nay phải gặp thấy niềm hoan hỉ trong những gian truân thử thách, vì “ai quen gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là người trung kiên, thì có quyền trông cậy” (5: 4). Điều quan trọng nhất chính là Thiên Chúa đang hoạt động để dẫn đưa chúng ta đến cứu cánh tối hậu mà Ngài dành sẵn cho chúng ta. “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta”.
 
B-Hiến dâng Con Một của Người (5: 6-8):
 
Thánh Phao-lô nêu ra một bằng chứng khác để khẳng định rằng niềm cậy trông của chúng ta là có cơ sở vững chắc, đó là Đức Giê-su đã chết để cứu độ chúng ta. Tình yêu nầy còn lớn lao hơn, bởi vì thật khó gặp thấy một ai sẵn sàng hiến dâng mạng sống mình cho một người lương thiện, ấy vậy, Đức Giê-su đã chết cho chúng ta trong khi chúng ta còn là hạng phản nghịch cùng Thiên Chúa. Như vậy, không chỉ Chúa Con, nhưng cũng Chúa Cha đã bày tỏ tình yêu của mình trong cái chết của Đức Ki-tô.
 
TIN MỪNG (Ga 4: 5-42)
 
Trên cuộc hành trình từ Giu-đê trở về miền Ga-li-lê, Đức Giê-su băng qua Sa-ma-ri. Đây là lộ trình ngắn nhất, nhưng không là lộ trình duy nhất, bởi vì, để tránh bất kỳ cuộc tiếp xúc thù địch với dân Sa-ma-ri, người Do thái thường đi vòng quanh xứ Sa-ma-ri băng qua thung lũng sông Gio-đan. Quả thật, có một mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc nầy như được kể ra ở 2V 17: 6, 24. Vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, sách Huấn ca viết:
 
“Hồn tôi giận ghét hai dân tộc,
còn dân thứ ba chẳng phải là một dân:
Đó là bọn người sống trên núi Xê-ia,
rồi người Phi-li-tinh,
và đám dân ngu xuẩn ở vùng Xi-khem.” (Hc 50: 25-26).
 
Vào thời Đức Giê-su, ai bị gọi là “người Sa-ma-ri”, đó thật sự là một sự nhục mạ trầm trọng, tương tự như bị gọi là “kẻ bị quỷ ám” (Ga 8: 48). Khi nào Đức Giê-su đề cao người Sa-ma-ri, ý định khẩu chiến chống lại người Do thái được bày tỏ rất rõ nét.
 
Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, “Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng”. Thời gian gặp gỡ và đối thoại được xác định: “Lúc đó vào khoảng giờ thứ  sáu”, tức khoảng 12 giờ trưa, đó là thời điểm nóng nhất trong ngày, vì thế nước mát trong sẽ tăng giá trị hơn.
 
Phần mở đầu (4: 5-6) này cho chúng ta biết cuộc hành trình vất vả của Đức Giê-su, thời gian và nơi chốn trong đó diễn ra cuộc đối thoại giữa Ngài với người phụ nữ xứ Sa-ma-ri (4: 7-26), cuộc đối thoại giữa Ngài với các môn đệ Ngài (27-38) và sau cùng cuộc gặp gỡ của Ngài với dân Sa-ma-ri (4: 39-42).
 
1. Cuộc đối thoại của Đức Giê-su với người phụ nữ Sa-ma-ri (4: 7-26)
 
Trong khi các môn đệ vào thành để mua thức ăn để Thầy ngồi lại một mình vừa đói vừa khát bên bờ giếng Gia-cóp, thì có một người phụ nữ xứ Sa-ma-ri đến múc nước. Vì thế, Ngài ngỏ lời xin chị: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (4: 7), nhưng gặp phải phản ứng không mấy thuận lợi từ phía người phụ nữ qua câu trả lời của chị: “Ông là người Do thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao?” (4: 9). Cuộc đối thoại khởi đi từ đó. Phải nhấn mạnh ở đây rằng cuộc đối thoại phát xuất từ sáng kiến của Đức Giê-su. Chính Ngài là người đầu tiên ngỏ lời bắt chuyện với người phụ nữ.
 
