Thánh Thể trong ngục tù và ánh sáng không bao giờ tắt [Phần Kết]

Thứ sáu - 26/06/2026 20:55
Cuộc đời Đức Hồng y Văn Thuận là một diễn giải sống động của mầu nhiệm Vượt Qua ấy. Bị bắt, bị cắt, bị nhốt, bị chờ đợi, bị bào mòn, bị tước đoạt, nhưng không để cho mình rơi khỏi tay Chúa. Và chính vì không rơi khỏi tay Chúa, nên điều xem ra là thất bại cuối cùng lại trở thành chiến thắng thầm lặng của ân sủng.


PHẦN KẾT

Có những cuộc đời, càng đi đến cuối, người ta càng thấy không thể nói về họ chỉ bằng sự kiện. Bởi vì sự kiện chỉ kể được những gì đã xảy ra, còn mầu nhiệm của một con người lại nằm ở điều gì đã được Thiên Chúa thực hiện âm thầm trong họ. Có những cuộc đời nếu chỉ đọc theo niên biểu, ta sẽ biết họ sinh năm nào, đi đâu, làm gì, bị bắt khi nào, ra tù lúc nào, được gọi về lúc nào. Nhưng tất cả những điều ấy, dù cần thiết, vẫn chưa chạm vào phần sâu nhất. Bởi có những con người, điều làm nên giá trị thiêng liêng của họ không nằm ở chỗ họ đã trải qua bao nhiêu biến cố, nhưng ở chỗ họ đã để Thiên Chúa làm gì từ chính những biến cố ấy. Và nếu có một cuộc đời như thế trong thời đại chúng ta, thì đó chính là cuộc đời của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Khi đi đến phần kết của một hành trình dài, lòng người thường có hai phản ứng. Một là muốn tóm lại cho gọn. Hai là muốn dừng lại thật lâu, vì biết rằng có những điều không thể nói vội. Với cuộc đời của Đức Hồng y Văn Thuận, có lẽ ta phải chọn cách thứ hai. Phải dừng lại. Phải nói chậm. Phải để lòng mình lắng xuống. Bởi vì đây không chỉ là chuyện kể về một vị Hồng y. Đây là chuyện của một linh mục sống đến tận cùng bản chất linh mục của mình. Đây là chuyện của một giám mục đi qua đau khổ mà không đánh mất phẩm chất mục tử. Đây là chuyện của một người tù mà linh hồn không bị cầm tù. Đây là chuyện của một con người bị tước mất gần như mọi thứ bên ngoài nhưng lại khám phá ra điều không ai lấy được. Đây là chuyện của một đời người được Thiên Chúa dẫn đi qua thập giá để trở thành bài học hy vọng cho cả Hội Thánh.

Nếu có ai hỏi: rốt cuộc điều gì là điểm sáng nhất của hành trình ấy, ta có thể trả lời bằng nhiều cách. Có người sẽ nói đó là lòng kiên vững. Có người sẽ nói đó là sự tha thứ. Có người sẽ nói đó là Thánh Thể trong ngục tù. Có người sẽ nói đó là niềm hy vọng không tắt. Tất cả đều đúng. Nhưng nếu gom lại tất cả trong một chiều sâu duy nhất, có lẽ phải nói thế này: điểm sáng nhất của Đức Hồng y Văn Thuận là ngài đã để cho Chúa trở thành tất cả, khi mọi thứ khác lần lượt bị bóc khỏi tay mình.

Và có lẽ đây cũng là điều đau nhất. Bởi vì không ai học được bài học “Chúa là tất cả” chỉ bằng lý thuyết. Người ta chỉ học được điều ấy khi những cái “gần như tất cả” khác bị lấy đi. Khi công việc bị lấy đi. Khi tự do bị lấy đi. Khi tương lai bị lấy đi. Khi dự tính bị lấy đi. Khi những nâng đỡ thông thường bị lấy đi. Khi những hình thức quen thuộc của đời sống bị lấy đi. Khi người ta không còn gì để bám ngoài Chúa. Lúc ấy, hoặc con người gãy đổ, hoặc họ đi vào một chiều sâu mà lúc bình thường có thể không bao giờ chạm tới. Đức Hồng y Văn Thuận đã đi vào chiều sâu ấy. Không phải vì ngài không biết đau. Không phải vì ngài không biết sợ. Không phải vì ngài không thấy nước mắt. Nhưng vì trong nỗi đau, nỗi sợ và nước mắt ấy, ngài không buông Chúa.

Đời ngài là một bản thánh ca viết bằng bóng tối. Một bản thánh ca không được viết trong những ngày dễ dàng, nhưng được viết trong lao tù, trong cô độc, trong chờ đợi, trong thử thách, trong sự bị cắt ngang giữa đường. Và có lẽ bởi chính vì nó được viết trong bóng tối nên ánh sáng của nó mới chạm mạnh đến vậy. Người ta dễ bị cuốn hút bởi những câu chuyện chiến thắng rực rỡ. Nhưng những câu chuyện làm thay đổi lòng người sâu nhất thường lại là những câu chuyện của ánh sáng nhỏ không chịu tắt trong đêm. Đức Hồng y Văn Thuận là một ánh sáng như thế.

Khi nhìn lại toàn bộ hành trình ấy, ta thấy trước tiên hiện lên không phải một nhà lãnh đạo tôn giáo theo nghĩa thông thường, mà là một người môn đệ. Có thể đây là điều quan trọng nhất. Giữa rất nhiều tước vị, danh xưng, vai trò và trách nhiệm, cốt lõi của ngài vẫn là một người theo Chúa. Một người để Chúa dẫn đi. Một người học Chúa từng ngày. Một người để đời mình bị bẻ ra dưới bàn tay của Chúa mà không mất niềm tín thác. Một người để chính Chúa định nghĩa lại mình khi mọi định nghĩa khác của thế gian đều bị đánh sập.

Có lẽ đây là điểm làm ta nghẹn ngào nhất. Bởi vì con người thường muốn được dùng theo cách mình thấy có ích nhất. Muốn được Chúa sử dụng trong những khung cảnh mình đã chuẩn bị. Muốn được sống ơn gọi của mình theo hình dung đẹp đẽ nhất. Muốn được phục vụ trong những con đường mà mình thấy đúng, tốt, hợp lý. Và điều đó đâu có gì sai. Nhưng có những lúc Chúa lại yêu con người đủ nhiều để dẫn họ qua một con đường khác. Không phải vì Người muốn bẻ gãy họ cho vui. Nhưng vì Người đang làm một điều lớn hơn điều họ thấy. Đức Hồng y Văn Thuận đã được dẫn vào một con đường như thế. Một con đường không ai chọn nếu được quyền chọn. Một con đường không ai mơ nếu được phép mơ. Một con đường làm đau cả trái tim mục tử. Nhưng cũng chính là con đường làm hiện ra dung mạo sâu nhất của một vị môn đệ.

Thật lạ lùng khi nghĩ rằng có những con người được Thiên Chúa chuẩn bị suốt cả đời cho một giai đoạn mà bên ngoài xem ra như mất hết. Nhưng chính trong giai đoạn “mất hết” ấy, điều Thiên Chúa đã âm thầm gieo trồng mới nở rộ. Ta có thể nói rằng bao nhiêu năm tháng trước đó trong đời Đức Hồng y Văn Thuận, từ gia đình, đức tin, ơn gọi, linh mục, giám mục, mục vụ, tất cả như những lớp chuẩn bị âm thầm cho cuộc thử lửa lớn. Và khi lửa đến, điều còn lại không phải là tro, mà là vàng đã được luyện.

Thưa cộng đoàn, có một nỗi buồn rất sâu mà đời người ai rồi cũng gặp: nỗi buồn khi phải buông điều mình yêu. Có những người phải buông tuổi trẻ. Có những người phải buông sức khỏe. Có những người phải buông một mối tương quan. Có những người phải buông một giấc mơ. Có những người phải buông một kế hoạch lớn cho đời mình. Có những người phải buông chính hình ảnh về mình mà lâu nay mình bám vào. Trong những lúc ấy, người ta cảm thấy như mình mất chính một phần của căn tính. Đức Hồng y Văn Thuận cũng đi qua một sự buông đau như thế. Nhưng ngài đã không để sự mất mát ấy biến mình thành người chua chát. Điều đó thật phi thường. Và cũng thật Kitô giáo.

Bởi vì trong Tin Mừng, mất mát chưa bao giờ là lời cuối cùng. Nhưng để đi tới lời cuối cùng của Thiên Chúa, con người thường phải đi qua một thứ thứ Sáu Tuần Thánh của riêng mình. Không ai đến Phục Sinh mà không đi qua mồ tối. Không ai chạm đến ánh sáng sâu nhất mà không có lúc tưởng như mọi ánh sáng đều tắt. Cuộc đời Đức Hồng y Văn Thuận là một diễn giải sống động của mầu nhiệm Vượt Qua ấy. Bị bắt, bị cắt, bị nhốt, bị chờ đợi, bị bào mòn, bị tước đoạt, nhưng không để cho mình rơi khỏi tay Chúa. Và chính vì không rơi khỏi tay Chúa, nên điều xem ra là thất bại cuối cùng lại trở thành chiến thắng thầm lặng của ân sủng.

Chính ở đây ta mới hiểu hết vẻ đẹp của Thánh Thể trong cuộc đời ngài. Thánh Thể không chỉ là nơi ngài được an ủi. Thánh Thể là nơi ngài được định hình lại. Trong ngục tù, ngài không chỉ dâng lễ. Ngài dần dần trở thành lễ vật. Không chỉ cử hành mầu nhiệm hiến dâng. Ngài để đời mình được thấm vào chính mầu nhiệm ấy. Tấm bánh bị bẻ ra. Chén rượu bị đổ ra. Một đời linh mục bị bẻ ra. Một đời mục tử bị đổ ra. Không phải trong huy hoàng phụng vụ, mà trong âm thầm và đau đớn. Đây chính là chỗ linh đạo của ngài trở nên rất sâu: ngài không chỉ sống nhờ Thánh Thể, mà sống thành Thánh Thể.

Đó là điều làm cho mọi suy niệm về ngài đều phải dừng lại trước một mầu nhiệm rất lớn. Có những người nói rất hay về hiến dâng, nhưng đời sống không đi tới chỗ ấy. Có những người cử hành phụng vụ rất đẹp, nhưng đời mình không trở thành của lễ. Còn nơi Đức Hồng y Văn Thuận, bàn thờ và cuộc đời gặp nhau. Nhà tù và hy lễ gặp nhau. Cô độc và hiệp thông gặp nhau. Đau khổ và yêu thương gặp nhau. Chính điều ấy làm cho ngài trở thành một bài giảng sống, không cần to tiếng mà vẫn làm người ta thức tỉnh.

Và rồi, giữa tất cả những đau thương ấy, điều làm ta kính phục không chỉ là ngài còn sống, mà là ngài còn yêu. Đây có lẽ là điều lớn nhất. Bởi sống sót thì còn có thể hiểu như một sức chịu đựng. Nhưng còn yêu mới là bằng chứng của ân sủng. Một con người bị đối xử bất công mà vẫn giữ được trái tim không độc là một điều rất hiếm. Một con người bị làm đau mà vẫn không sống bằng hận thù là một điều rất lớn. Một con người bị nhốt mà vẫn không để lòng mình thành xà lim thứ hai, đó là một phép lạ. Đức Hồng y Văn Thuận đã sống phép lạ ấy. Tha thứ nơi ngài không phải là một khẩu hiệu nhân bản. Tha thứ là kết quả của một trái tim đã để cho Chúa Kitô chịu đóng đinh sống bên trong mình. Vì chỉ ai ở rất gần Đấng đã nói “xin tha cho họ” mới có thể đi tới chỗ ấy.

Ở điểm này, cuộc đời ngài trở thành bản án dịu dàng nhưng nghiêm khắc dành cho thời đại hôm nay. Một thời đại quá dễ giận, quá dễ chia rẽ, quá dễ cắt đứt, quá dễ dùng ký ức đau thương để nuôi lại các bức tường. Người ta dễ nói về công lý mà quên lòng thương xót. Dễ nói về sự thật mà quên tình yêu. Dễ nói mình bị tổn thương mà quên rằng nếu không trao vết thương ấy cho Chúa, mình sẽ mang nó như một thứ quyền lực đen tối cai trị đời mình. Đức Hồng y Văn Thuận nhắc cho thế giới hôm nay một bài học rất khó nhưng không thể thiếu: không tha thứ, linh hồn sẽ bị cầm tù sâu hơn bất kỳ song sắt nào.

Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, ta vẫn chưa đọc hết hành trình của ngài. Bởi cuộc đời Đức Hồng y Văn Thuận không chỉ nói về đau khổ được chịu đựng, mà còn nói về hy vọng được giữ gìn. Và chính hy vọng này làm cho ngài trở thành món quà đặc biệt cho thế giới. Thời đại hôm nay thiếu gì? Thiếu niềm tin rằng con người có thể đi qua bóng tối mà không hóa thành bóng tối. Thiếu xác tín rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Thiếu những chứng nhân của một hy vọng không dựa trên hoàn cảnh dễ chịu. Thiếu những linh hồn có thể nói với người khác: tôi đã đi qua đêm dài và tôi biết ánh sáng không chết. Đức Hồng y Văn Thuận chính là một lời chứng như vậy.

Hy vọng nơi ngài không ồn ào. Không kịch tính. Không tự tô vẽ. Nó mang hình dáng rất nhỏ: từng ngày sống, từng lần cầu nguyện, từng Thánh lễ kín đáo, từng cử chỉ tha thứ, từng quyết định không đầu hàng cay đắng, từng khoảnh khắc trao hiện tại cho Chúa thay vì sống treo vào một tương lai mơ hồ. Hy vọng ấy giống như tim đèn nhỏ trong một ngôi nhà tối. Người ta có thể không để ý, nhưng chính tim đèn ấy giữ cho cả căn phòng không hoàn toàn chìm vào đêm. Có lẽ vì thế mà cuộc đời ngài càng ngày càng sáng. Không phải vì nó phô diễn gì thêm, mà vì thế giới càng về sau càng thấy mình cần thứ ánh sáng như thế.

Khi nói đến “phần kết” của một đại trường thiên, người ta thường nghĩ đến việc khép lại. Nhưng với Đức Hồng y Văn Thuận, phần kết lại giống như mở ra. Bởi vì hành trình của ngài không kết thúc khi những năm tù qua đi. Cũng không kết thúc khi ngài được trả tự do. Cũng không kết thúc khi ngài rời quê hương hay khi được Hội Thánh hoàn vũ biết đến. Thậm chí nó cũng không kết thúc khi ngài được Chúa gọi về. Một số cuộc đời, khi thể xác chấm dứt, ảnh hưởng thiêng liêng mới thật sự bắt đầu lan ra sâu hơn. Đức Hồng y Văn Thuận là một cuộc đời như thế. Ngài bước vào lòng Hội Thánh như một chứng nhân của hy vọng. Và từ đó, ngài không còn chỉ thuộc về một giai đoạn lịch sử hay một nơi chốn địa lý nữa. Ngài trở thành người bạn đồng hành của những ai đang đau khổ, đang bị thử thách, đang khủng hoảng đức tin, đang bị cầm tù bởi đủ loại nhà tù vô hình.

Điều ấy khiến ta phải tự hỏi: tại sao những cuộc đời như thế lại có sức lay động lâu bền như vậy? Có lẽ vì chúng chạm đúng vào nỗi khát sâu nhất của con người. Dưới tất cả những bề mặt, con người nào cũng hỏi một câu hỏi: liệu trong bóng tối này, còn hy vọng không? Liệu sau tất cả những gì tôi đã mất, tôi còn có thể sống không? Liệu một người bị thương có còn có thể yêu không? Liệu một linh hồn đã đi qua đêm đen có còn tìm lại được ánh sáng không? Liệu một cuộc đời bị bẻ gãy có còn mang ý nghĩa không? Đức Hồng y Văn Thuận không trả lời những câu ấy bằng triết lý, nhưng bằng chính cuộc đời mình: có. Có, nếu con còn Chúa. Có, nếu con không để mất ngọn lửa bên trong. Có, nếu con để cho đau khổ trở thành nơi gặp Chúa thay vì thành lý do khép mình. Có, nếu con chọn Chúa chứ không chỉ chọn công việc của Chúa. Có, nếu con không để những gì bị lấy đi làm con quên điều không ai lấy được.

Thưa cộng đoàn, có thể nhiều người trong chúng ta hôm nay không ở trong một nhà tù hữu hình, nhưng ai cũng đang mang một cuộc chiến nào đó. Có người đang chiến đấu với nỗi sợ tuổi già. Có người đang chiến đấu với bệnh tật âm thầm. Có người đang chiến đấu với sự khô khan trong đời cầu nguyện. Có người đang chiến đấu với gánh nặng gia đình. Có người đang chiến đấu với ký ức đau buồn không buông tha. Có người đang chiến đấu với cảm giác mình thất bại. Có người đang chiến đấu với nỗi cô độc mà không ai thấy. Có người đang chiến đấu với tội lỗi lâu năm. Có người đang chiến đấu với một cuộc sống có vẻ ổn mà bên trong lại mất phương hướng. Nếu vậy, thì phần kết của cuộc đời Đức Hồng y Văn Thuận không ở xa ta đâu. Nó chạm ngay vào chính chúng ta.

Bởi vì suy cho cùng, câu chuyện của ngài không phải chỉ là chuyện “một người đã sống vĩ đại thế nào.” Sâu hơn, đó là câu chuyện về điều gì có thể xảy ra khi một con người để cho ân sủng chiếm lấy mình. Và nếu ân sủng đã làm được điều đó nơi ngài, thì ân sủng ấy cũng đang muốn làm việc nơi chúng ta. Có thể không theo những cách giống nhau. Không phải ai cũng được gọi đi qua những biến cố lớn. Nhưng ai cũng được gọi đi qua phần đời của mình với cùng một bí quyết: giữ Chúa trong tim và để Chúa giữ tim mình khỏi tắt lửa.

Ở đây, tôi nghĩ, điều đẹp nhất để nói trong phần kết này không phải là ngợi ca thêm nữa, mà là mời gọi cộng đoàn nhìn lại chính đời mình trong ánh sáng của ngài.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta lâu nay vẫn sống đạo, nhưng chưa thật sự để Chúa là trung tâm. Ta có thể yêu những việc của Chúa hơn là yêu Chúa. Ta có thể yêu cảm giác đạo đức hơn là yêu việc ở lại với Chúa trong khô khan. Ta có thể yêu hình ảnh mình phục vụ hơn là yêu đời cầu nguyện âm thầm. Ta có thể muốn được dùng hơn là muốn được thuộc về. Và vì thế, khi đời có thử thách, ta dễ khủng hoảng sâu. Đức Hồng y Văn Thuận mời gọi ta trở lại với cái gốc. Không phải bớt làm điều tốt. Nhưng làm mọi sự từ một nội tâm bám rễ trong Chúa.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta lâu nay vẫn chịu đựng đau khổ, nhưng chưa hiệp dâng. Ta đau và chỉ đau. Ta mệt và chỉ mệt. Ta bị thương và chỉ xoáy vào vết thương. Ta chưa đem nỗi đau ấy vào trong hy tế của Chúa. Ta chưa để Thánh Thể chạm vào chỗ sâu nhất của mình. Ta chưa học được việc biến những gì mình đang chịu thành của lễ. Đức Hồng y Văn Thuận mời gọi ta bước sang chỗ ấy. Không phải để phủ nhận đau khổ, nhưng để không để nó vô nghĩa.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta lâu nay vẫn giữ đạo, nhưng chưa tha thứ. Ta vẫn mang trong lòng những món nợ cũ, những tên người cũ, những câu nói cũ, những vết thương cũ. Ta sống như người tự do, nhưng thật ra lòng bị khóa bởi quá khứ. Đức Hồng y Văn Thuận mời gọi ta giải thoát linh hồn mình. Không phải bằng cố quên, nhưng bằng trao mọi sự vào tay Chúa.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta lâu nay vẫn hy vọng, nhưng hy vọng ấy quá phụ thuộc vào việc hoàn cảnh có đổi theo ý mình hay không. Ta chỉ thấy sáng khi có kết quả tốt. Ta chỉ thấy yên khi có dấu hiệu thuận lợi. Ta chỉ dám tin khi còn cảm được Chúa. Đức Hồng y Văn Thuận mời gọi ta bước vào hy vọng sâu hơn: hy vọng vì Chúa đang ở đây, ngay cả khi ta không nhìn thấy đường.

Và có lẽ, trên tất cả, ngài mời gọi ta đừng sợ sống đời mình như một lời “xin vâng” chậm rãi, thinh lặng, nhưng thật. Không phải một lời “xin vâng” lãng mạn dễ dàng. Nhưng là lời “xin vâng” của người đã đi qua đêm tối mà vẫn tin. Lời “xin vâng” của người không hiểu hết, nhưng vẫn trao đời mình. Lời “xin vâng” của người bị lấy mất nhiều điều nhưng vẫn không muốn đánh mất Chúa. Lời “xin vâng” ấy làm nên sự thánh thiện.

Khi đứng trước một cuộc đời như vậy, người ta có cảm giác giống như đứng trước một ngọn núi lúc chiều xuống. Không cần phải ồn ào. Chỉ cần đứng lâu. Chỉ cần nhìn. Chỉ cần để cho vẻ thinh lặng của nó đi vào lòng mình. Đức Hồng y Văn Thuận là một ngọn núi như thế. Cao không phải vì những gì người đời đo được, mà vì chiều sâu nội tâm. Vững không phải vì không bị phong ba, mà vì đã đứng được giữa phong ba. Đẹp không phải vì không có vết sẹo, mà vì mọi vết sẹo đã trở thành nơi ánh sáng lọt qua.

Có lẽ khi nghĩ đến ngài, ta không nên chỉ nghĩ đến những bài học. Dù các bài học là cần. Ta cũng không nên chỉ nghĩ đến những nhân đức. Dù các nhân đức là thật. Sâu hơn, ta nên nghĩ đến một mùi hương. Mùi hương của một con người đã sống rất gần Chúa. Có những người ở gần họ, người khác thấy được năng lực. Có những người ở gần họ, người khác thấy được trí tuệ. Có những người ở gần họ, người khác thấy được ảnh hưởng. Nhưng cũng có những người, ở gần họ, người khác ngửi được mùi của Chúa. Tôi nghĩ Đức Hồng y Văn Thuận thuộc về loại ấy. Và chính vì thế mà sau tất cả, điều ngài để lại không chỉ là một ký ức, mà là một mùi hương thiêng liêng cho Hội Thánh.

Mùi hương ấy là mùi của Thánh Thể được sống thật.

Là mùi của đau khổ được hiệp dâng.

Là mùi của tự do nội tâm.

Là mùi của tha thứ.

Là mùi của hy vọng giữa đêm dài.

Là mùi của một người đã chọn Chúa hơn mọi sự thuộc về Chúa.

Là mùi của một mục tử không để cho nhà tù lấy mất trái tim mục tử của mình.

Là mùi của một con người mà bóng tối không thể làm ô nhiễm ánh sáng bên trong.

Và đến đây, có lẽ phần kết đại trường thiên này nên đi vào cầu nguyện nhiều hơn là phân tích. Vì có những cuộc đời, nói về họ xong rồi, điều còn lại thích hợp nhất là quỳ xuống.

Lạy Chúa Giêsu,
khi nhìn lại hành trình của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận,
chúng con thấy xấu hổ vì mình dễ nản biết bao,
dễ than phiền biết bao,
dễ tuyệt vọng biết bao,
dễ cay đắng biết bao,
dễ sống đạo bằng bề mặt biết bao.

Xin tha cho chúng con
vì đã nhiều lần có Chúa mà vẫn sống như không có Chúa,
được dự lễ mà không biết mình đang đứng trước mầu nhiệm nào,
rước Chúa vào lòng mà không để Chúa đổi trái tim mình,
làm việc cho Chúa mà nhiều khi lại quên chính Chúa.

Lạy Chúa,

qua người tôi tớ trung tín của Ngài là Đức Hồng y Văn Thuận,
xin dạy chúng con biết yêu mến Thánh Thể hơn.
Xin dạy chúng con biết giữ lòng mình gần Nhà Tạm hơn.
Xin dạy chúng con biết cầu nguyện không chỉ khi được an ủi,
mà cả khi khô khan, tối tăm, mệt mỏi, không hiểu gì.

Xin dạy các linh mục
biết trở về với bàn thờ như nguồn sống chứ không chỉ như bổn phận.

Xin dạy các tu sĩ
biết để đời mình thành của lễ âm thầm mà vui tươi.

Xin dạy các giáo dân
biết đem cơm áo, nước mắt, va chạm, nhọc nhằn của đời thường
hiệp với hy tế của Chúa mỗi ngày.

Xin dạy người trẻ
đừng để đời mình bị giam trong những nhà tù vô hình
của so sánh, của khoái lạc chóng qua, của sợ hãi, của mất phương hướng,
nhưng biết tìm nơi Chúa một trung tâm không ai lấy khỏi.

Lạy Chúa,
xin cho những ai đang đau khổ
đừng nghĩ rằng đời mình đã hết ánh sáng.

Xin cho những ai đang bị quá khứ cầm tù
tìm được tự do trong lòng thương xót.

Xin cho những ai đang mang bệnh
biết rằng thân xác yếu đi không có nghĩa là đời họ mất giá trị.

Xin cho những ai đang sống trong gia đình rạn nứt
đừng thôi hy vọng vào ơn chữa lành của Chúa.

Xin cho những ai đang khủng hoảng đức tin
vẫn giữ được một sợi chỉ nhỏ nối với Chúa,
vì nhiều khi chỉ một sợi chỉ ấy thôi
cũng đủ để Chúa kéo linh hồn họ trở lại từ vực sâu.

Lạy Chúa,
xin cho chúng con biết hiểu rằng
điều quan trọng nhất trong đời không phải là giữ được bao nhiêu thứ,
nhưng là đừng để mất Chúa.

Không phải là được dùng nhiều đến đâu,
nhưng là có thuộc về Chúa thật hay không.

Không phải là được người ta nhớ đến thế nào,
nhưng là khi bóng tối đến,
trong lòng chúng con còn ánh sáng nào không.

Lạy Chúa,
nếu một ngày nào đó
Ngài cũng cho chúng con đi qua những đêm tối riêng,
những mất mát riêng,
những ngục tù riêng,
xin đừng để chúng con phản ứng như người không có niềm cậy trông.

Xin cho chúng con nhớ đến Đức Hồng y Văn Thuận.
Không phải để tự trách mình sao không mạnh bằng ngài,
nhưng để tin rằng:
cùng một Chúa đã đỡ ngài, cũng đang đỡ chúng con.
Cùng một Thánh Thể đã nuôi ngài trong lao tù, cũng đang nuôi chúng con giữa đời thường.
Cùng một ân sủng đã giữ cho tim ngài không hóa đá,
cũng có thể giữ cho tim chúng con khỏi trở nên chua chát.

Xin cho chúng con,
mỗi người trong phần đời riêng của mình,
biết trở thành một ngọn đèn nhỏ không tắt.

Không cần rực rỡ.
Không cần được nhìn thấy nhiều.
Nhưng bền.
Nhưng thật.
Nhưng cháy bằng dầu của cầu nguyện.
Bằng lửa của Thánh Thể.
Bằng hơi ấm của tha thứ.
Bằng ánh sáng của hy vọng.

Xin cho khi cuộc đời chúng con đi tới phần kết,
người ta không chỉ nhớ rằng chúng con đã làm được những gì,
mà nhất là thấy rằng:
chúng con đã thuộc về Chúa.

Đã giữ được Chúa.

Đã không để bóng tối thắng.

Đã không để đau khổ làm mất lòng yêu.

Đã không để mất mát làm mất hy vọng.

Đã không để nhà tù vô hình làm tim mình thôi tự do.

Lạy Đấng Đáng Kính Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận,
xin cầu cho chúng con.

Xin cầu cho Hội Thánh Việt Nam.

Xin cầu cho các linh mục đang mệt.

Xin cầu cho các tu sĩ đang khô.

Xin cầu cho các gia đình đang rạn nứt.

Xin cầu cho người trẻ đang mất hướng.

Xin cầu cho những ai đang đau bệnh.

Xin cầu cho những ai đang sống trong nhà tù của tuyệt vọng.

Xin cầu cho những ai không còn muốn sống sâu nữa.

Xin cầu cho tất cả chúng con,
để giữa đêm dài của thời đại này,
chúng con cũng học được bí quyết của ngài:
giữ Chúa Giêsu trong tim,
và để Chúa Giêsu giữ tim mình khỏi tắt lửa.

Amen.

Lm. Anmai, CSsR

Tác giả: Lm Anmai, CSsR

Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Facebook Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Kênh Youtube Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Chuyên mục ủng hộ
CHUYÊN MỤC CHIA SẺ
Thương về Sài Gòn
Ủng hộ Nhà Hưu dưỡng Linh mục Giáo phận Huế
Ủng hộ Miền Trung bị bão lụt 2020
Bão lụt Miền Trung 10/2020
Tin vui giữa mùa đại dịch
Đại dịch Covid-19
Nhà thờ Hương Phú, Nam Đông
Nghĩa tình mùa Xuân Kỷ Hợi
Hỗ trợ mái ấm tình thương Lâm Bích
Ủng hộ Hội ngộ lần 3 Denver, Colorado
Lễ Tạ ơn ĐĐK Đức HY Thuận 2017
Ủng hộ Án phong Chân phước đợt 4 năm 2016
Danh sách ủng hộ Caritas TGP Huế
Ủng hộ Causa Card. Văn Thuận
  • Đang truy cập234
  • Hôm nay52,637
  • Tháng hiện tại1,859,206
  • Tổng lượt truy cập107,523,919
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Mã bảo mật
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây