Cựu Chủng Sinh Huế

http://cuucshuehn.net


Giáo hội Công giáo Việt Nam đang đối diện với một nghịch lý về ơn gọi

WHĐ (06/02/2026) - Giáo hội tại Việt Nam dư thừa các linh mục quản trị họ đạo, nhưng thiếu những linh mục truyền giáo đích thật.
linh muc

Trong khi Giáo hội hoàn vũ đang phải vật lộn với tình trạng suy giảm ơn gọi trầm trọng, thì Giáo hội Việt Nam lại phải đối diện với một thách đố riêng biệt: đó là làm sao để biến đổi sự dồi dào hàng giáo sĩ thành những nhà truyền giáo đích thực, hơn là những linh mục chỉ biết đi coi xứ mà thôi.[1]

Tháng Giêng vừa qua, Giáo hội Công giáo Việt Nam đón nhận 76 tân phó tế, như một giai đoạn chuyển tiếp, các vị này dự kiến sẽ được thụ phong linh mục trong vòng một năm tới. Điều đáng chú ý là các phó tế này chỉ đến từ 5 giáo phận và một dòng tu trong tổng số 27 giáo phận và 83 hội dòng nam trên toàn quốc.

Việt Nam thường được miêu tả là “nguồn ơn gọi” của Giáo hội Á châu, với 11 đại chủng viện và các hội dòng đào tạo hàng trăm linh mục mỗi năm.

Tổng cộng, khoảng 6.000 linh mục và 31.000 tu sĩ nam nữ đang phục vụ gần bảy triệu tín hữu Công giáo – những con số không chỉ ấn tượng mà còn là niềm tự hào[2]. (Thống kê mới nhất 2024: Nữ tu: 23.056. - Tu sĩ nam: 4.636).

Tuy nhiên, đằng sau những con số thống kê đầy choáng ngợp ấy là một nghịch lý đáng lo ngại: dư thừa những “nhà cung cấp dịch vụ bí tích”, nhưng lại thiếu trầm trọng những người có tinh thần truyền giáo để vươn tới các “vùng ngoại biên”.

Dư thừa các nhà quản trị tôn giáo

Tại các đô thị lớn, điều khá phổ biến là hai hoặc ba linh mục cùng phục vụ quanh quẩn trong một giáo xứ khép kín. Trong những “vùng an toàn” này, đời sống linh mục thường xoay quanh quản trị hành chính, cử hành mục vụ, tổ chức các lễ hội hoành tráng và giám sát việc xây dựng cơ sở vật chất cho nhà thờ.

Trái lại, tại những vùng Cao Nguyên và Tây Bắc, nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số phải chờ vài tháng mới có một Thánh lễ duy nhất. Các linh mục địa phương đi vượt hàng trăm cây số, vượt qua đường núi địa hình hiểm trở để đến những nhà nguyện mái tranh vách lá đơn sơ.

Sự phân bố không đồng đều này phản ánh một khủng hoảng sâu sắc về căn tính. Một linh mục cao niên nhận xét rằng nhiều linh mục trẻ xuất thân từ các gia đình ít con, thời hiện đại, được nuôi dưỡng trong sự đầy đủ và bảo bọc, không nếm trải gian truân, thường gặp khó khăn khi phải sinh tồn trong môi trường khắc nghiệt.

Với họ, việc được sai đến một điểm truyền giáo xa xôi thường không được xem như một hồng ân, mà như một hình thức “lưu đày” hay bị trừng phạt.

Truyền thống văn hóa Việt Nam vốn tôn kính linh mục như một “thầy cả” càng làm cho vấn đề thêm phức tạp. Lối tôn vinh mang tính văn hóa này dễ dẫn con người đến việc tìm kiếm quyền lực và danh vọng, thay vì sống tinh thần phục vụ khiêm nhường... Hệ quả là một tâm lý "an phận thủ thường" – ưa thích sự an toàn trong khuôn viên giáo xứ hơn là sự dấn thân vào những rủi ro bất định nơi cánh đồng truyền giáo.

Khủng hoảng căn tính truyền giáo

Căn tính cốt lõi của linh mục không chỉ là người phân phát các bí tích, mà là trở thành một “nhà truyền giáo”. Đức Kitô không đề nghị cho các môn đệ ở lại trong Đền Thờ để quản lý tài chính; Người sai các ông “đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15).

Tại Việt Nam hôm nay, thiếu vắng sự hiện diện rõ rệt của Giáo hội giữa những người chưa biết Chúa là một thực tế phũ phàng. Trong khi hàng giáo sĩ tổ chức nhiều hoạt động cho những người “đã có đạo”, thì lại có rất ít sự gặp gỡ đích thực với xã hội bên ngoài rộng lớn hơn (người chưa có đạo).

Lối sống đạo “Công giáo hướng nội” này không đủ khả năng để đối diện với những thách đố mới của xã hội Việt Nam: một nền văn hóa giới trẻ bị cuốn vào chủ nghĩa làm việc quá độ, sự suy giảm đức tin, và các tệ nạn xã hội như ly hôn hay nghiện ngập[3].

Khủng hoảng này cũng mang tính cơ cấu. Nhiều linh mục khao khát ra đi đến vùng ngoại biên lại bị ràng buộc bởi giới hạn giáo phận, thiếu cơ chế “sai đi” rõ ràng và không đủ hỗ trợ tài chính. Hệ thống hiện tại chưa đủ linh hoạt để cho phép Giáo hội thực sự bước “ra khơi”.