Trong cuộc đối thoại, những trao đổi giữa Đức Giê-su và người phụ nữ đề cập đến hai chủ đề quan trọng: nước hằng sống (4: 10-14) và việc thờ phượng đích thật (4: 20-26). Chen vào giữa hai chủ đề nầy là một cuộc trao đổi ngắn về đời tư của người phụ nữ (4: 15-19) như một nhịp cầu nối giữa hai chủ đề này.
 
A-Nước hằng sống (4: 10-14):
 
Trong câu trả lời của mình, người phụ nữ nêu lên hai lý do để từ chối nói chuyện với Đức Giê-su: trước hết, mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc này như lời giải thích của người kể chuyện: “Quả thế, người Do thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri” (4: 9); thứ nữa, phong tục tập quán vào thời ấy không cho phép người phụ nữ được nói chuyện với một người đàn ông, nhất ở nơi hoang vắng.
 
Nhưng Đức Giê-su muốn phá đổ bức tường ngăn cách giữa hai dân tộc này cũng như giữa nam và nữ, khi lợi dụng biểu tượng phong phú của “nước hằng sống” để mở ra cuộc đối thoại với chị: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người đang nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống” (4: 10). Trong câu trả lời của Ngài, Đức Giê-su hé mở cho người phụ nữ hiểu rằng Ngài là người được ký thác một bí nhiệm mà con người không biết. Lúc đó, thật là mâu thuẫn đến ngạc nhiên, người khách lạ mệt mỏi, khát nước, xin chị một chút nước uống để giải khát lại là người đề nghị cho chị nước hằng sống!
 
 Đối với dân Do thái, sống trong môi trường bị sa mạc bao quanh, nước là yếu tố cần thiết cho sự sống, sự phú túc; vì thế, chẳng có gì lạ khi dân Cựu Ước sử dụng một biểu tượng rất đẹp: “nước hằng sống”, kiểu nói rất phổ biển để chỉ nước mát trong chảy ra tận nguồn, để tuyên xưng niềm tin vào Đức Chúa, Đấng ban sự sống (Gr 2 : 13; 17 : 13). Đối với truyền thống kinh sư và minh triết, ân huệ lớn nhất mà Đức Chúa ban là Lề Luật đem lại sự sống, ơn cứu độ và khôn ngoan, lúc đó, “nước hằng sống” biểu tượng Lề Luật, Mặc Khải và Lời Thiên Chúa (Cn 13 : 14; 16 : 22; 18 : 4; Tv 1 : 3; x. Ga 17 : 7-8). Đối với truyền thống ngôn sứ, “nước hằng sống” là biểu tượng những ân ban của thời Mê-si-a (Dcr 14 : 8; Ed 47 : 1-12; Is 5 : 4; 12 : 3).
 
Đức Giê-su lợi dụng biểu tượng phong phú về “nước hằng sống” này để mời gọi người phụ nữ khám phá căn tính của Đấng không chỉ là ân huệ Thiên Chúa ban, nhưng còn là Thiên Chúa đích thân, Đấng đến từ trên cao (Ga 3: 3), từ trời (Ga 3: 31), và mời gọi chị tiếp nhận lời của Ngài, lời đến từ nguồn mạch sự sống. Với câu trả lời nầy, vai trò của Đức Giê-su và của người phụ nữ đảo ngược: giếng ban nước uống vẫn ở đó, nhưng nhường chỗ cho sự hiện diện của Đức Giê-su, Đấng ban “nước hằng sống”, nghĩa là lời mặc khải đem lại sự sống. Cặp đối lập: “Ông, người Do thái”“tôi, người phụ nữ Sa-ma-ri” vẫn còn đó, nhưng bị xóa nhòa bởi “ân huệ đích thân của Thiên Chúa,” cũng chính “Đấng ban cho.” Câu trả lời của Đức Giê-su ở thể điều kiện, nghĩa là lời đề nghị, hay lời mời gọi. Nếu chị chấp nhận điều kiện, lời hứa sẽ trở thành thực tại.

Tuy nhiên, người phụ nữ chưa nắm bắt thực tại tinh thần của biểu tượng, vì thế chị vẫn cứ bám vào vẻ bên ngoài của người khách lạ nầy và vào thực tại vật chất của nước giếng nầy : “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính người đã uống giếng nước này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy” (4 : 11-12). Đây là phương pháp “ngộ nhận” của Tin Mừng Gioan, được dùng hai lần: trong cuộc đối thoại với người phụ nữ về “nước hằng sống”, và trong cuộc đối thoại với các môn đệ về “lương thực đích thật”. Điều này không nhằm nhấn mạnh sự chậm hiểu của người đối thoại, nhưng giúp cho Chúa Giê-su khai triển sâu xa hơn điều Ngài muốn người đối thoại hiểu.
 
Vì thế, Chúa Giê-su xác định rõ ra sự khác biệt giữa nước mà Gia-cóp ban cho và nước mà Ngài ban cho : “Ai uống nước nầy, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (4 : 13-14). Trong câu 13 nói về nước mà Gia-cóp ban cho, kiểu nói: “Ai uống nước nầy, sẽ lại khát” đã được sách Huấn ca sử dụng: “Ai ăn Ta sẽ còn đói, ai uống Ta sẽ còn khát” (Hc 24: 21) để diễn tả ai đã nếm lời Khôn Ngoan, sẽ ao ước được nếm mãi không thôi. Trong câu 14a nói về nước mà Ngài ban cho, kiểu nói: “Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa” đã được ngôn sứ I-sai-a sử dụng: “Họ sẽ không còn đói và khát nữa” (Is 49: 10-13) để loan báo thời thiên sai và hoàn vũ. Như vậy Đức Giê-su khẳng định rằng nước mà Ngài ban cho không thuộc trật tự vật chất, nhưng thuộc trật tự biểu tượng: Ngài tỏ mình ra như “ân huệ” tuyệt mức mà Thiên Chúa ban cho con người (Ga 3: 16-17). Khi gặp gỡ Ngài, người ta không đơn giản gặp gỡ bậc thầy dạy những lời khôn ngoan xuất phát từ Mặc Khải, nhưng chính nguồn Mặc Khải. Đức Giê-su là hiện thân Mặc Khải (Ga 1: 14). Đó là lý do tại sao Ngài mời người đối thoại hãy tiếp nhận và sở hữu lời Ngài để lời Ngài trở nên nguồn sống đời đời trong lòng của mình: “Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (4 : 14b).
 
B-Đời tư của người phụ nữ (4 : 15-18):
 
Chủ đề “nước hằng sống” xem ra đến hồi kết thúc với lời đáp trả của chị: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước” (4 : 15). Như vậy, với lời đáp trả này, chị chấp nhận một sự hoán chuyển vai trò giữa người xin và người cho như lời đề nghị của Chúa Giê-su ngay từ đầu câu chuyện (3 : 10). Nhưng rõ ràng người phụ nữ này chưa đạt đến niềm tin vào Ngài như Chúa Giê-su muốn, vì thế Ngài muốn câu chuyện được tiếp tục để dẫn chị đi xa hơn nữa. Để thoát khỏi thế bế tắc, Đức Giê-su chứng tỏ cho chị thấy là Ngài biết mọi điều ẩn kín về chị như Ngài đã làm đối với ông Na-tha-na-en. Cho dù đã không đạt được lời tuyên xưng tròn đầy như Na-tha-na-en (1 : 49), chị nhận ra rằng người mới vén mở đời tư của chị phải là một ngôn sứ. Khởi đi từ đó, chị bắt đầu cởi mở tấm lòng mình cho Ngài. Như vậy phân đoạn này đóng vai trò chuyển tiếp giữa chủ đề “nước hằng sống” đi trước và chủ đề “thờ phượng đích thật” theo sau.
 
C-Thờ phượng trong thần khí và sự thật (4: 19-26)
 
Bây giờ, người phụ nữ Sa-ma-ri này mới nhận ra ở nơi người Do thái này là một ngôn sứ : “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ” (4: 19), vì thế chị nêu lên với Ngài một vấn đề then chốt, vấn đề ám ảnh tâm thức tôn giáo của chị: chân lý thuộc về phía nào, về phía tín đồ phụng thờ Thiên Chúa ở trên núi Ga-ri-zim hay về phía tín đồ phụng thờ Ngài ở Giê-ru-sa-lem? Câu trả lời của Chúa Giê-su không là người nầy hay kẻ kia: “Nhưng đến giờ - và chính là lúc nầy – những người thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Chúa Cha theo thần khí và sự thật” (4 : 23).
 
Cụm từ “thần khí và sự thật” theo kiểu nói của Tin Mừng Gioan chữ thứ hai bổ túc nghĩa cho chữ thứ nhất, vì thế phải được hiểu là “Thần Khí sự thật”, tức là Đấng mà Đức Giê-su sẽ nói với các môn đệ trong bữa Tiệc Ly (Ga 14: 17; 15: 26; 16: 13) và là Đấng mà Ngài sẽ hứa ban cho họ sau khi Ngài sống lại (Ga 7 : 37-39 ; 20: 22). Như vậy, thờ phượng đích thật là sự thờ phượng được nuôi dưỡng bằng Mặc Khải của Đức Giê-su dưới tác động của Thần Khí sự thật. Tác động của Thần khí sự thật cốt là làm cho sự thật của Đức Giê-su hiện diện trong chúng ta và giúp chúng ta hiểu biết đích thật về Ngài. Vì thế, thờ phượng đích thật không còn quy chiếu đến một đền thờ do người phàm xây dựng, nhưng đến Mặc Khải của Chúa Giê-su dưới tác động của Chúa Thánh Thần, qua đó Chúa Cha bày tỏ tận mức tình yêu của Ngài cho nhân loại. Đó sẽ là thờ phượng đích thật, nét đặc trưng của thời đại mới.
 
Trên bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, câu trả lời của người phụ nữ: “tôi biết” ở 4 : 25 là lời đáp trả tương ứng với lời đề nghị của Đức Giê-su ngay đầu câu chuyện: “nếu chị biết” ở 4 : 10.  Như vậy cuộc đối thoại khởi đi từ lời mời gọi khám phá chân tính của “Đấng đang nói với chị” (4: 10) và hoàn tất ở nơi việc Ngài tự mặc khải mình ra: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (4: 26).
 
2. Cuộc nói chuyện của Đức Giê-su với các môn đệ (4 : 31-38):
 
Có một cuộc hoán chuyển vai trò của những người đối thoại với Chúa Giê-su. Trước đó, các môn đệ phải đi vào thành mua thức ăn để nhường không gian và thời gian cho người phụ nữ Sa-ma-ri từ thành phố đến múc nước bước vào cuộc đối thoại với Chúa Giê-su. Bây giờ, người phụ nữ Sa-ma-ri ra đi vào thành phố để nhường không gian và thời gian cho các môn đệ từ thành phố trở về bước vào cuộc đối thoại với Thầy.
 
Ở giữa lòng lịch sử niềm tin của dân Sa-ma-ri xảy ra một cuộc đối thoại của Đức Giê-su với các môn đệ của Ngài (4: 31-38), trong đó, Đức Giê-su nói về sứ mạng của Ngài và sứ mạng của các môn đệ Ngài. Cuộc đối thoại nầy là dịp để Đức Giê-su giải thích ý nghĩa không chỉ của cuộc đối thoại với người phụ nữ Sa-ma-ri và của việc dân Sa-ma-ri đến với Ngài, nhưng cũng của sứ mạng Ngài và của sứ mạng của các môn đệ Ngài. Cuộc đối thoại của Đức Giê-su với các môn đệ được dàn dựng như bức tranh bộ đôi: ở tiền cảnh, dân Sa-ma-ri đang trên đường đến với Ngài vì lời loan báo của người phụ nữ, trong khi ở hậu cảnh, Đức Giê-su vẫn ngồi bên bờ giếng và nói với các môn đệ về ý nghĩa của những gì đã và đang xảy ra.
 
A-Lương thực của Đức Giê-su (4: 31-34)
 
Chủ đề “lương thực” là một bước tiến về mầu nhiệm của Đức Giê-su so với chủ đề “nước hằng sống” trước đó. Sau chủ đề cái khát đích thật, đây là chủ đề cái đói đích thật: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (4: 34).
 
Người phụ nữ Sa-ma-ri đã ngộ nhận ý nghĩa “nước hằng sống” mà Đức Giê-su nói với chị như thế nào, thì các môn đệ ngộ nhận ý nghĩa “lương thực” mà Chúa nói với họ cũng như thế khi họ hỏi nhau: “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?” (4: 33). Thực ra, cái đói và cái khát của Đức Giê-su chính là công việc mà Cha Ngài sai Ngài đến để chu toàn.
 
B-Mùa gặt (3: 35-38)
 
Đức Giê-su chỉ cho các môn đệ cánh đồng lúa chung quanh còn bốn tháng nữa sẽ đến mùa gặt để mời gọi họ vươn tầm nhìn cao hơn: đồng lúa chín vàng đang chờ ngày thu hoạch đó chính là dân Sa-ma-ri đang trên đường đến với Ngài.
 
Đoạn, cuộc nói chuyện ngân lên một giọng nói trầm buồn: “Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ” (4: 38) ám chỉ đến các ngôn sứ Cựu Ước và Gioan Tẩy Giả, nhưng nhất là chính Ngài và cuộc Tử Nạn của Ngài. Nhờ sự nhọc mệt vất vả của Ngài, mùa thu hoạch sẽ là ơn cứu độ cho con người. Như vậy, cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô đóng khung toàn bộ câu chuyện lớn lao nầy: cái khát của Ngài bên bờ giếng Gia-cóp loan báo một cái khát khác: “Ta khát” (Ga 19: 28) trên thập giá. Chính vì mùa gặt nầy mà Ngài sẽ sai các môn đệ Ngài đi gặt những gì Ngài gieo bằng cuộc sống vắt cạn của mình.
 
3. Cuộc gặp gỡ của dân Sa-ma-ri với Đức Giê-su (4 : 39-42):
 
Lời chứng của người phụ nữ làm xôn xao dân Sa-ma-ri và thúc dục họ lên đường đến với Đức Giê-su, đích thân gặp gỡ Ngài, xin Ngài ở lại với họ để được lắng nghe Lời Ngài, và Ngài đã chấp nhận ở lại với họ hai ngày. Dù khởi điểm niềm tin của họ đến từ lời chứng của người phụ nữ, tuy nhiên niềm tin của họ không dừng lại nhưng vượt qua lời chứng này: Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian (4: 42).  Do đâu mà dân Sa-ma-ri đạt đến một niềm tin sâu xa như vậy, nếu không phải là họ đã lợi dụng hai ngày Đức Giê-su ở lại với họ để đích gặp gỡ và đối thoại với Ngài? Nếu thế, đức tin của họ không còn dựa trên lời chứng của người phụ nữ, nhưng trên kinh nghiệm cá nhân của mình trong cuộc gặp gỡ và đối thoại với Đức Ki-tô. Lúc đó, sự kiện Dân Sa-am-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày (4: 40) phải là trọng tâm của câu chuyện giữa Chúa Giê-su và dân Sa-ma-ri. Thật kỳ diệu, Đấng cứu độ xuất thân từ dân Do thái được người Sa-ma-ri đón tiếp một cách nồng hậu và được tuyên xưng là Đấng cứu độ trần gian, tức là Đấng vượt lên trên tất cả mọi xung đột chủng tộc và tôn giáo. Sự nghịch lý này vang dội ngay ở đầu Tin Mừng:
 
Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
Còn những ai đón nhận,
tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ
quyền trở thành con Thiên Chúa (Ga 1 : 11-12).
 
Thánh ký kết thúc câu chuyện của mình bằng cách gợi lên tước hiệu mà những người Sa-ma-ri đầu tiên tin vào Đức Giê-su ban cho Ngài: Đấng Cứu Độ trần gian. Quả thật, thánh Gio-an là thánh ký duy nhất sử dụng tước hiệu nầy. Toàn bộ câu chuyện nhận được ý nghĩa sâu xa của nó: loan báo chiều kích hoàn vũ của ơn cứu độ.
 
Vài nhà chú giải vạch ra một sự đối xứng đáng ngạc nhiên giữa bài tường thuật sứ vụ của Đức Giê-su ở Sa-ma-ri và bài trình thuật cuộc Tử Nạn của Ngài trong Tin Mừng Gioan. Quả thật, cả hai đều kể ra thân xác mệt mỏi của Ngài, cơn khát của Ngài và sự hoàn tất công việc của Ngài. Từ đó, họ nghĩ rằng có một mối liên hệ giữa công trình truyền giáo mà Đức Giê-su thực hiện ở Sa-ma-ri, ở đó, Ngài được tuyên xưng là “Đấng Cứu Độ trần gian” và công trình cứu độ thế giới mà Ngài thực hiện trên thập giá; nghĩa là giữa thời gian mặc khải Đấng cứu độ trần gian và thời gian thực hiện ơn cứu độ cho trần gian. Lúc đó, “giờ thứ sáu” ở trong câu chuyện nầy ám chỉ đến “giờ thứ sáu” trong 19: 14, giờ siêu thăng, giờ ban Thánh Thần, giờ sinh ra Giáo Hội.  
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 11/2018


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/11/2018 

- ”The Kingdom of God is in your midst”; It is not spectacular. It grows in silence, in hiding, through witness, prayer, and the attraction of the Spirit.
“Nước Thiên Chúa ở giữa các bạn”. Nước Chúa không phô trương. Nước Chúa tăng trưởng trong thinh lặng, âm thầm, qua những chứng tá, lời cầu nguyện và sự dẫn dụ của Chúa Thánh Thần.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/11/2018 

- Jesus is not pleased with a “percentage of love”: we cannot love him at twenty, fifty or sixty percent. It’s all or nothing.
Chúa Giêsu không bằng lòng một “tỷ lệ yêu thương”: chúng ta không thể yêu Ngài hai mươi, năm mươi hoặc sáu mươi phần trăm. Hoặc là tất cả hoặc không chút nào cả.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/11/2018 

- The first step to knowing Jesus Christ is to recognize our own poverty and our need to be saved.
Để nhận biết Đức Kitô trước tiên phải nhìn nhận sự khốn cùng của mình và nhu cầu được cứu thoát.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/11/2018 

- Let us pray today for bishops so that they may always be what Saint Paul calls them to be: humble, gentle, servants.
Hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện cho các giám mục để các ngài trở nên như thánh Phaolô mời gọi: khiêm tốn, hiền lành và phục vụ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/11/2018 

- Sunday is a holy day for us, sanctified by the celebration of the Eucharist, which is the living presence of the Lord among us and for us.
Ngày Chúa nhật là thánh nhật của chúng ta, được thánh hóa nhờ việc cử hành bí tích Thánh Thể, sự hiện diện sống động của Chúa giữa chúng ta và cho chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 9/11/2018 

- Where there is sin there is also the merciful Lord God who forgives if you go to Him.
Nơi nào có tội lỗi, nơi đó cũng có Thiên Chúa đầy lòng thương xót thứ tha nếu bạn đến với Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 3/11/2018 

- God is faithful and our hope in Him is like a fixed anchor in heaven.
Thiên Chúa là Đấng trung tín và việc chúng ta hy vọng vào Ngài cũng giống như chiếc neo bám chặt vào thiên đàng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 31/10/2018 

- We need smiling Christians, not because they take things lightly, but because they are filled with the joy of God, because they believe in love and live to serve.
Chúng ta cần những Kitô hữu biết cười, không phải vì họ xem nhẹ mọi chuyện, nhưng vì họ đầy niềm vui của Thiên Chúa, bởi lẽ họ tin vào tình yêu và sống để phục vụ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/10/2018 

- If you want to listen to the Lord’s voice, set out on the journey, live out your search. The Lord speaks to those who search.
Nếu bạn muốn nghe tiếng Chúa, hãy lên đường, hãy tìm kiếm. Chúa nói với những ai đang tìm kiếm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/10/2018 

- We are called to listen to what the Spirit tells us. The Holy Spirit is always something new.
Chúng ta được mời gọi lắng nghe Chúa Thánh Thần nói với chúng ta. Chúa Thánh Thần luôn là điều mới mẻ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/10/2018 

- Saint Paul gives us very practical advice about preserving unity: “Bear with one another in love”.
Thánh Phaolô cho chúng ta lời khuyên rất thực tiễn để duy trì sự hiệp nhất: “Hãy chịu đựng nhau trong đức ái”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/10/2018 

- It would be wonderful if, every day, at some moment, we could say: “Lord, let me know you and let me know myself”.
Thật đẹp nếu trong khoảnh khắc nào đó của từng ngày sống, chúng ta có thể nói: “Lạy Chúa xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/10/2018 

- The company of the saints helps us to recognize that God never abandons us, so that we can live and bear witness to hope on this earth.
Xin cộng đoàn các thánh giúp chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, để chúng ta có thể sống và làm chứng niềm hy vọng giữa trần thế.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/10/2018 

- The leaven of Christians is the Holy Spirit that allows us to grow amidst the difficulties of the journey, but always with hope.
Chất men của Kitô hữu là Chúa Thánh Thần, Đấng làm chúng ta lớn lên giữa những khó khăn của cuộc đời, nhưng luôn trong hy vọng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/10/2018 

- When we listen to the Word of God, we obtain the courage and perseverance to offer the best of ourselves to others.
Khi lắng nghe Lời Chúa, chúng ta tìm được sự can đảm và kiên trì để trao ban điều tốt nhất của chúng ta cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/10/2018 

- Praying is not like using a magic wand. Prayer requires commitment, constancy and determination.
Cầu nguyện không phải là sử dụng chiếc đũa thần. Cầu nguyện là phải dấn thân, kiên trì và quyết tâm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/10/2018 

- Spend time before the Lord in contemplation, and do everything possible for the Lord at the service of others. Contemplation and service: this is our path of life.
Dùng thì giờ suy gẫm trước mặt Chúa và làm cho Chúa tất cả khi phục vụ người khác. Chiêm niệm và hành động: đó là con đường của đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/10/2018 

- We ask the Lord for the gifts of dialogue and patience, of the closeness and welcome that loves, pardons and doesn’t condemn.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn biết đối thoại và kiên nhẫn, gần gũi và tiếp nhận trong yêu thương, tha thứ và không kết án.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/10/2018 

- We fly to Thy protection, O Holy Mother of God. Do not despise our petitions in our necessities, but deliver us always from all dangers, O Glorious and Blessed Virgin.
Lạy Mẹ Thiên Chúa, chúng con ẩn náu dưới bóng từ ái của Mẹ. Xin chớ chê bỏ lời con kêu cầu trong cơn khốn khó, nhưng cứu chúng con khỏi mọi hiểm nguy. Lạy Đức Trinh nữ vinh hiển và được chúc phúc.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/9/2018 

- Jesus gave us a simple programme for journeying towards holiness: the commandment of love for God and our neighbor.
Chúa Giêsu đã cho chúng ta một chương trình đơn giản trong hành trình nên thánh: giới răn mến Chúa và yêu người lân cận.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/9/2018 

- Let us pray that programmes for development may predominate in the world, and not those for weapons.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho các nhà hoạch định chính sách biết ưu tiên cho phát triển chứ không phải cho vũ khí.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/9/2018 

- Let us allow the Holy Spirit to clothe us with the weapons of dialogue, understanding, the search for mutual respect and fellowship!
Chúng ta hãy để Chúa Thánh Thần trang bị cho chúng ta những vũ khí đối thoại, hiểu biết, kiếm tìm sự tôn trọng nhau và tình huynh đệ!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/9/2018 

- Let us offer our lives in service and in joy, to make known to everyone that Jesus Christ is our only hope!
Hãy sống vui vẻ và phục vụ, để làm cho mọi người biết rằng Đức Giêsu Kitô là niềm hy vọng duy nhất của chúng ta!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/9/2018 

- Peace is a choice: it cannot be imposed and it isn’t found by chance.
Hòa bình là một lựa chọn: Hòa bình không thể bị áp đặt, cũng không phải chuyện từ đâu tới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/9/2018 

- Goodness is loving and never imposes itself. It is a choice.
Lòng tốt là một thứ tình yêu không bao giờ áp đặt. Lòng tốt là một lựa chọn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/9/2018 

- It takes effort to always do good… The road to holiness is not for the lazy!
Làm điều tốt thì mệt… Con đường nên thánh không dành cho người lười biếng!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/9/2018 

- Today the Church invites us to contemplate the Cross of Our Lord. Contemplating the Cross for us Christians means contemplating both a sign of defeat and a sign of victory.
Hôm nay Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm Thập Giá của Chúa chúng ta. Đối với Kitô hữu, chiêm ngắm Thập Giá là chiêm ngắm cả hai dấu chỉ của thất bại và của chiến thắng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/9/2018 

- Mary our Mother knows the joys and difficulties that we experience along our journey.
Đức Maria Mẹ chúng ta biết những niềm vui và những khó khăn mà chúng ta trải qua trong suốt hành trình của mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/9/2018 

- Jesus came down on earth so that we could go up to heaven: this is the mystery of the Cross.
Đức Giêsu xuống trần gian để chúng ta có thể lên thiên đàng: đó là mầu nhiệm của Thập Giá.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/9/2018 

- Without the right to education there is no real freedom, which allows every person to be the protagonist of their own destiny!
Không có quyền được giáo dục thì không có tự do đích thực, điều làm cho mỗi người trở thành vai chính của vận mệnh riêng mình!

Tin Mới

Trang video: Đại Hội Giới Trẻ Giáo Tỉnh Miền Bắc lần thứ XVI năm 2018
Sứ điệp Đức Thánh Cha Ngày Thế giới người nghèo lần II
Lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam. Cuộc bách hại đạo hôm nay
5 thứ làm hại tim, phổi, thận, gan, mật nhiều nhất
Chủ đề của Sứ điệp Ngày Hoà bình Thế giới lần thứ 52 (năm 2019)
'Nghệ thuật đảo ngược' nhìn đời bằng con mắt lạc quan
Cáo phó: Cụ bà Maria Lê Thị Hiệp đã được Chúa gọi về
Thâm nhập đường dây sản xuất 'thuốc làm từ thịt người' của Trung Quốc đang gây chấn động dư luận
Triết lý giáo dục: Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng. Lược sử hệ thống giáo dục tại Việt Nam trước năm 1975
Chúa nhật 32 TN B. Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn
Trà gừng tốt cho sức khỏe ra sao?
Đây là lý do tại sao Nhật Bản không giống với bất kỳ quốc gia nào
Tiền có cánh, đất có chân và những thứ đúng quy trình!
ĐTC Phanxicô: Hôn nhân là một cuộc hành trình đi từ “tôi” đến “chúng ta”
“Thư thất điều” của nhà cách mạng Phan Châu Trinh gởi vua Khải Định
Chia sẻ của một người Trung Quốc về nước Mỹ: “Quốc gia của sự tin tưởng”
Chúa nhật 31 TN B. Phụng thờ Thiên Chúa đi đôi với việc phục vụ con người
Bế mạc Thượng HĐGM: Thư gửi giới trẻ
'Kiểm duyệt' ảnh em bé Yemen suy dinh dưỡng, Facebook bị phản đối
Lớp mình HT68 và những cái…NHẤT
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 11/2018

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 40
  • Hôm nay: 3378
  • Tháng hiện tại: 159716
  • Tổng lượt truy cập: 24887990