Việc đào tạo cần được cải tổ khẩn cấp

Để ngăn chặn các con số ấn tượng không trở nên những “thống kê vô hồn”, Giáo hội địa phương cần một cuộc cải tổ sâu rộng hệ thống đào tạo tu trì kéo dài mười năm, vốn vẫn nặng về học thuật triết học và thần học nhưng thường thiếu việc hình thành thấm nhập một “trái tim truyền giáo” đích thật. 

Một chủng sinh có thể xuất sắc trong việc học, nhưng nếu người ấy chưa bao giờ sống giữa người nghèo, chưa từng học cách để lắng nghe những khó khăn của những người ở vùng ngoại biên, thì anh ta sẽ thiếu “mùi chiên[4]” mà Đức Giáo hoàng Phanxicô từng kêu gọi.

Còn quá ít sự chú trọng đến linh đạo truyền giáo, hội nhập văn hóa và đối thoại liên tôn giáo. Các kỳ thực tập mục vụ thường chỉ diễn ra giới hạn tại những giáo xứ ổn định, quen thuộc, nơi các chủng sinh gặp được một cộng đồng thoải mái, thay vì tại các khu ổ chuột hay vùng sâu vùng xa – nơi đức tin bị thử thách bởi nghèo đói và vô thần.

Trong thời đại kỹ thuật số, các “vùng ngoại biên” cũng mang tính trực tuyến[5]. Chủng sinh cần được đào tạo để sử dụng mạng xã hội như một công cụ loan báo Tin mừng, học sống như những “nhà truyền giáo của hy vọng”, học ngôn ngữ các dân tộc và dấn thân vào các hoạt động xã hội để thấu hiểu nỗi đau của con người mà họ phục vụ.

Lời kêu gọi hoán cải mục vụ

Hội đồng Giám mục Việt Nam đã chọn năm 2026 là năm “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ truyền giáo”. Đây là cơ hội vàng để hàng giáo sĩ thực hiện một “cuộc hoán cải truyền giáo”.

Trọng tâm cần được chuyển dịch để tinh thần truyền giáo trở thành trục chính của đời sống linh mục: “Linh mục là người được sai đi, chứ không phải người được giữ lại.

Mỗi giáo phận cần có kế hoạch “trao tặng”, chứ không chỉ “cho mượn”, các linh mục cho những vùng đang thiếu thốn trong nước hoặc ra nước ngoài, như Mông Cổ, Lào và Campuchia…

Các linh mục tại đô thị cần mang lấy trái tim truyền giáo, vươn tới những người không đến nhà thờ và hiện diện trong các lãnh vực như giáo dục, văn hóa và truyền thông.

Nếu Giáo hội chỉ dựa vào linh mục, thì sẽ luôn thiếu nhà truyền giáo. Linh mục phải trở thành những “người huấn luyện”, trao quyền cho giáo dân để làm chứng nhân trong đời sống hằng ngày của họ.

Một Giáo hội sống động không được đo bằng chiều cao của tháp chuông hay số lượng lễ truyền chức, mà bằng khoảng cách các mục tử sẵn sàng ra đi để chạm tới những người đang sống trong bóng tối.

Những thợ gặt đích thực không phải là những người ở yên trong kho lẫm an toàn, mà là những người dám can đảm đối diện phong ba để ra đồng làm việc.

Khi “nguồn ơn gọi” của Giáo hội châu Á có thể sản sinh ra những nhà truyền giáo thực thụ, chứ không chỉ là các nhà quản trị tôn giáo, thì Giáo hội ấy mới thực sự trở thành một Giáo hội truyền giáo.

- Tác giả: Petrus Do

- Chuyển ngữ: Nguyễn Khắc Minh (bổ sung chú thích và số liệu)

Từ nguồn: ucanews.com

---------------------
[1] Tiếng bình dân ngày xưa gọi là “ông cố đi ngồi họ”= ngồi coi họ đạo. Có thể hiểu đến đó để ngồi lên trên họ đạo. (Lời này chú giải thêm của người dịch)

[2] Thống kê chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam (tính đến cuối năm 2024 trên toàn quốc)

- Số tín hữu Công giáo: 7.524.760 - Giám mục: 51 (kể cả các giám mục nghỉ hưu) - Linh mục triều: 5.335. - Linh mục dòng: 2.118. - Nữ tu: 23.056. - Tu sĩ nam: 4.636. - Đại chủng sinh: 2.207. - Giáo lý viên: 80.273

https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/mot-vai-nhan-dinh-ve-nhung-no-luc-truyen-giao-trong-qua-khu-va-hien-nay-tai-viet-nam 

[3] Có thể kể thêm: tin giả, văn hóa thực dụng, hưởng thụ, mất ý nghĩa sống, bất công, áp lực kinh tế

[4] Đức Thánh Cha Phanxico - Bài giảng Thánh Lễ làm Phép Dầu 28-03-2013.

[5] Truyền thông trong truyền giáo. Fr Joseph Eilers, Communication Theology, UST, Manila, Philippine. 2014.


Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/giao-hoi-cong-giao-viet-nam-dang-doi-dien-voi-mot-nghich-ly-ve-on-goi

Tác giả: Nguyễn Khắc Minh

Nguồn tin: Hội đồng Giám mục VN

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây