Những Người Lữ Hành Trên Đường Hy Vọng. ĐHY PX Nguyễn Văn Thuận [12]
- Thứ năm - 29/01/2026 21:50
- In ra
- Đóng cửa sổ này
35- Mẹ Maria
1. Mối tình đầu của tôi
* "Ðây là Mẹ con!" Sau phép Thánh Thể, Chúa không thể trối gì hơn cho con. Mẹ đã đạp đầu con rắn. Mẹ sẽ giúp con chiến thắng ma quỷ, xác thịt, thế gian. Mẹ sẽ ban ơn cho con giữ vững lý tưởng cao cả Chúa đã đặt vào lòng con (ÐHV 913).
* Ðứa con có bệnh tật, xấu xí, người mẹ vẫn thương yêu. Dù con nguội lạnh, tội lỗi, phản bội, con hãy phó mình trên tay Mẹ. "Chúa Giêsu trối: Ðây là Mẹ con!" Nỡ nào Mẹ bỏ con (ÐHV 914).
* Lúc ngã sa, con hãy khiêm tốn, khóc lóc với Mẹ, vì con đã giết chết con Mẹ, Mẹ sẽ đón nhận con. Gioan Mẹ cũng nhận, người trộm lành, Mađalêna, Mẹ cũng nhận làm con Mẹ (ÐHV 915).
Từ thuở thơ ấu, thánh J.M. Vianney đã có lòng kính Ðức Mẹ cách đặc biệt. Hồi mới 8 tuổi, đi chăn chiên ở ngoài đồng, cậu Gioan đã biết khuyến khích các bạn quỳ gối và lần hạt trước ảnh Ðức Mẹ.
Gioan thường thi đua cuốc đất với anh cậu. Người anh thì lớn và khỏe hơn cậu nhiều, thế nhưng rốt cuộc lần nào anh ta cũng thua. Ðó là vì Gioan áp dụng chiến lược thần sầu quỷ khóc sau đây: Cậu lấy một bức ảnh Ðức Mẹ để ở đàng xa rồi cứ nhắm đấy mà cuốc, cuốc đến chân ảnh Ðức Mẹ, cậu lại dời ảnh Ðức Mẹ đi xa hơn... và cụ thể, cậu nhanh chóng đạt tới đích. Cậu nhìn Mẹ, làm việc với Mẹ, nên tươi vui phấn khởi tràn ngập linh hồn. Cậu vượt thắng anh, và sau này vượt thắng mọi sự với Mẹ.
Làm linh mục, Gioan Vianney lại càng tiến triển mạnh mẽ trong việc sùng kính Ðức Mẹ; ngài miệt mài hun đúc lòng cậy trông vào Mẹ trong các tâm hồn giáo dân xa gần đến xưng tội với ngài. Các ngày lễ Ðức Mẹ đối với ngài là những dịp hân hoan vui mừng nhất. Ngài thường khuyên giục con chiên dọn mình sốt sắng trước các ngày lễ ấy.
Ðặc biệt cha xứ Ars rất có lòng sùng kính Ðức Mẹ dưới tước hiệu Vô Nhiễm Nguyên Tội. Không ai sung sướng bằng ngài trong ngày Ðức Piô IX long trọng công bố Tín điều Ðức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (8.12.1854). Sau khi được phép Tòa Giám mục ngài lên thành phố Lyon, vào tiệm mua một bộ áo lễ hạng nhất, màu xanh da trời (ngài cho là màu hợp với Ðức Mẹ, nên phải xin phép riêng); trên nền màu áo xanh ấy, người ta thêu những nụ hoa bằng kim tuyến óng ánh rất đẹp để thỏa lòng mến yêu của ngài dành cho Ðức Mẹ trong ngày lễ trọng đại tôn kính Mẹ.
Cha Trochu thuật lại rằng: có lần, giáo dân tò mò tụ họp ngoài phòng ngài, trên căn gác của nhà xứ, tình cờ nghe có giọng nói của một phụ nữ nào đó nói chuyện với ngài trong phòng. Họ ngạc nhiên lắng tai theo dõi và nghe ngài nói với bà này những nhu cầu của các linh hồn, gởi gắm nhiều kẻ tội lỗi cứng lòng, than thở, chuyện vãn rất là thân mật... Họ to nhỏ cùng nhau: - Cha sở mình nói chuyện với bà nào vậy hả?
- Ðời nào ngài cho phép phụ nữ lên phòng ngài trên gác? Nhưng đích thực là giọng phụ nữ mà! Lạ quá!
- Ừ! Lạ thực! Tôi cũng nghe rõ ràng giọng của người phụ nữ!
- Nội dung câu chuyện lại toàn là những việc đạo đức, cầu nguyện cho kẻ có tội...
- Mà đâu phải một lần với hai! Có người đã nghe như thế nhiều lần rồi. Thôi phen này mình thử đánh liều đứng đợi ở trước cửa phòng, chờ lúc cha mở cửa ra xem thử có ai không.
Khoảng nửa giờ sau, cánh cửa xịch mở. Cha Vianney bước ra, bất ngờ gặp ngay mấy ông trong giáo xứ đang đứng đợi.
- Chào các ông, có việc gì không? Chắc là xin sổ sách rửa tội, hôn phối chứ gì? Mời các ông vào...
Sẵn dịp tốt, các ông bước ngay vào, nhìn quanh nhìn quẩn một hồi cũng chẳng thấy bóng ai! Lạ thực! Mấy ông nhìn nhau lúng túng. Cha Vianney thấy vậy vội lên tiếng hỏi:
- Mấy ông cần cha giúp việc gì, cứ nói đi!
Một ông đánh bạo nói:
- Thưa cha, chúng con xin thú thực với cha, chúng con chẳng có việc gì cần cả, mà chúng con biết rằng nói dối với cha cũng chẳng xong. Thực ra, mấy lâu nay chúng con có nghe tiếng lạ nói chuyện với cha, mà hình như... người ấy là một phụ nữ! Chúng con biết cha rất thánh thiện trinh trong, không bao giờ cho đàn bà lên gác, thế mà chúng con lại nghe rõ ràng tiếng hai người nói chuyện. Lạ quá! chúng con quyết rình ngoài cửa lần này thì bị cha bắt gặp. Chúng con xin thú thực với cha.
Nghe xong, cha Vianney tỏ vẻ lúng túng, một đàng, ngài khiêm tốn chẳng muốn nói đến ơn trọng mình được, đàng khác, nếu không nói thì nhỡ ra mấy ông này xét đoán dông dài thì thật là bất tiện. Suy nghĩ giây lát, ngài dịu dàng bảo:
- Ðể các ông an tâm, cha xin nói thật với các ông: thỉnh thoảng cha được diễm phúc thấy Ðức Mẹ hiện ra nói chuyện với cha. Cha van xin Mẹ cho các tội nhân ăn năn trở lại, nhất là những kẻ khô khan nguội lạnh, tâm hồn hoang vắng từ lâu... Các ông hãy yêu mến Ðức Mẹ. Ðức Mẹ là mối tình đầu của cha! Nhưng xin các ông giữ kín đừng tiết lộ cho ai biết việc này.
- Chúng con xin vâng lời cha. Chúng con sung sướng quá vì chúng con đã được nghe tiếng Ðức Mẹ. Cha lại còn sung sướng hơn chúng con gấp vạn lần vì cha được gặp gỡ, hầu chuyện với Ðức Mẹ. Thật hạnh phúc biết bao!
* * *
Trước tòa án giáo phận, lúc thẩm vấn các chứng nhân để lập hồ sơ phong thánh cho cha xứ họ Ars, họ đã đặt tay trên Phúc Âm mà thề nói tất cả sự thật. Họ đã thuật lại câu chuyện trên đây. Ngoài ra họ còn trình bày những chứng tích khác thật đơn sơ, cảm động:
- Chính chúng con đã nghe ma quỷ đập đánh cha thánh và gầm thét: "Tao đã bảo mầy biết bao lần, tại sao mầy kính mến cái bà ấy ẳm đứa bé trên tay (Ðức Mẹ bế Chúa Giêsu); vì bà ấy mà tao không hại được mầy! Tại sao mầy vâng lời thằng mặc áo tím (Ðức Giám mục)?... Chúng con đã hỏi lại cha xứ chúng con và ngài cũng đã xác nhận có như thế.
2. Thánh nào cũng kính Ðức Mẹ
* Mẹ làm gương ẩn dật khiêm cung nhưng đồng thời Mẹ luôn luôn hiện diện phục vụ; Mẹ không ra mặt, không lên tiếng, nhưng Mẹ hằng ở gần bên Chúa Giêsu: sống trọn vẹn cho Chúa và Chúa trong con (ÐHV 926).
* Chúa Giêsu đang tiếp tục sống và hành động trong Hội Thánh vì thế Mẹ Maria hiện diện trong Hội Thánh và trong con, Mẹ Hội Thánh và Mẹ con (ÐHV 927).
Mỗi vị thánh đều có những nét đặc thù hoàn toàn khác biệt nhau, "mỗi thánh mỗi thể" mà! Nhưng nếu ta nhìn kỹ, ta sẽ thấy tất cả các ngài cùng có một điểm chung: "Vị thánh nào cũng yêu mến Ðức Mẹ".
* Thánh Gioan Tông đồ thì kể từ giây phút Chúa trối dưới chân Thánh Giá, ngài đã đưa Ðức Mẹ về nhà mình và sống thảo hiếu với Mẹ.
* Thánh Bênađô nổi tiếng về lòng sùng kính Mẹ Maria. Người ta nói chính ngài đã đặt ra kinh "Hãy nhớ" (Lạy Thánh Nữ đồng trinh Maria...). Những câu cuối cùng trong kinh "Lạy Nữ Vương" cũng do ngài thêm vào vì lòng quá mến yêu Ðức Mẹ: "Ôi khoan thay! nhân thay! dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh!".
* Thánh Anphongsô đã nhiệt thành rao truyền lòng thành kính Ðức Mẹ hằng cứu giúp và soạn một tác phẩm gồm 2 cuốn nhan đề là "Vinh quang của Ðức Mẹ" để cổ võ mọi người yêu mến Ðức Mẹ.
* Thánh Ða-minh lãnh nhận sứ mệnh phổ biến việc lần hạt Mân coi như là một phương thế hiệu nghiệm để cứu rỗi bản thân và thế giới.
Ngoài ra còn không biết bao nhiêu là vị thánh đã chép sách, đã cổ võ lòng sùng kính Ðức Mẹ cách này hoặc cách khác; đã được Mẹ hiện ra; đã lập các dòng tu nam nữ với tước hiệu của Mẹ...
Các Ðức Giáo Hoàng cũng luôn luôn nhắc nhở toàn thể Hội thánh phải yêu mến, cậy trông và bắt chước gương Mẹ. Như Ðức Piô V, Ðức Grêgôriô XIII, Ðức Clêmentê XI, Ðức Bênêdictô XIV, Ðức Lêô XIII đều xác nhận: nhờ ơn Ðức Mẹ mà Hội Thánh thoát khỏi nhiều cơn gian nan nguy hiểm không thể tưởng tượng được. Các ngài cũng thúc giục giáo dân lần hạt Mân côi, chạy đến cùng Mẹ trong hết mọi dịp.
Gần ta hơn Ðức Piô IX đã công bố Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm ngày 8.12.1854. Ðức Lêo XIII lập tháng Mân côi (tháng 10) trong toàn thể Hội Thánh. Ðức Piô XI dạy xây một hang đá Lộ Ðức trong vườn Vatican và mỗi chiều ngài đều xuống dạo vườn đến trước hang kính viếng Ðức Mẹ. Ðức Piô XII thì do một sự quan phòng đặc biệt đã thụ phong Giám mục vào chính ngày Ðức Mẹ hiện ra lần đầu tiên tại Fatima (13.5.1917). Ngài đã tuyên bố Tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ngày 1.11.1950. Chính chiều hôm ấy, ngài được xem thấy phép lạ mặt trời xoay vần ngay trên khung trời Vatican y hệt như ở Fatima. Ngài đã dâng loài người cho Trái Tim Mẹ và công bố Năm Thánh kính Ðức Mẹ (1945).
Ðức Gioan XXIII thì có ra một Thông điệp về việc sùng kính Ðức Mẹ (29.9.1961). Ngài đã đi đến tận Loretto, nơi tục truyền có nhà của Ðức Mẹ để cầu nguyện và phó dâng Công đồng Vatican II cho Ðức Mẹ.
Ðức Phaolô VI đã đích thân sang chủ tọa lễ kỷ niệm 50 năm Ðức Mẹ hiện ra tại Fatima (1917-1967), gặp chị Lucia. Ngài cũng đã ban hành một Tông huấn nói về việc Sùng kính Ðức Mẹ (Marialis cultus), đặc biệt nhấn mạnh về kinh Truyền tin, chuỗi Mân Côi và Kinh Cầu Ðức Mẹ.
Trong Hiến chế Tín lý về Hội Thánh, Ðức Phaolô VI và cùng các nghị phụ công bố Ðức Mẹ là "Mẹ Hội Thánh” vào ngày lễ Ðức Mẹ dâng mình vào Ðền thánh 21.11.1964. Ngài cũng đã chọn ngày lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (8.12.1965) để bế mạc Công đồng Vatican II.
Ðức Gioan-Phaolô II là một "Tâm hồn Thánh mẫu". Nhìn lên huy hiệu của ngài, ta thấy trên nền xanh, chỉ có một Thánh giá và một chữ M (Maria) màu vàng núp ẩn dưới cánh thập tự, thực là đơn sơ và giàu ý nghĩa! Khẩu hiệu của ngài càng vắn tắt, thâm thúy và bộc lộ rõ ràng hơn nữa tâm hồn Thánh mẫu: "Totus Tuus", một khẩu hiệu rất khó mà diễn tả hết mọi ý nghĩa: "Tận hiến cho Mẹ, toàn thân thuộc về Mẹ, tất cả đều là của Mẹ..."
3. Tôi ước ao làm linh mục để giảng Mẹ Maria
* Muốn nên thánh, con hãy bắt chước trẻ thơ; nó không hiểu lý thuyết gì, nhưng nó nhìn mẹ nó, nó làm theo mẹ nó, nó tin mẹ nó biết tất cả, làm đúng tất cả. Nhìn Mẹ Maria, làm như Mẹ Maria, con sẽ nên thánh (ÐHV 918).
Ðầu tháng 7 năm 1897, bệnh phổi của chị thánh Têrêxa đã chuyển sang tình trạng trầm trọng, người ta phải đưa chị xuống nằm nhà liệt.
Mẹ Agnes rất xúc động khi đưa mắt nhìn lên căn phòng vắng lạnh của em Têrêxa, nghĩ rằng từ đây chị sẽ không còn trở lại phòng này nữa! Mẹ nói cùng chị:
- Mai ngày chị ra đi, mỗi khi ngang qua phòng này, vắng bóng chị, chúng tôi đau đớn biết là chừng nào!
- Ôi! Mẹ yêu quý! Con xin an ủi mẹ thế này: Mẹ hãy nghĩ con đang được sung sướng trên Nước Thiên đàng và hãy biết rằng một phần lớn hạnh phúc ấy con đã sắm chính tại đây.
Nhìn lên trời, Têrêxa nói tiếp:
- Bởi lẽ con đã phải đau khổ ở phòng này nhiều lắm. Con ước gì được chết tại phòng này!
Vào nhà liệt, Têrêxa nhìn cách âu yếm thiết tha lạ thường bức tượng Ðức Mẹ trưng bày ở đó. Chị Maria đã chứng kiến lần Têrêxa ngất trí, khi ấy hỏi Têrêxa rằng:
- Em nhìn gì thế?
- Thưa chị, chưa khi nào em thấy Ðức Mẹ đẹp quá thế này!... Nhưng lần này là tượng Mẹ, còn lần xưa, chị biết rồi, không phải là tượng đâu...
Một chiều kia, Têrêxa than thở:
- Ôi, tôi mến Mẹ Maria lắm! Giả như tôi là linh mục, tôi sẽ rao giảng về Ðức Mẹ dịu đàng lắm! Người ta cứ bảo Ðức Mẹ rất cao sang, không thể lui tới được. Phải chi cứ giảng rằng: Ðức Mẹ bình dân rất dễ bắt chước! Ngài là Mẹ hơn là Nữ Vương! Ðã có lần tôi nghe nói: Sự sáng láng của Mẹ che lấp các thánh như Mặt trời mọc lên lấn át các vì sao trên trời. Lạy Chúa! Sao lại kỳ dị như thế được? Người Mẹ lại nhẫn tâm lấn át sự vẻ vang của con cái mình ư? Tôi không thể nghĩ như vậy; tôi tin thật rằng Ðức Mẹ sẽ ban thêm sự sáng láng cho những con cái được về Thiên đàng. Ðức Mẹ đồng trinh. Cuộc đời Ngài đơn sơ, giản dị chừng nào! (ÐHV 911, 914).
Mà suốt cuộc đời ở trong Dòng, chị Têrêxa đã liên lỉ kết hiệp mật thiết với Mẹ Maria: các tập sinh thường ngạc nhiên vì thấy chị Giám tập Têrêxa thường đoán đúng ý mình. Chị Têrêxa tâm sự với họ:
"Bí thuật của chị là thế này: Không bao giờ chị nhắn nhủ với các em điều gì mà không cầu xin Ðức Mẹ soi sáng để biết phải bảo thế nào cho các em được ích lợi hơn. Chính chị lắm lúc cũng ngạc nhiên về những điều nhắn nhủ các em. Chị chỉ biết chắc điều này: khi khuyên các em điều gì, chắc chị không lầm, Chúa Giêsu dùng miệng lưỡi chị để nói cùng các em."
4. Phải hiểu sứ điệp thế nào?
* Mấy lời vắn tắt diễn tả cuộc đời Mẹ con; với tâm tình thánh thiện, hãy ghi vào lòng mà suy niệm và bắt chước: "Này con là tôi tá": Ecce. "Con xin vâng": Fiat. "Linh hồn con ngợi khen Chúa": Magnificat (ÐHV 920).
* Chuỗi Mân Côi là giây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm con đường hy vọng của Mẹ: âu yếm như Bêlem, khắc khoải như Ai Cập, trầm lặng như Nazareth, lao động như xưởng mộc, sốt sắng như đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đau khổ bên thánh giá, vui mừng lúc Phục Sinh, tông đồ bên thánh Gioan. Tóm tắt lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Ðừng bỏ chuỗi Mân Côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, nhờ Mẹ, trong Mẹ (ÐHV 922).
* Mẹ có thể hiện ra nơi đô thị, giữa nhà chọc trời, trong các Vương Cung Thánh Ðường, cho các nhân vật quan trọng, các nhà thần học. Nhưng Mẹ đã chọn nơi hoang vu, núi đồi, xa vắng, với những người không ai thèm đến, đến những chỗ không ai muốn đến. Mẹ muốn con cũng đến với Mẹ (ÐHV 930).
* Con hãy tìm giá trị của một đời sống thiêng liêng, một linh đạo sâu xa nơi Mẹ Maria. Mẹ hoạt động, nhưng tất cả mọi cử chỉ và tư tưởng, dù vụn vặt nhất, cũng vì Chúa Giêsu, Mẹ không thể có một giây phút nào ngoài Chúa Giêsu được. Ðời Mẹ là một vực sâu vô tận của nội tâm; trong Mẹ, hoạt động và chiêm niệm không tách lìa: chiêm niệm giữa hoạt động, hoạt động do chiêm niệm (ÐHV 937).
Ðức Mẹ đã hiện ra nhiều nơi trên thế giới: Trà Kiệu, La Vang, La Salette, Trols-Rivières (Canada), Lộ Ðức, Fatima. Ở đâu Ðức Mẹ cũng là Mẹ nhân lành được Chúa ủy phái đến để nhắc lại cho đoàn con tình yêu của Chúa và lời kêu gọi của Chúa trước những khúc quanh lịch sử. Mẹ đến với con người trong tư cách là Ðấng "Ðồng Công Cứu chuộc".
Các trẻ em được thấy tường tận Mẹ Maria như Bênêđêta, Phanxicô, Giacinta và Lucia đã thay đổi hẳn cả cuộc đời, trở nên thánh thiện, tốt lành. Còn chúng ta, chúng ta cũng nhận được sứ điệp của Mẹ, tại sao chúng ta vẫn bê bối và nguội lạnh. Ðó là tại chúng ta hiểu sứ điệp của Mẹ một cách nông cạn, chủ quan:
1- Cải thiện đời sống: Là câu dành cho những người tội lỗi khốn nạn, chứ còn tôi, nếu tôi vẫn giữ đạo thì câu này đâu có đáng cho tôi quan tâm!
2- Tôn sùng Mẫu Tâm: Ðối với nhiều người là trung thành làm tuần cửu nhật kính Ðức Mẹ Hằng Cứu giúp, là chịu khó đi nhà thờ ngày thứ bảy, nhất là ngày thứ Bảy đầu tháng.
3- Siêng năng lần hạt Mân côi: Ðối với nhiều giáo dân là chịu khó lần chuỗi, được càng nhiều chuỗi càng tốt cứ nhắm mắt đọc cho hết 50 kinh Kính Mừng. Giữ đúng như thế là đã làm trọn sứ mệnh của Ðức Mẹ!
Nếu hiểu như vậy mà thỏa mãn là hoàn toàn sai lạc, là một cách đón nhận sứ mệnh Mẫu Tâm hoàn toàn bề ngoài, dễ bị xuyên tạc hết sức.
Kỳ thực, sứ điệp của Mẹ, với những tiếng rất đơn sơ mà ý nghĩa rất sâu xa ấy là cả một đường lối tu đức, một chương trình cứu rỗi. Thiết tưởng chúng ta nên suy niệm và thực hiện sứ điệp của Mẹ Maria như sau:
* Cải thiện đời sống: Là làm cuộc cách mạng triệt để đối với bản thân, là một sự lột xác, là hy sinh những gì dù là nhỏ mọn đến đâu mà chẳng đẹp lòng Mẹ.
Cải thiện liên lỉ để nên giống Mẹ. Cải thiện để hiệp nhất với Chúa Giêsu Con Mẹ. Cải thiện để nên giống gương mẫu trọn lành là Chúa Giêsu.
* Tôn sùng Mẫu Tâm: Không phải chỉ kính mến Trái Tim Ðức Mẹ, làm việc sùng kính Mẹ ngày thứ Bảy đầu tháng, như thế quá dễ!
Tôn sùng Mẫu Tâm đích thực là yêu Mẹ, là quyết tâm tập các nhân đức của Mẹ, là kết hiệp với Mẹ liên lỉ, là tránh tất cả những gì làm phiền lòng Mẹ, là yêu mến Chúa Giêsu và thánh Giuse như lòng yêu mến của Mẹ là hăng say làm việc tông đồ để đưa mọi người đến với Chúa Giêsu nhờ Mẹ Maria.
* Siêng năng lần hạt Mân Côi: Không phải chỉ là lần hạt cho nhiều, nhưng chính là kết hiệp với Mẹ Maria để suy niệm và sống các mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể, để cùng Tử nạn và cùng Phục Sinh với Chúa Giêsu.
Như thế, cuộc đời chúng ta nên một chuỗi Mân Côi sống, diễn tả lại các tâm tình của Chúa Giêsu trong cuộc sống hằng ngày.
Hiểu đúng đắn như thế thì sứ điệp Mẫu Tâm mới đạt tới mục đích mà Mẹ mong muốn: Ðó là một sự tận hiến cuộc đời để dấn thân thực hiện chương trình sống đạo thâm sâu mà Mẹ đã vạch cho người Công giáo giữa lòng xã hội hôm nay.
5. Lòng sùng kính Mẹ của Ðức Gioan XXIII
* Bất cứ chỗ nào con cũng noi gương Mẹ Maria, cho thế gian Chúa Giêsu. Ðiều kiện không phải là nơi chỗ, vì lần đầu tiên, trong chuồng bò, Mẹ đã cho các mục tử Chúa Giêsu. Ðiều kiện là con phải sống bác ái, hiệp nhất vì lúc ấy mới có Chúa Giêsu ở giữa con. Ðời con phải là một lễ Giáng Sinh liên lỉ, mang Chúa Giêsu đến cho mọi người (ÐHV 940).
* Con là tâm hồn trẻ muốn sống rất trung thực, con hãy bắt chước Ðức Mẹ; trong Ðức Mẹ không còn cái "tôi" nữa, tì vết của con người cũ không có. Ðức Mẹ vô nhiễm và đầy tràn Chúa đến nỗi không thể nói đến Mẹ Maria mà không nghĩ đến Chúa Giêsu (ÐHV 941).
Từ tuổi thanh niên, Ðức Gioan đã có một lòng sùng kính Ðức Mẹ tha thiết.
Lúc còn là Ðại chủng sinh, ngày 24.3.1903, thầy Roncalli đã viết: "Ngày mai lễ trọng Truyền Tin, các chuông trên khắp thế giới sẽ vui vẻ lặp lại lời Truyền tin Ave Maria đầu tiên. Các Thiên thần lặp lại với giọng dịu dàng, loài người đọc lại lời chào Ave Maria với giọng xúc cảm!
"Ôi Maria! Maria! giữa bao lời dâng lên mừng Mẹ tốt lành, dịu hiền, thánh hảo xin nghe tiếng con chào Mẹ: Ave Maria!"
Thực là tâm tình của một tâm hồn thánh mẫu đơn sơ, trong trắng, đọc lên nghe vừa âu yếm vừa dịu dàng như một lời thơ.
Ngày 1.5.1903, thầy Roncalli lại viết: "Người có tín ngưỡng đang khai mạc tháng Năm kính Mẹ Ngôi Lời nhập thể... Với tình con thảo, con đến dâng mình dưới chân Mẹ, đặc biệt trong tháng này, xin hiến bản thân và mọi hành động để xin ơn được mến Chúa Giêsu mỗi lúc càng nóng cháy hơn.
"Thêm nhiều lời nguyện tắt để giữ trí lòng tưởng nhớ và yêu quý Mẹ. Dâng hoa, dâng lời chúc tụng, việc đạo đức để xin Mẹ phù trợ là điều làm vui lòng Mẹ. Việc làm vui lòng Mẹ rất khả ái là tháng này tôi nỗ lực, liên tục nhưng không căng thẳng, để làm mọi việc thường ngày theo luật một cách trọn hảo, bình tĩnh vui vẻ không cau có không bao giờ chán chính mình.
"Ôi Mẹ Maria, chính Mẹ đã sinh ra con, xin cho tâm hồn, tư tưởng và hành động con hằng noi theo Mẹ".
Qua những dòng vắn tắt nhưng thực là súc tích ở trên đây, ta thấy thầy Roncalli là một tâm hồn toàn hiến cho Mẹ. Trong suốt cả cuộc đời, từ ngày làm Giám mục, sau các bữa tối, ngài đều lần hạt chung ở nhà nguyện với mọi người trong nhà. Người cho biết đó là thói quen lành thánh mà ngài đã học được với Ðức Cha Radini Todeschi và Ðức Hồng Y Ferrari ở Milanô.
Trên ngôi Giáo Hoàng, ngài đã nhiều lần khuyên bảo giáo dân kính mến Ðức Mẹ Maria, ngài đã chọn 11.10.1962 là ngày Ðức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa để khai mạc Công đồng Vatican II.
Trước đó, vào ngày 29.9.1961, ngài đã công bố Thông điệp Mân Côi. Năm ấy, dù đã đến bát tuần, lại bận rộn chuẩn bị Công đồng Vatican II, nhưng do lòng sùng kính Mẹ thúc đẩy, ngài đã công bố Thông điệp về Mẹ với tâm hồn của một con thơ đối với Mẹ hiền. Sau khi công bố Thông điệp, ngài đã cho phép đăng tải bản văn đó chính tay ngài viết về mười lăm mầu nhiệm chuỗi Mân côi.
Vì nhiều người không có sách "Tâm hồn nhật ký" để có dịp đọc hết cả mười lăm mầu nhiệm, nên ở đây cha xin ghi lại Năm sự Vui để ít là các con có dịp hiểu phần nào tâm hồn Thánh mẫu của Ðức Gioan XXIII.
Nếu con là tâm hồn tận hiến trong Tu viện hoặc ở nhà mà có sách, tại sao thỉnh thoảng con không đem mười lăm mầu nhiệm do chính tay Ðức Gioan XXIII kính mến viết ra để suy ngắm lúc lần hạt? Cha đã làm và thấy rất hữu ích.
Năm sự vui
1. Truyền Tin:
Một biến cố quan trọng nhất của mọi thời đại. Ðiểm sáng chói nhất của sự hợp tác giữa đất trời.
Ngôi Lời tạo dựng mọi sự hóa thân làm người cứu rỗi nhân loại.
Maria Vô Nhiễm, hoa thơm đẹp nhất, đẹp nhất thụ tạo, đáp lời thiên sứ: "Này tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng" và lập tức cưu mang để làm Mẹ Thiên Chúa và làm Mẹ chúng ta.
Cao cả dịu đàng thay mầu nhiệm Truyền tin!
Phận sự chính yếu và liên tỉ của chúng ta là tạ ơn Chúa đã nhận làm người để cứu rỗi và làm Anh của các anh em đồng tử của Mẹ Maria. Khi nguyện mười kinh, ngoài sự tỏ lòng tri ân, sẽ xin ơn khiêm nhường, trong trắng thực sự, và lòng mến Chúa cao cả mà Maria là gương mẫu dịu dàng.
2. Thăm viếng:
Cuộc thăm viếng tốt đẹp. Cả hai cùng chờ ngày sinh con. Hai lời chúc tụng rất hòa điệu: "Em có phúc hơn mọi người nữ" vì "Chúa đã nhìn đến phận hèn tớ nữ, nên mọi thế hệ sẽ khen em có phúc" (Lc 1,42).
Từ đồi Ain-Karim, đã chiếu dọi một ánh sáng vừa cao siêu vừa nhân phàm, gương mẫu của gia đình sống mầu nhiệm Mân Côi. Ngày nay cũng có nhiều gia đình như thế; từ những gia đình này phát xuất nhiều ơn gọi làm linh mục, làm thừa sai, làm tông đồ trong mọi lãnh vực: sĩ, nông, công, thương.
Khi đọc mười kinh Kính Mừng, chúng ta xin được hòa hợp yêu thương, không những trong gia đình ruột thịt mà cả những anh em họ hàng, đồng bào và đồng loại.
3. Sinh Chúa ở Bêlem:
Thiên Chúa xuất hiện từ cung lòng vô nhiễm, nằm trong máng cỏ. Quanh Ngài là yên tĩnh, nghèo khổ, đơn sơ và trong trắng. Sau tiếng thiên thần chúc tụng, đến tiếng chúc tụng của mục đồng nghèo. Tiếp sau đó là sự viếng thăm của các nhân vật với những lễ vật quý giá. Ðêm Bêlem đó là đêm quốc tế.
Mọi dân tộc đã đến quỳ quanh máng cỏ, Chúa Hài Ðồng nhìn từng người thuộc các dân nước: Do Thái, Roma, Hy Lạp, Trung quốc, Châu Phi, các dân nước thuộc dĩ vãng, hiện tại và tương lai.
Qua mười kinh Kính Mừng, ta dâng toàn thể con trẻ được sinh ra trong vòng 24 tiếng trong ngày sinh chúng, dù được rửa tội hay không, vẫn thuộc về Nước Công lý Hoà bình của Chúa.
4. Dâng vào Ðền thánh:
Thánh Giuse có mặt trong khi Chúa Giêsu trên tay Mẹ xuất hiện giữa hai Giao ước, như là ánh sáng mạc khải của nhân loại.
Khi đọc mười kinh Kính Mừng, ta mừng cho Hội Thánh đang nẩy nở, với những chủng sinh và tập sinh nơi chủng viện, tu viện, trường thừa sai, đặc biệt là lớp tông đồ giáo dân đang lên. Hội Thánh vẫn lớn lên giữa bách hại, trong viễn tượng đầy khích lệ khiến ta thốt lên lời hân hoan.
5. Gặp lại Chúa trong Ðền thánh:
Dù theo dõi, dù chăm sóc, hai ông Bà vẫn lạc mất Chúa Giêsu, vất vả ba hôm mới tìm lại được, và gặp Ngài ngồi giữa các tiến sĩ, thưa hỏi khôn ngoan.
Chúa khôn ngoan vẫn ở giữa Hội Thánh. Hội Thánh hằng lắng nghe tiếng nói của thời đại, đáp lại cho cả một giáo thuyết khôn ngoan, và khiêm nhường hướng về tương lai tìm hiểu cách khoa học.
Qua mười kinh Kính Mừng, ta đặc biệt cầu cho những ai được gọi phục vụ sự thật, bác ái, sưu tầm, giảng dạy, truyền bá chân lý bằng phương tiện truyền thông, phương pháp thính thị. Cầu cho các nhà bác học, giáo sư, nhà báo, đặc biệt những thợ Phúc Âm biết noi gương Chúa, trình bày sự thật cách chân thành, không mưu mô giả dối".
Nếu không nói trước thì ai ngờ được những tư tưởng sâu sắc, mới mẻ này là của một cụ già 80 tuổi!
Con thử suy niệm xem có hay không.
6. Ðức Bà phù hộ các giáo hữu
* Muốn biết Mẹ con tốt đẹp chừng nào, con hãy nhớ Mẹ Chúa Ngôi Hai, cao cả, toàn năng: Phúc cho con chừng nào vì Ngài cũng là Mẹ của con. Nếu không phải Chúa Giêsu nói, con không thể hiểu được (ÐHV 917).
* Ðọc kinh cầu Ðức Mẹ là sách đơn sơ Hội Thánh dạy con hiểu và nhớ các tước hiệu, quyền năng, nhân đức, lòng yêu thương của Mẹ con; càng nhìn Mẹ, con càng sung sướng, hy vọng cho số phận con đang chiến đấu vất vả và con kêu Mẹ như trẻ thơ: "Cầu cho chúng con! Cầu cho chúng con!" (ÐHV 919).
* Con trào trào nước mắt đến với Mẹ, an ủi kẻ âu lo, con đau khổ ê chề, đến với Mẹ phù hộ các giáo hữu, con tội lỗi ngã sa, đến với Mẹ bầu chữa kẻ có tội và chính con, hãy trở thành một Maria khác, để đón tiếp mọi người đến trú ẩn và con cũng sẽ là nguồn sống, là an vui, là hy vọng của anh em (ÐHV 935).
Thánh Gioan Boscô có lòng kính mến Ðức Mẹ dưới danh hiệu "Ðức Bà phù hộ các giáo hữu". Bất cứ việc gì của riêng ngài, của nhà dòng ngài sáng lập, của Tòa Thánh hoặc của kẻ khác đến xin ngài cầu nguyện, giúp đỡ, ngài luôn luôn trả lời bằng câu: "Chúng ta hãy cầu nguyện cùng Ðức Bà phù hộ các giáo hữu".
Sống trong thời đại bè Tam điểm hoành hành dữ dội tại Ý, cha Boscô là một trở ngại, là kẻ thù đệ nhất của chúng. Công việc của ngài làm, sách báo do ngài viết, ảnh hưởng của ngài trên giới trẻ... tất cả đều làm cho hỏa ngục và tay sai của nó căm thù ngài cách đặc biệt.
Ðể thỏa lòng sùng kính Ðức Bà phù hộ các giáo hữu và để giải quyết nhu cầu của giáo dân, ngài đã khởi công xây một ngôi thánh đường dâng kính Ðức Mẹ ở Torinô. Công việc đang tiến hành cách tốt đẹp, mọi người đều phấn khởi nô nức chờ đợi ngày khánh thành... thì bỗng một đêm kia, trời quang gió lặng, người ta nghe một tiếng ầm như sét nổ: ngôi thánh đường sắp khánh thành trong phút chốc đã trở thành đống gạch vụn! Sáng hôm sau, mọi người đều tiu ngỉu, buồn phiền, cha Boscô cũng không khỏi âu sầu khi biết mình đang trong cảnh túng thiếu, lấy tiền đâu mà xây dựng lại? Ngài suy nghĩ trong chốc lát rồi nói: "Ma quỷ muốn phá công cuộc của tay Mẹ, chúng ta đừng nản lòng, cứ tiếp tục! Hãy tin tưởng nguyện cầu của Mẹ..." Và thật thế, một thời gian sau, công việc được tiến hành lại một cách đều đặn, và ngôi thánh đường đã hoàn thành.
* * *
Nhiều công việc bận rộn khiến cha Boscô phải đi sớm về khuya. Mọi người đều tỏ ý lo ngại, sợ ngài bị kẻ thù ám hại. Mỗi lần như thế, ngài đều vui vẻ trả lời: "Có Ðức Mẹ! Có Ðức Mẹ! "Và điều con cái ngài nơm nớp lo sợ thực sự đã xảy đến: Mấy lần ngài bị chúng thuê bọn du đảng chận đánh, nhưng lần nào ngài cũng thoát nạn. Tại sao?
Ðây là một trường hợp điển hình: Tối ấy cha Boscô đi qua một khu phố hoang vắng, bỗng chốc từ trong một gốc đường, mấy bóng đen nhảy ra, lấy một cái bao tải chụp lên ngài:
- Phen này mày đã chết chưa? Bọn tao đã cảnh giác mà mày không nghe!
Chúng nó mới đấm đá được vài cú thì một con chó xam xám thực lớn không biết từ đâu nhảy tới, vồ lên cắn xé bọn chúng rất dữ tợn: đứa thì bị thương trên đầu, đứa chảy máu ướt cả cánh tay, đứa thì rách hết quần áo... Khiếp sợ quá, chúng bèn thả ngài ra và lớn tiếng kêu cứu: "Cha Boscô ơi, cứu chúng tôi với! Nó cắn chết chúng tôi bây giờ!" Cha Boscô vùng vẩy thoát ra khỏi bao tải và gọi đại con chó "xam xám". Con chó bỗng trở nên hiền lành, ngoắc đuôi chạy lại đứng cạnh ngài. Mấy chú du đảng một phen hú hồn, đâm đầu chạy trối chết. Con chó xám đưa cha Boscô về tận nhà rồi biến mất. Từ đó về sau, mỗi khi đêm đến, ngài có chuyện phải đi đâu xa nhà, thì con xám lại xuất hiện đi kèm một bên, hễ ai động đến ngài nó liền vồ lên cắn xé khủng khiếp. Và khi ngài đã về đến nhà yên lành thì không thấy bóng dáng nó nữa. Phần cha Boscô, từ ngày con xám xuất hiện, vẫn thản nhiên điềm tĩnh. Ai bàn đến chuyện con xám, ngài chỉ trả lời: "Hãy trông cậy Ðức Bà phù hộ các giáo hữu".
* * *
Một cậu thanh niên học trò của cha Boscô bị ốm nặng. Cậu van nài gia đình tìm cho kỳ được cha Boscô để cậu xưng tội với ngài. Nhưng rủi thay, hôm ấy cha Boscô lại đi vắng. Khi được tin khẩn, ngài trở về thì cậu đã qua đời. Gia đình cậu ta vô cùng đau đớn, khóc lóc thảm thiết trước mặt cha Boscô. Ngài bình tĩnh sốt sắng quỳ bên thi hài cậu thiếu niên và tha thiết cầu xin cùng Ðức Bà phù hộ các giáo hữu.
Lạ lùng thay! Một lúc sau bỗng nhiên, cậu thiếu niên bắt đầu động đậy. Cậu mở mắt nhìn quanh, rồi ngồi bật dậy. Cậu vui mừng ôm lấy cha Boscô và sốt sắng xưng tội với ngài. Cha con tâm sự một hồi lâu trong bầu khí thân mật, âu yếm. Ngài cho cậu rước Mình Thánh Chúa rất sốt sắng. Sau đó, cha Boscô để cậu nói chuyện vui vẻ với gia đình. Trong câu chuyện, cậu thuật lại một cách vui tươi: "Bố mẹ à, đáng nhẽ ra con phải mất linh hồn vì con đã chết đi khi trong lòng còn mắc tội trọng. Con đã trông thấy hỏa ngục: thật vô cùng khủng khiếp! Vừa trông thấy ma quỷ và các linh hồn khốn nạn bị giam cầm trong đó, con hãi hùng quá đỗi! Nhưng may có lời cầu nguyện và công nghiệp cha Boscô của con, Ðức Bà phù hộ các giáo hữu đã xin Chúa cho con được khỏi án phạt đời đời và sống lại đợi đến lúc cha Boscô trở về để xưng tội chịu lễ".
Cha Boscô đợi cậu nói chuyện một hồi lâu rồi nhẹ nhàng hỏi:
- Con đã được dọn mình sẵn sàng, con đã được gặp mặt gia đình vui vẻ, bây giờ tùy ý con, con muốn sống hay muốn lên Thiên đàng?
- Thưa cha, nếu sống, nhỡ con sa ngã mất lòng Chúa thì mất tất cả. Giờ đây con rất hạnh phúc, con ước ao được về Thiên đàng để ở bên Chúa và Mẹ Maria.
Cậu ôm hôn giã biệt cha Boscô, cha mẹ và gia đình rồi nằm xuống nhắm mắt an nghỉ. Cha Boscô cùng toàn thể gia đình quỳ gối cảm tạ ơn Ðức Bà phù hộ các giáo hữu.
7. Mariapolis và Opus Mariae
* Lòng con rộng bao la, nhưng túi con có giới hạn, chỉ có một món quà con còn có thể cho luôn, một quà tặng thỏa lòng con, một quà tặng quý không ai có thể mua nổi, một quà tặng tốt không gì sánh bằng: hãy cho họ Chúa Giêsu như Mẹ Maria (ÐHV 934).
Chị Chiara Lubich là người sáng lập ra phong trào Focolare vào năm 1943. Lý tưởng chị đề ra là: "Hiệp nhất mọi thành phần của nhiệm thể". Với một lòng mến yêu Ðức Mẹ tha thiết, và dần dần men theo sự phát triển của phong trào, chị đã đặt thêm cho nó một cái tên xinh đẹp: "Công trình của Mẹ" (Opus Mariae) và các cuộc đại hội hằng năm của phong trào được gọi là "Ðô thành của Mẹ Maria" (Mariapolis), vì đó không phải là những cuộc đại hội để đọc tham luận hoặc để bàn cãi, nhưng là một nơi mà mọi người đều tràn ngập tình thương mến lẫn nhau như ở trong căn nhà của Mẹ Maria vậy.
Biết bao lần người ta nghe chị Chiara Lubich nói lên nhiều điều tốt đẹp về Mẹ. Ở đây cha xin ghi lại cho các con một vài mảnh vụn, tư tưởng xinh tươi về Mẹ Maria đã được chị Chiara Lubich viết ra đó đây:
* Không phải để hát Magnificat
"Ðức Trinh nữ Maria đi đến nhà bà Isave không phải để hát kinh Magnificat (Linh hồn tôi ngợi khen Chúa) mà là để giúp đỡ bà chị họ. Ta cũng thế, ta đừng đi đến với người khác để phô bày kho tàng trong quả tim ta, nhưng để cùng vác gánh nặng những khổ đau của họ và chia sẻ niềm vui cũng như trách nhiệm của họ.
"Như thế là hành động tốt đẹp. Vả lại cũng sẽ đến giờ ta mở rộng lòng ta cho người anh em để chia sẻ cho họ sự giàu có đích thực của ta và cùng nhau yêu mến Ðấng đã thúc giục ta nhìn nhận và đối xử với nhau như là anh em ruột thịt".
* Cuộc cách mạng lớn lao nhất trong lịch sử loài người, lối phản chứng trung thực nhất, Mẹ Maria đã làm với Chúa Giêsu, trong chính mình, không đập đổ, không tiêu diệt, không đến để phá lề luật, nhưng để hoàn thành lề luật, nhưng đã hy sinh để giây phút lịch sử được thực hiện: Tân Ước đã được thiết lập, thay thế Cựu Ước (ÐHV 938).
* Con thích phiêu lưu, hãy bước theo đời Mẹ là "một cuộc hành trình phiêu lưu trong đức tin", chỉ biết phó thác mọi sự trong tay Chúa, và tiến đi, dù máng cỏ, dù Ai Cập, dù Nazareth, dù Golgotha, cứ tin và đi. Phiêu lưu vô cùng bảo đảm (ÐHV 939).
* Với Mẹ Maria
"Khi các môn đệ tụ họp quanh Mẹ Maria, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống trên họ cách mãnh liệt và họ bắt đầu nói lên lời hằng sống với sức mạnh phi thường, rung chuyển ngàn vạn tâm hồn khiến họ quyết tâm theo Chúa Giêsu, Hội Thánh khởi đầu như thế...
"Với Mẹ Maria là sự hiện diện của tình yêu, một tình yêu mới mẻ. Nếu người Kitô hữu biết yêu nhau như có Mẹ Maria giữa chúng ta, thì tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ hiểu rõ hơn Lời Chúa do các Ðấng kế nghiệp các Tông đồ rao giảng. Lời Chúa sẽ thấm sâu vào lòng ta và làm nổ tung quanh ta cuộc cách mạng Kitô hữu. Phải nói thẳng ra rằng nhiều người mang danh nghĩa là Kitô hữu để ngủ, để chơi, để mất giờ theo văn thư chuyện không quan trọng, đang lúc ấy cuộc cách mạng của hận thù đang xâu xé thế giới..."
* Nỗi đau khổ càng gia tăng khi cảm thấy mình bất lực; dưới chân thánh giá, Mẹ nhìn con thân yêu, Mẹ bất lực hoàn toàn; càng yêu thương, lòng Mẹ càng tan nát. Nhưng Mẹ đứng vững, để Mẹ ấp ủ con những khi con cảm thấy bất lực trước đau khổ (ÐHV 944).
* Dưới chân thánh giá, con thấy Mẹ Maria đạt đến mức độ anh hùng của mọi nhân đức: hiền lành, khiêm nhượng, thinh lặng, nhẫn nại, tin tưởng, cậy trông, yêu mến (ÐHV 945).
* Cuộc Tử nạn của Mẹ Maria
"Chúng ta ít suy ngắm về sự thương khó của Mẹ Maria quá! Chúng ta ít suy niệm lưỡi đòng đã đâm thâu trái tim Mẹ, ít nhớ đến cái cảm tưởng kinh khủng như bị bỏ rơi của Mẹ trên Núi Sọ, khi Chúa Giêsu trao Mẹ lại cho một người khác...
"Có lẽ bởi vì Mẹ Maria đã khéo léo ẩn che nỗi đau thương của mình, đã giấu cơn hấp hối khốn khổ của mình trong dịu hiền ánh sáng, trong thinh lặng. Ðối với ta, Mẹ là Ðấng Vô nhiễm, là Mẹ đẹp xinh, là Mẹ Chúa Giêsu, đúng thế! Nhưng ta ít nhớ Mẹ là Mẹ chịu đóng đinh, mặc dù không có sự đau đớn nào bằng sự đau đớn của Mẹ.
"Nếu ngày nào đó, lúc sự đau đớn của ta đến cực độ, lúc cả con người của ta vùng vẫy cuồng loạn, vì chính kết quả của sự đau khổ của ta hình như bi rút khỏi tay ta, cắt lìa khỏi lòng ta, giây phút ấy, ta hãy nhớ đến Mẹ.
"Vì nhờ sự khổ nạn ấy mà chúng ta nên giống Mẹ phần nào, vì nhờ đó mà hình ảnh Mẹ Maria in rõ hết vào tâm hồn ta. Mẹ là Mẹ toàn xinh, là Mẹ của mọi người vì do ý Chúa, Mẹ đã phải chia lìa khỏi mọi người và nhất là chia lìa khỏi Con yêu dấu Mẹ (nhờ hy sinh chịu phân ly như vậy mà Mẹ lại càng gần gũi ta hơn, làm Mẹ yêu thương ta hơn).
* Ðức Mẹ hoàn toàn sống cho Chúa Giêsu, sứ mạng của Mẹ là đồng công cứu chuộc với Chúa Giêsu. Tất cả vinh danh của Ðức Mẹ là do nơi Chúa Giêsu. Ðức Mẹ không là ai cả, nếu con không phải là Chúa Giêsu, nếu cả đời Ðức Mẹ không phải là cho Chúa Giêsu. Ðời con không là gì cả nếu tách lìa Chúa Giêsu (ÐHV 936).
* Sống lại cuộc đời Mẹ Maria
".. Làm sao sống lại cuộc đời của Mẹ Maria? Hãy trao tặng cho thế gian Chúa Giêsu đang hiện diện trong ta, đang hiện diện trong cộng đoàn của ta nhờ đức ái. Sống lại cuộc đời của Mẹ là phục vụ Hội Thánh, phục vụ đúng mức những kẻ giờ đây, giữa chúng ta, đang đại diện Chúa Kitô và thánh Phêrô, nghĩa là Ðức Thánh Cha và các Giám mục..."
* Sự hy sinh toàn hiến của Mẹ càng cao quý khi Mẹ phó thác cho Chúa trọn vẹn; đi ngược lại với ước nguyện của các thiếu nữ thời ấy. Mẹ đã quyết sống đồng trinh. Chúa đã ban cho Mẹ cả hai: vừa đồng trinh vừa làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ nhân loại (ÐHV 933).
* Ðây là Mẹ con
"Chúng ta hãy xưng đạo làm con đối với Mẹ, không phải chỉ để ca ngợi và noi gương Mẹ, nhưng để giúp Mẹ, chia sẻ những cuộc chiến đấu, những công việc của Mẹ, tuân theo ước muốn của Mẹ. Làm con Mẹ là chịu đau khổ và chiến đấu trong các cuộc chiến mà Mẹ chỉ huy ở trần gian qua các thế kỷ. Thánh Kinh đã giới thiệu với thế giới: Mẹ là Ðấng đã đạp nát đầu con rắn.
"Ta phải sống xứng tình hiếu thảo đối với Mẹ, chu toàn vượt mức trách nhiệm của ta, đến mức độ mà ta coi tất cả thao thức của Mẹ đối với nhiều đứa con hoang đàng của Mẹ như chính là nỗi âu lo của chúng ta, đến mức độ mà ta nên như những cánh tay nối dài của Mẹ để làm lành giữa trần gian, đến mức độ mà người ta cũng có thể nói về chúng ta: "và từ lúc ấy môn đệ đem Bà về nhà mình".
8. Lòng sùng kính Mẹ chân chính
* Ðức Mẹ thiếu tất cả những gì trần gian cho là hạnh phúc. Ðọc kinh "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa", con thấy Mẹ như một vực sâu "thấp hèn", "tôi tá", "người hèn mọn", "người đói khát". Nhưng Chúa đã nhìn đến vực thẳm ấy và với lòng thương xót, đã làm cho Mẹ "đầy ơn phước", nghĩa là đầy ơn Chúa (ÐHV 931).
* Không Thiên Chúa, con hoàn toàn trống rỗng, cô đơn, khốn nạn. Mức độ sung mãn hạnh phúc của con người con tùy mức độ con liên lạc với Thiên Chúa. Mẹ Maria hoàn toàn hướng về Thiên Chúa; Ngài thấy Mẹ là thụ tạo toàn hảo như ý Ngài. Mọi sự tốt đẹp của Thiên Chúa biểu lộ cách trong sáng nhất trong Mẹ (ÐHV 942).
* Mẹ Maria là hiện thân của sự nghèo khó; Mẹ sống nghèo cách tự nhiên vui vẻ; Mẹ yêu mến cuộc sống nghèo, vì lòng Mẹ giàu, kho tàng Mẹ lớn; Mẹ nghèo nhất, Mẹ đẹp nhất, vì Mẹ đẹp với vẻ đẹp của Chúa Giêsu. Có gì nghèo bằng thiên nhiên, mà lại đẹp như thiên nhiên: từ ái như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, óng ánh như hạt sương, dễ thương như chim sẻ, thơm tho như cành huệ nơi thanh vắng (ÐHV 943).
Nói đến lòng sùng kính Mẹ Maria, chúng ta không thể không nhắc đến thánh Louis de Montfort (1675-1716). Ngài đã rao giảng lòng sùng kính Mẹ suốt đời, Giáo thuyết của ngài về Maria đã được cô đọng lại trong một cuốn sách mang tựa đề thật đẹp "Sách vàng" (Livre d'or) trong đó gồm các tác phẩm:
- Bí quyết nên thánh.
- Sùng kính chân chính.
- Phụ lục: chuẩn bị tận hiến và bảy đề tài học tập.
Tuy cuốn sách đã chào đời năm 1712, nhưng ngày nay đối với chúng ta vẫn là một đường lối sùng kính Mẹ Maria căn bản và thiết thực. Ở đây chỉ nhắc lại một vài điểm thiết yếu của tinh thần thánh Montfort:
Bảy hạng người và bảy lối đạo đức giả trong việc tôn sùng Ðức Mẹ:
1- Hạng ưa kích bác:
Viện cớ đả phá những lợi dụng quá đáng, họ làm cho dân chúng rời xa sự tôn sùng Mẹ Maria một cách có hiệu quả.
2- Hạng quá thận trọng:
Họ quan niệm rằng tôn sùng Mẹ là làm kém thể diện Chúa Giêsu. Nhưng có lúc nào Chúa được vinh danh cho bằng lúc ta tôn sùng Mẹ?
3- Hạng tôn sùng bề ngoài:
Lần nhiều chuỗi, xem nhiều lễ, thích rước kiệu, vào các hội đoàn nhưng không noi gương Mẹ, tật xấu không chừa, lúc hết cảm hứng thì phế bỏ tất cả.
4- Hạng tự phụ đạo đức:
Họ xưng mình là con Ðức Mẹ, có lần chuỗi, làm tuần cửu nhật, ăn chay ngày thứ bảy, vào hội Mân Côi, mang áo Ðức Bà, mang ảnh Ðức Mẹ, nhưng cứ chấp nê trong tình trạng tội lỗi, không kể tiếng lương tâm; họ lạm dụng lòng tôn sùng Ðức Mẹ để tiếp tục phạm tội.
5- Hạng bấp bênh:
Họ không bền vững, lúc làm, lúc bỏ, lúc sốt sắng, lúc nguội lạnh, không phải là con trung tín của Mẹ. Tốt hơn đừng làm những việc sùng kính Mẹ lúc thái quá, lúc bất cập, nhưng phải trung kiên bất chấp ma quỷ, xác thịt, thế gian.
6- Hạng đạo đức giả:
Bên ngoài giả hình sốt sắng kính mến Ðức Mẹ, nhưng để che dấu tội lỗi bên trong, làm cho người khác lầm tưởng rằng họ là người tốt.
7- Hạng vụ lợi:
Chạy đến với Mẹ chỉ khi nào túng bấn cầu xin ơn, đòi nợ, thi đỗ, lành bệnh hay vì nhu cầu nào khẩn trương hơn. Ðược ơn rồi là phủi tay bỏ Mẹ, xa Chúa.
* Năm cách tôn sùng đích thực:
1- Tôn sùng thiết thực:
Thành thực trong tâm hồn, trong trí khôn, trong hành động, trong gia đình cũng như ngoài xã hội, luôn tỏ ra xứng đáng là một người con, một người chiến sĩ của Mẹ.
2- Tôn sùng tha thiết:
Như con thơ trên tay Mẹ hiền. Qua mọi biến cố bên ngoài cũng như bên trong, liên lỉ kết hợp với Mẹ, cầu cứu với Mẹ, không sợ phiền Mẹ, phó thác tất cả cho Mẹ.
3- Tôn sùng thánh thiện:
Cùng với việc tôn sùng Mẹ bên ngoài, trong lòng dứt khoát với tội lỗi và thực thi các nhân đức của Mẹ: khiêm tốn sâu xa, tin tưởng mãnh liệt, vâng lời triệt để, nguyện cầu liên lỉ, hy sinh trong mọi việc lớn nhỏ, trong trắng trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Mến Chúa Giêsu và thánh Giuse tha thiết.
4- Tôn sùng bền đỗ:
Mặc dù có lúc yếu đuối, có hồi chán nản vì bị người ta phi bác là mình sống khác với kiểu cách tư tưởng trần gian, nhưng vẫn biết chỗi dậy, biết đứng vững trong đàng trọn lành. Không mến Mẹ theo tình cảm. Kính yêu Mẹ vì đức tin sắt đá.
5- Tôn sùng vô vị lợi:
Chân thành yêu mến Mẹ không phải để có lợi cho mình, để được phúc trần gian hay phúc thiên đàng, nhưng chỉ vì thấy Mẹ đáng mến và vì muốn phục vụ Chúa Giêsu trong Mẹ thôi. Hễ phục vụ tất nhiên sẽ được phúc thiên đàng. Dù buồn chán, khô khan, gặp thử thách, vẫn yêu mến Mẹ. Hạng vô vị lợi này thật khó tìm. Thánh Montfort viết: "Cũng vì để hạng sùng kính Mẹ vô vi lợi này được thêm nhiều lên, tôi mới viết lại những gì tôi đã trình bày trong các tuần đại phúc khắp nơi trong bao nhiêu năm trời".
* * *
Tận hiến cho Mẹ:
Theo thánh Montfort, lòng thành thực sùng kính Mẹ phải đi đến tột đỉnh là tận hiến cho Mẹ.
Ngài viết: "Tôi đã nói: Ðiểm chính của đời tận hiến là làm mọi việc với Mẹ, trong Mẹ, nhờ Mẹ và vì Mẹ. Vào hội tận hiến, mỗi ngày đọc đôi kinh, việc đó không có chi là khó cả; đi sâu vào tinh thần tận hiến mới thực là khó: Ta phải thực tâm tùy thuộc, làm nô lệ của Mẹ và nhờ Mẹ làm nô lệ của Chúa Giêsu. Tôi đã gặp nhiều người nhiệt thành tận hiến nhưng chỉ bề ngoài: người có tinh thần tận hiến thật ít có, người bền đỗ sống đời tận hiến lại càng hiếm hơn". Ngài giải thích:
1- Với Mẹ: Nghĩa là khi làm bất cứ việc gì, người tận hiến phải lấy Ðức Maria làm mẫu gương trọn hảo nhất để theo.
2- Trong Mẹ: Khi làm việc gì, ta tạo trong trí khôn hình ảnh Mẹ Maria như nhà nguyện nhỏ ta vào trong đó cầu xin, Chúa Cha sẽ không bao giờ từ chối... Ta hoạt động là hoạt động trong Mẹ, không bao giờ theo ý mình trong bất cứ việc gì.
3- Nhờ Mẹ: Bao giờ đến với Chúa Giêsu cũng phải đều nhờ Mẹ, nhờ Mẹ can thiệp với Chúa. Không xin gặp riêng Chúa để thưa một việc gì.
4- Vì Mẹ: Ðã làm nô lệ của Mẹ thì việc gì làm cũng vì Mẹ, trước là làm vinh danh Mẹ, sau là nhờ Mẹ mà làm cho danh Chúa cả sáng. Trong mọi hoạt động của con, hãy loại trừ con người của con, bởi vì tính tự cao, tự đại, tự mãn, vị kỷ... nó xâm nhập lúc nào cũng không thấy được.
Tâm hồn tận hiến, theo thánh Montfort, phải phục vụ Chúa như người nô lệ của tình thương. Ngài giải thích đơn sơ rõ ràng: "Tôi xin nói ra là chúng ta phải lệ thuộc và phục vụ Chúa Giêsu không như người làm thuê có tiền, nhưng như nô lệ của tình thương, mà vì hết lòng quý mến Chúa nên hiến mình làm nô lệ để phục vụ Chúa, coi việc được lệ thuộc Chúa là một vinh dự rất cao cả...
"Xưng mình là nô lệ Maria, có nghĩa là nhờ Mẹ mà làm nô lệ của Chúa một cách hoàn hảo hơn. Maria là phương tiện Chúa dùng để đến với ta, ta cũng phải nhờ Maria mà đến với Chúa (Thánh Augustinô)".
9. Tinh thần tận hiến của đạo binh Ðức Mẹ
* Ai mến Mẹ thì yêu thích chuỗi Mân Côi. Bởi vì chỉ có người yêu mới lặp lại một chuyện, một lời mà không biết nhàm chán (ÐHV 947).
Như chúng ta đã thấy trên đây, ông F. Duff đã nhờ giáo lý Thánh Mẫu của thánh Louis Montfort mà lập ra Ðạo Binh Ðức Mẹ. Và cũng nhờ nghiền ngẫm các tác phẩm của thánh nhân mà kể từ năm 1921, ông đã hướng dẫn nhiều người tận hiến cho Mẹ cách hoàn hảo.
Theo ông, đường lối chủ yếu là trực tiếp tận hiến cho Chúa Thánh Thần theo gương mẫu Mẹ Maria, nhờ Mẹ Maria để cộng tác vào việc đổi mới xã hội.
Một thiếu nữ thuộc Ðạo binh Ðức Mẹ, bị giam trong ngục tù của Trung Quốc tại Côn Minh tới cách mạng văn hóa, đã ghi lại trong mảnh giấy nhỏ tâm tình tận hiến của chị. Mảnh giấy ấy đã được trao cho gia đình chị trước ngày chị vĩnh biệt cõi đời.
Ngày con vừa hiểu Mẹ khiết tâm.
Mẹ ôi! Con mến Mẹ vô ngần.
Nhớ một chiều hôm bên Thánh giá,
Yêu Con, âm thầm Mẹ hiến dâng.
* * *
Con dâng muôn sự giữa thế trần:
Xác hồn của cải với người thân,
Ngày đêm say sưa con cầu khẩn:
Con là của Mẹ vạn muôn lần.
10. Ðức Maria, người Mẹ làm cho chúng ta hy vọng
* Phản ứng đầu tiên của trẻ thơ là gọi: "Mẹ ơi!" khi lo sợ, khi lúng túng, khi đau buồn. Tiếng Mẹ là tất cả cho trẻ. Con hãy năng gọi: "Mẹ, Mẹ ơi! Con yêu mến Mẹ, Mẹ là tất cả của con" (ÐHV 921).
* Không quà gì quý bằng quà mà lòng Mẹ Maria tặng cho chúng ta: Chúa Giêsu, món quà quý nhất. Chính lòng Ðức Mẹ cũng quý nhất vì "Giêsu con lòng Bà" (ÐHV 923)..
* Con thơ bắt chước mẹ tất cả, dù khó khăn nguy hiểm, không phải vì có ý theo gương mẹ, vì mẹ là thần tượng, là tất cả, nhưng vì yêu mẹ, tin mẹ. Xem mẹ uống thuốc, con uống theo, mẹ đi ở tù, con vào theo. Mẹ Maria là tấm gương sáng vừa tầm con, con hãy mô phỏng gương Mẹ. Chúa Ba Ngôi không thể làm một tâm hồn thánh thiện hơn được (ÐHV 925).
Không một ai hiểu rõ lòng sùng kính Mẹ Maria của dân tộc Balan mà lại không biết đến bức ảnh danh tiếng của Mẹ ở Jasna Góra, trong giáo phận Czestochowa.
Mùa hè năm 1957, Ðức Piô XII đã làm phép bức tượng ấy. Nó vừa được người ta họa lại và không ngừng đi thăm viếng các giáo phận trong nước Balan. Bức tượng đến đâu, ơn lành Mẹ tuôn vãi đến đó cho hết mọi người giáo hữu tới kính viếng.
Còn Ðức Gioan Phaolô II, người con ưu tú nhất của dân tộc Balan thì có một lòng sùng kính Ðức Mẹ cách đặc biệt. Chính khẩu hiệu của ngài: "Totus tuus" (Hoàn toàn thuộc về Mẹ) nói lên điều ấy một cách hùng hồn hơn cả.
Trong bức thông điệp đầu tiên của triều đại Giáo Hoàng của ngài (Redemptor hominis) công bố 4.3.1979, ngài đã dành số cuối cùng (22) để nói về Mẹ dưới một tựa đề thật xinh đẹp: "Ðức Maria, người Mẹ làm cho chúng ta hy vọng", tuy vắn tắt nhưng rất súc tích và là một cách trình bày khoa Thánh Mẫu học của ngài. Cha không thể ghi vào đây tất cả, nhưng ít là một đôi phần để ai không có bức thông điệp ấy trong tay cũng có thể suy niệm được giáo lý Thánh Mẫu của Ðức Gioan Phaolô II:
"…Nếu ở giai đoạn khó khăn và trọng yếu trong lịch sử của Hội Thánh và lịch sử nhân loại này, chúng ta cảm thấy một nhu cầu đặc biệt phải hướng về Ðức Kitô, Ðấng là Ðức Chúa của Hội Thánh và là Ðức Chúa của lịch sử loài người thể theo mầu nhiệm cứu chuộc, chúng ta vẫn tin tưởng rằng không ai bằng Ðức Maria trong việc đưa chúng ta vào kích thước Thiên Chúa và kích thước con người của mầu nhiệm Chúa Kitô; không một ai như Ðức Maria đã được chính Thiên Chúa cho đi sâu vào mầu nhiệm đó. Chính điều này cho chúng ta thấy tính cách đặc biệt của ân sủng đã làm cho Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Cái độc đáo và hoàn toàn đặc thù trong lịch sử con người không duy chỉ là phẩm tước gắn liền với danh hiệu Mẹ Thiên Chúa đó; cái độc nhất vô song nhờ chiều sâu và chiều rộng của ảnh hưởng của Ðức Maria chính là việc Ðức Maria, vì là Mẹ Thiên Chúa, đã tham dự vào ý định của Thiên Chúa cứu độ loài người, qua mầu nhiệm cứu chuộc.
"Có thể được là mầu nhiệm đó đã thành hình trong trái tim của người Trinh Nữ thành Nazareth, khi Ngài nói lên câu: "Fiat", xin vâng. Bắt đầu từ lúc đó, Trái Tim của Ðức Maria, một Ðấng vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, với sự trợ giúp đặc biệt của Thánh Thần, không ngừng theo dõi chương trình mà Con của Ngài thực hiện, và trái tim đó đi đến với tất cả những ai đã được và không ngừng được Ðức Giêsu ôm nhận trong tình thương vô hạn của Ngài, và cũng chính vì vậy mà Trái Tim của Ðức Maria là trái tim vô hạn của một người mẹ. Ðặc tính của người mẹ mà Thánh Mẫu của Thiên Chúa đã đưa vào Mầu nhiệm cứu chuộc và đời sống của Hội Thánh, được diễn tả trong sự kiện là Ðức Maria đặc biệt gần gũi với con người và đời sống của con người. Ðây là điểm nòng cốt trong mầu nhiệm Ðức Mẹ. Hội Thánh tôn sùng Ðức Maria với một lòng hiếu thảo và một niềm hy vọng đặc biệt, Hội Thánh càng ngày càng muốn đi sâu vào mầu nhiệm đó. Trong mầu nhiệm đó nữa, Hội Thánh nhận ra con đường cho cuộc sống hằng ngày của mình và của từng người một.
"Tình yêu thương vĩnh cửu của Chúa Cha đã được biểu lộ trong lịch sử nhân loại bởi Chúa Con, Ðấng mà Chúa Cha đã ban cho nhân loại" ngõ hầu ai tin vào Người thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời tình thương yêu này đã đến gần với mỗi người chúng ta nhờ người Mẹ đó, và nhờ Ngài, tình thương này được biểu lộ một cách dễ hiểu và dễ đạt tới hơn cho mỗi người. Chính vì thế, mà Ðức Maria phải có mặt trên mọi nẻo đường của đời sống thường nhật của Hội Thánh. Nhờ có Ngài hiện diện như một người mẹ, Hội Thánh được lòng xác tín là mình sống thật sự đời sống của Ðức Kitô, Ðấng là Thầy và là Chúa của Hội Thánh; nhờ Ðức Maria, Hội Thánh biết chắc rằng mình sống mầu nhiệm cứu chuộc với tất cả chiều sâu và sự viên mãn sống động của mầu nhiệm đó. Và Hội Thánh, khi ăn rễ trong nhiều lãnh vực khác nhau của đời sống nhân loại ngày nay, cũng được lòng xác tín và có thể nói được có kinh nghiệm là mình sống gần với con người, với mỗi người, mình là Hội Thánh của họ, của mỗi người, Hội Thánh của dân Thiên Chúa..."
Nếu những dòng chữ trên đây là của một nhà Thần học, một nhà Thánh mẫu học đang lên tiếng giảng dạy, thì những lời lẽ đơn sơ chân thành sau đây lại là tâm tình của một đứa con hiếu thảo đang trình bày với Mẹ tất cả những chặng của lòng mình sùng kính Mẹ thiết tha:
Tạm biệt Mẹ Jasna Góra (6.6.1979)
* Chúa Giêsu đã chỉ rõ cho chúng ta mẫu gương để theo: Ðức Chúa Cha: "Hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời." Nhưng Cha trên trời xa vời, Chúa Giêsu đã chỉ chính mình Ngài: "Ai thấy Thầy, thì thấy Ðức Chúa Cha." Nhưng rồi Chúa muốn một mẫu gương dịu hiền âu yếm hơn cả, Mẹ Maria: "Ðây là Mẹ con" (ÐHV 924).
Lạy Mẹ Jasna Góra,
1. Những người lữ hành được Mẹ đón tiếp ở Jasna Góra, có thói quen lành thánh là đến tạm biệt Mẹ trước khi ra về. Con còn nhớ biết bao lần con đã tạm biệt Mẹ, biết bao lần Mẹ đã âu yếm đón nhận con. Ôi Mẹ Jasna Góra, con còn nhớ lúc con còn là một học sinh trung học, con đã đến đây với ba con hoặc với đoàn lữ hành thuộc giáo xứ Wadowice của con. Con còn nhớ lần con và các bạn của con phải chùng lén đến đây đại điện cho giới trẻ đại học thành Cracovie, trong giai đoạn rùng rợn nước nhà bị chiếm đóng, để khỏi gián đoạn những cuộc hành hương đại học đến Gasna Góra vốn đã khởi sự từ năm 1936 đáng nhớ. Con còn nhớ bao lần tạm biệt, bao phút chia ly, khi con đến đây với tư cách tuyên úy học sinh và về sau với tư cách Giám mục hướng dẫn các linh mục tổng giáo phận Cracovie đi hành hương.
2. Hôm nay, thưa Mẹ Jasna Góra, con về đây với Ðức Hồng Y Giáo chủ Ba Lan kính mến với Ðức Tổng Giám mục Cracovie, Ðức Giám mục Czestochowa, với tất cả hàng giáo phẩm của quê hương con, để lần nữa tạm biệt Mẹ và xin Mẹ chúc lành cho cuộc hành trình của con. Con về đây hôm nay trong tư cách đầy tớ thứ nhất của Con Mẹ, kế vị thánh Phêrô trên Tòa thánh Roma. Không lời chào nào diễn tả ý nghĩa của cuộc hành hương này được. Con không còn biết tìm lời gì khả đĩ nói lên được bao nhiêu ân tình của Mẹ đối với chúng con trong quá khứ, trong những ngày này và mãi mãi về sau. Lạy Mẹ của Hội Thánh và Nữ Vương của nước Ba Lan, xin Mẹ tha thứ cho chúng con, xin Mẹ cho phép chúng con chỉ cám ơn Mẹ bằng sự thinh lặng hát lên "Kinh Tiền tụng" của giây phút tạm biệt.
3. Trước mặt Mẹ, con còn muốn cám ơn các anh em của con trong hàng Giám mục: Ðức Hồng Y Giáo chủ, các Ðức Tổng Giám mục và Giám mục của Giáo Hội Ba Lan. Chúa đã chọn con trong hàng ngũ của họ, con đã chia vui sẻ buồn với họ ngay từ ban đầu và con còn tiếp tục liên kết sâu xa với họ. Ðấy là những kẻ, theo lời thánh Phêrô, đã nêu gương sáng cho đàn chiên (forma gregis, 1Pt 5,3); họ đang đem hết tâm can phục vụ Hội Thánh và Tổ quốc không quản ngại khó khăn. Thưa anh em quý mến, tôi muốn cám ơn anh em tất cả và cách riêng, thưa Ðức Hồng Y Giáo chủ, tôi muốn lặp lại một lần nữa (mặc dù tôi không nói ra) những gì tôi đã nói lên ở Roma, ngày 22 và 23 tháng 10 dương lịch năm ngoái. Những điều ấy, ở đây trong giây phút này, trước mặt Mẹ Jasna Góra, tôi xin nhắc lại bằng tư tưởng và bằng tâm hồn.
Tôi chân thành cám ơn những người cùng đi hành hương với tôi ở đây, trong những ngày này; cách đặc biệt tôi cám ơn các tu sĩ phụ trách Ðền thánh này, các cha Dòng Paulinô, cùng với vị Tổng quyền của Dòng, đồng thời là người quản nhiệm Ðền thánh Jasna Góra.
4. Lạy Mẹ của Hội Thánh! Một lần nữa con xin tận hiến mình cho Mẹ để nên nô lệ tình thương hiền mẫu của Mẹ: Totus Tuus! Con hoàn toàn thuộc về Mẹ! Con xin tận hiến cho Mẹ cả Hội Thánh, ở bất cứ nơi nào đến tận cùng quả đất! Con xin dâng hiến tất cả nhân loại cho Mẹ, anh em của con. Tất cả mọi dân tộc, tất cả mọi quốc gia. Tất cả Âu châu và tất cả các lục địa. Con xin dâng hiến cho Mẹ thành Roma và nước Ba Lan vốn đang được nối kết với nhau, qua đầy tớ của Mẹ, bằng một sợi dây thâm tình mới mẻ.
Lạy Mẹ, xin Mẹ khấng nhậm lời con!
Lạy Mẹ, xin Mẹ đừng bỏ chúng con!
Lạy Mẹ, xin Mẹ hướng dẫn chúng con!".
36- Hy Vọng
1. Ðèn trời muối đất
* Người Công Giáo là ánh sáng giữa đen tối, là muối sống giữa thối nát, và là hy vọng giữa một nhân loại thất vọng (ÐHV 950).
* Yêu Chúa là yêu trần gian. Mê say Chúa là mê say trần gian. Hy vọng ở Chúa là hy vọng trần gian được cứu rỗi (ÐHV 954).
* Nếu suy gẫm những trang này, mà con không làm cho Phúc Âm tràn ngập cả đời con, nếu con còn cầu nguyện: "Nước Cha dừng lại", thì con không phải là hy vọng của trần gian (ÐHV 957).
Trong thời đại chúng ta đang sống, mỗi khi nói về ơn gọi linh mục, người ta nghĩ ngay đến con số thống kê thật đáng lo âu, số ơn gọi khắp nơi sút giảm, số linh mục ra đi; và những danh từ được dùng thường là: bi quan! khủng hoảng! tương lai mờ mịt!
Thế nhưng, cũng chính trong thời đại hôm nay sinh nhiều cách sống ơn gọi rất đáng cảm phục và khiến cho ta luôn hy vọng. Chẳng hạn như ở nước Cộng hoà Liên Bang Ðức, có một nhóm 70 linh mục cùng nhau nhất quyết đặt tất cả của cải vào một quỹ chung. Một trong những linh mục ấy lâm phải cảnh hoạn nạn, ốm đau kéo dài suốt nhiều tháng, trong lúc phải giải quyết nhiều vấn đề trong hoàn cảnh một giáo xứ mới: Nào là xây dựng, nào là sắm sửa... Một thời gian sau, ngài gặp cha Tổng đại diện để trình bày sổ sách tài chánh. Cha Tổng đại diện hỏi:
- Ðau ốm lâu ngày lại thêm phải xây dựng sắm sửa đồ đạc trong giáo xứ, chắc là phải tốn kém nhiều... Cha còn nợ nhiều lắm phải không?
- Thưa con chỉ trình sổ sách cho cha Tổng đại diện rõ tình hình tài chánh trong giáo xứ của con thôi! Thực ra có nhiều anh em linh mục cùng để của cải chung đã giúp con trang trải những phí tổn trên và không còn nợ nần gì nữa!
- Cha nói chuyện gì lạ thế? Có nhiều linh mục sống chung, cùng để của cải dùng chung với nhau à? Lạ lùng quá!
Cha Tổng đại diện đi đi lại lại với vẻ suy tư, vừa cảm phục, vừa tự kiểm điểm...
Nhưng không phải chỉ có nhóm 70 linh mục để của dùng chung với nhau trên đây thôi đâu, còn có rất nhiều nhóm khác ở Cộng hòa Liên Bang Ðức làm như vậy. Họ còn có một cử chỉ huynh đệ bác ái khác nữa khiến cho ta phải khâm phục là đã cùng nhau suy nghĩ và quyết tâm: "Chúng ta được đầy đủ, nhưng còn bao nhiêu linh mục khác ở nước thứ Ba, anh em của ta, đang thiếu thốn về mọi phương diện. Mỗi năm ta để chung một số tiền, giao cho Tòa Thánh giúp cho các anh em linh mục nghèo, ít là để họ có tiền mua sách báo hoặc thuốc men tối thiểu!"
Góp gió thành bão: Thánh Bộ Phúc Âm hóa đã nhờ có số tiền đó mà tặng cho mỗi linh mục trong thế giới thứ Ba hằng năm 25 mỹ kim để mua sách báo, thuốc men. Số tiền thật chẳng lớn lao gì, nhưng tấm lòng vĩ đại, tình huynh đệ thắm thiết quả là một nguồn an ủi lớn lao cho nhiều linh mục trong các nước nghèo khổ. Tóm lại, nếu có những nơi tăm tối mù mịt, thì cũng có những nơi khác khẳng khái nêu cao khẩu hiệu "Ðèn trời muối đất".
2. Tôi đã lỗi đức tin, lỗi đức cậy trông
* Thánh Phaolô hằng khuyên nhủ giáo dân đừng sống như những người không có hy vọng (ÐHV 951).
* Con phải loan Tin Mừng trên thế giới, không phải chỉ tiêu cực giữ giới răn, nhưng loan báo một sứ điệp lạ lùng: Chúa thương yêu ta, Chúa yêu thương trần gian và cứu trần gian (ÐHV 955).
* Con hãy làm cho người công giáo tin tưởng ở ơn thiên triệu Kitô hữu, ơn thiên triệu gia đình, ơn thiên triệu vợ chồng, ơn thiên triệu nghề nghiệp. Họ sẽ hết chán nản, họ sẽ tràn đầy hy vọng vì họ ý thức rằng, Ðấng đã gọi sẽ đưa họ đi đến cùng đích (ÐHV 969).
Một linh mục người Pháp nọ vừa chịu chức, sau những ngày "mở tay" thân mật với gia đình, đã đi giải trí ở vùng quê với một toán hướng đạo.
Cha con cùng mang balô đạp xe đến một xứ đạo có tiếng là khô khan nguội lạnh nhất nước Pháp. Vừa dựng trại ở bìa rừng, cạnh con suối mát xong, cha con liền vào gặp cha xứ.
- Thưa cha, xin phép cho chúng con dâng lễ ở nhà thờ.
- Tốt lắm, cha cứ tự nhiên như ở nhà.
- Thưa cha, trong Nhà Tạm có đủ Mình Thánh Chúa cho các em chịu lễ không?
- Không... cha ơi! Từ mười năm qua con về đây không một ai chịu lễ cả, nên con không để Mình Thánh Chúa... Xin cha lấy một ít bánh lớn bẻ nhỏ ra cho các em chịu lễ cũng được.
Cha mới lên nhà thờ, các em hướng đạo đến vây quanh bàn thánh, cùng thưa kinh sốt sắng, cùng hát lên hăng hái, vui tươi. Ðến lúc hiệp lễ, tất cả các em đều lên rước lễ.
Suốt buổi lễ, cha xứ quỳ gối ở cuối nhà thờ lặng lẽ theo dõi tất cả, tâm hồn hết sức xúc động: đã mười năm qua, xứ ngài chưa bao giờ có một Thánh lễ như thế!
Lúc cha mới vừa cởi áo lễ ở phòng thánh xong, ngài rất đổi ngạc nhiên thấy cha xứ quỳ gối dưới chân mình từ hồi nào.
- Xin cha giải tội cho con, vì mười năm qua, con đã lỗi đức tin, lỗi đức trông cậy. Hôm nay thấy thanh thiếu niên sốt sắng thế này, nhờ ơn Chúa, con đã lấy lại được niềm hy vọng đã vỗ cánh từ bao năm qua. Với cố gắng tông đồ, con tin rằng xứ con từ nay sẽ chỗi dậy...
3. Những phương tiện nhỏ bé để làm việc tông đồ
* Trên thánh giá, Chúa nghèo lắm! Con chỉ xin Chúa Giêsu chịu đóng đinh một điều: yêu thương, đau khổ và luôn luôn hy vọng (ÐHV 956).
* Con hãy hy vọng luôn luôn, đừng chán nản vì những sự khó khăn nội bộ, ngay trong việc tông đồ. Như thánh Phaolô: "Kẻ thì rao giảng Ðức Kitô vì lòng mến, bởi biết rằng tôi đã được chỉ định lo bênh đỡ Tin Mừng. Kẻ lại giảng truyền Ðức Kitô vì ganh tị, ý định không tinh tuyền, tưởng làm vậy sẽ gây thêm khổ cực cho cảnh lao tù của tôi. Cần chi! Dù sao đi nữa, bởi lấy lệ hay vì tình thật, miễn là Ðức Kitô được rao truyền thì tôi vui mừng và tôi cứ vui mừng luôn!" (Ph. 1:16) (ÐHV 976).
Nhiều người nghĩ rằng muốn làm tông đồ cần phải có ơn Chúa đặc biệt.
Không! Ơn Chúa ban luôn luôn sẵn có, miễn là ta biết nhìn thấy và xử dụng. Ðó chỉ là những ơn thông thường, những đặc tính của mỗi người, những tình tiết của mỗi hoàn cảnh...
Nói như vậy thì ai cũng có tài năng cả, hoàn cảnh nào cũng thuận lợi cả; nhưng tài năng ấy, ân phúc ấy, thuận lợi ấy không phải chỉ để cho một mình ta được cứu rỗi mà là để phục vụ ích lợi của tất cả mọi người.
Trong viện dành cho người mù ở đảo Sardaigne (Ý) có một cô gái tên là Pina, mù cả hai mắt từ hồi còn nhỏ. Rủi ro thay! Cha tuyên úy của nhà mù vừa bị bệnh tê liệt không thể dâng lễ được nữa. Vì lý do đó, người ta định đưa Chúa Giêsu ra khỏi nhà. Nghe tin ấy, cô Pina kêu nài tận đến Ðức Giám mục, xin ngài để Chúa Giêsu ở lại, vì đó là ánh sáng duy nhất của những kẻ mù loà như cô. Cô được phép, và cùng một trật cũng được đặc ân trao Mình Thánh Chúa cho cha tuyên úy và các bạn của cô.
Nhưng không những thế, cô luôn luôn cầu nguyện và ước ao phục vụ hơn nữa theo sức cô.
Cô được dùng mấy giờ trên đài phát thanh nọ của tư nhân, và với phương tiện ấy, cô đã chuyển đến cho các bạn cô món quà tuyệt hảo nhất mà cô nhận được nơi Chúa để nâng đỡ những người đau khổ bằng chính kinh nghiệm của cô: Những bài suy niệm, những lời khuyên nhủ, những khuyến khích, và biết bao là câu chuyện bổ ích khác...
Làm sao cô Pina học được, làm được những điều ấy khi mà cô cũng như cả nhà đều phải mù loà: Ai đọc sách cho cô nghe: Ai giảng dạy cho cô hiểu? Ðó là nhờ cô, ngoài những điều nghe người ta nói, còn nghe đài phát thanh quốc gia, đặc biệt là đài phát thanh Vatican; cô nghe những bài suy niệm Phúc Âm, những tin tức nóng bỏng trên thế giới, những lời nhắn nhủ tha thiết của Ðức Thánh Cha, theo dõi những biến cố trong Hội Thánh... Cô mù loà, nhưng ánh sáng Phúc Âm vẫn chiếu dọi đến tâm hồn cô, cho cô chất liệu để suy niệm và sau đó chuyển lại cho những người bạn cùng đau khổ như cô.
Trong một thời gian rất lâu, chẳng ngờ rằng cô Pina là người tàn phế! Khi biết được, ai cũng xúc động. Cuộc đời của cô đã làm cho nhiều người, nhất là những tâm hồn tận hiến phải suy nghĩ:
* Có bao giờ tôi nghĩ đến việc dùng vài giờ trong tuần lễ hoặc ít là mười lăm phút mỗi ngày để giúp người khác chưa?
* Tôi có biết săn sóc nhà cửa, nấu nướng, may vá và làm những việc lặt vặt trong nhà không?....
4. Sống và rao giảng Tin Mừng
* Trong vài chục năm, nhân loại đã tiến bộ kỹ thuật và khoa học hơn nhiều thế kỷ. Nhân loại đầy đủ sức mạnh khủng khiếp, có thể tự sát với vũ khí hạch tâm được. Nhân loại đầy đủ phương tiện khổng lồ, hầu như no nê không thiếu gì nữa. Nhân loại cảm thấy làm được mọi sự, nhưng không biết tại sao mình sống, mình đi về đâu, tương lai thế nào? Nhân loại đang trải qua một cơn khủng hoảng hy vọng (ÐHV 958).
* Thiên Chúa không lui bước trước tiến bộ của con người. Ngược lại càng đầy sức mạnh, con người càng cảm thấy cần hy vọng để tiến, cần tình yêu để sống. Nếu không có như thế, sống để làm gì? Có đáng sống không? Không lẽ hư vô và thù ghét là gia nghiệp của con người tiến bộ? (ÐHV 959).
* Con người nghĩ rằng khoa học càng tiến bộ, Thiên Chúa càng thoái lui. Trong lòng nhiều người "Chúa chết rồi", giờ đây lương tâm họ được giải thoát, nhưng cái tự do ấy làm cho họ hoang mang, hoảng hốt. Họ thiếu hy vọng (ÐHV 960).
* Thời đại nào cũng có những người tự xưng là tiên tri, nhưng đường lối của họ không đem lại hy vọng cho nhân loại. Chỉ Chúa Giêsu tự xưng là "Ðường", chỉ Ngài đem lại hy vọng với kích thước của thế giới:
- "Hãy rao giảng Tin Mừng cho một người"
- "Hãy làm chứng nhân cho Ta đến tận cùng thế giới" (ÐHV 961).
* Chúng ta cầu xin Chúa, nhưng Chúa trông vào chúng ta. Ngài đã lập một cơ quan để ban sự cứu rỗi: Hội Thánh. Hội Thánh chịu trách nhiệm về công việc Chúa, và niềm hy vọng lớn lao nhất của toàn thể anh em (ÐHV 965).
* Không thể quan niệm được một Kitô hữu không mê say đem hy vọng ngập tràn thế giới (ÐHV 972).
* "Các bạn Thế Hệ Mới" (GEN)! Phải là "thanh niên của hy vọng", vì với hy vọng, các bạn sẽ luôn luôn hạnh phúc và các bạn sẽ làm cho mọi người hạnh phúc. (Chiara Lubich). (ÐHV 973).
Người giáo dân nên thánh nhờ sống bác ái, mà nền tảng cuộc sống bác ái là sống Lời Chúa, sống Tin Mừng.
Trong thời đại ngày nay, nhất là sau Công đồng Vatican II, Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho người giáo dân tự động sáng kiến quy tụ thành từng nhóm nhỏ, chẳng hạn:
* Những cộng đoàn cầu nguyện,
* Nhóm sống Lời Chúa,
* Nhóm Bác ái hiệp nhất,
* Nhóm cầu nguyện Chúa Thánh Thần,
* Nhóm suy niệm Lời Chúa...
Mỗi nhóm đều mang một sắc thái riêng biệt, linh động, tùy hoàn cảnh, tâm lý của từng địa phương, từng dân tộc... Nhưng căn bản vẫn là sống Lời Chúa và rao giảng Lời Chúa. Lời Chúa sống động trong lòng mỗi người. Họ thầm hiểu rằng nó luôn thích hợp với mọi hoàn cảnh và mọi hạng người, mọi dân nước... Họ cố gắng chia sẻ những đau đớn khắc khoải của người khác hầu tìm phương thế để giải quyết. Họ coi như mình có trách nhiệm trước những vấn đề thuộc phạm vi xã hội, như báo chí, phim ảnh, chiến tranh, kỳ thị chủng tộc... Họ luôn luôn đi sát cánh với những vấn đề sôi bỏng đó. Họ lưu tâm đặc biệt đến tình trạng kinh tế trong mỗi quốc gia. Họ thực thi nhiều công tác bác ái từ thiện cho các nước thuộc thế giới thứ ba.
* * *
* Giáo dân là người mến yêu sứ mạng trần thế của mình, là người thực hiện đời đời trong đời tạm.
- Là người tin rằng Chúa giao cho mình trần gian và anh em, để đưa họ đến cứu rỗi vĩnh cửu.
- Là người xác tín rằng Chúa ban sự cứu rỗi, nhưng Chúa đòi việc hợp tác của con người. Biết hy vọng, bảo đảm hy vọng, mang lại hy vọng (ÐHV 963).
* Người hy vọng là người cầu nguyện. Ðối tượng của lời cầu nguyện cũng là đối tượng của niềm hy vọng. Người hy vọng là cộng tác viên của Thiên Chúa. Ngài tìm họ để hoàn tất việc tạo dựng và cứu chuộc của Ngài (ÐHV 964).
Trên những nẻo đường cha đi, cha đã bất chợt khám phá ra lắm người lữ hành đang cặm cụi với công việc bổn phận. Các con đừng tưởng cha gặp họ trong những trung tâm huấn luyện, nơi mà có thể nhờ một bầu khí đạo đức nào đó, họ có những tâm tình tốt đẹp. Không! Nhưng là ở giữa cuộc sống thường ngày:
Trong một văn phòng đơn sơ của tổ chức "Giúp Hội Thánh đau thương" do ông cha "Thịt mỡ" phụ trách, cha gặp được nhiều người, cùng làm việc với họ, và tự nhiên cảm nghiệm được nơi họ có "một cái gì" đáng yêu hơn khi bước vào những văn phòng khác. Khi ra về, cha xem đồng hồ và nói: "Tôi phải đi gấp vì tôi có hẹn chiều nay dự buổi họp với Focolare ở ngoại thành Roma" - "Thế à! chúng tôi cũng sẽ có mặt ở đấy!" - "Thì ra các ông cũng tham gia cái "Bếp lửa" ấy? Chúng ta sẽ gặp nhau". Họ cười cách sung sướng và ôm choàng lấy cha. Cha đã khám phá ra bí quyết thái độ làm việc của họ.
Hôm sau, tình cờ cha gặp ông Ladénius, Giám đốc của văn phòng ấy, đang đi bộ lúc trời sầm tối ở Piazza di Diana:
- Chào ông, ông đi đâu đấy?
- Tôi đi cầu nguyện, tôi phụ trách một cộng đoàn cầu nguyện và sống Lời Chúa.
Lại thêm một khám phá mới khiến cha phải suy nghĩ và cảm phục. Thực là một tông đồ giáo dân căn bản và đắc lực
* * *
* Con người hy vọng để sống, để tiếp tục sống. Con người sẽ quay về với ai có thể mang lại cho họ niềm hy vọng lớn lao nhất: Niềm hy vọng ấy, Chúa Giêsu đã quả quyết: "Ta đến cho thế gian sống và sung mãn." Niềm hy vọng ấy, Chúa ban qua tay Mẹ Maria: "Nguồn hy vọng của chúng con" (ÐHV 962).
* Làm một cuộc cách mạng: Ðừng đem đời người công giáo xa lìa môi trường, để quây quần quanh các việc thiêng liêng. Ðẩy người công giáo mang niềm hy vọng của mình xâm nhập môi trường (ÐHV 970).
Trong một chuyến viếng thăm thành phố Aachen ở Ðức để làm việc với tổ chức Misereor, cha được cô Kurts hướng dẫn trong những việc di chuyển cũng như trong công việc tiếp xúc, trao đổi. Cách làm việc tận tâm, bác ái nhẫn nại suốt ngày của cô Kurts khiến cha phải cảm mến hết sức. Mấy hôm sau, trên chuyến xe lửa cùng đi với cô về Bruxelles thủ đô nước Bỉ để dự một buổi họp, cha mới khám phá ra cô thuộc về một tu hội đời! Thảo nào phong cách đạo đức và bầu nhiệt huyết tông đồ cũng như sự hy sinh phục vụ của cô cao độ đến thế!
Tin Mừng được thể hiện trong cuộc đời của những giáo dân ấy. Họ không ngờ chính họ đã rao giảng Tin Mừng, đã dạy cho cha biết làm thế nào để sống Lời Chúa và gây cho lòng cha thèm khát có những giáo dân Việt Nam cũng sống một đời sống như vậy. Thực là những cuộc gặp gỡ, những khám phá vô cùng quý giá và lý thú!
5. Người hy vọng sống kết hiệp với Chúa Giêsu
* Con không trông đợi một cuộc sống khác. Con "tin hằng sống vậy", niềm hy vọng ấy đã đâm chồi nơi con, và sẽ tiếp tục tưới nó bất tận (ÐHV 967).
* Con hoàn toàn sống trong hiện tại, nhưng con cũng hoàn toàn sống trong đời đời. Con chăm lo cứu rỗi anh em. Nhưng con không quên rằng với Chúa và vì Chúa. Con hết sức tiến tới. Nhưng với tất cả ánh sáng từ trời cao. Con dấn thân giữa trần thế, Nhưng với tình yêu thần linh. Tất cả điều ấy có ý nghĩa gì. Nếu con không mang niềm hy vọng lớn lao nhất trong quả tim con? (ÐHV 968).
Chúa Giêsu đã dạy: "Thầy là cây nho chúng con là ngành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy thì sẽ trổ sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, chúng con không làm gì được" (Jn 15,5).
Chúa Giêsu không đòi trực tiếp trở thành hoa trái, song Người xem đó như là kết quả của đời sống hiệp nhất với Người.
Thật thế, để mang lại nhiều thành quả lâu dài, thành quả có dấu ấn Thiên Chúa, người hy vọng cần phải sống hiệp nhất với Chúa Kitô và càng sống hiệp nhất với Người, ta càng mang lại nhiều thành quả.
Lời Chúa Giêsu "ở trong Thầy" không nhấn mạnh vào những lúc người ta đạt kết quả, nhưng nhằm nói lên một trạng thái cố định sung mãn.
Sự thực, nếu ta quen biết một người sống kết hiệp mật thiết với Chúa như vậy, ta sẽ thấy rằng với một nụ cười bình thường, một lời nói hay một cử chỉ, một cách cư xử quen thuộc hằng ngày, họ vẫn có thể làm chấn động được bao con tim, nhiều khi còn giúp cho những kẻ ấy tìm lại được Chúa.
Dĩ nhiên, để sinh được nhiều hoa trái, lắm lúc phải trải qua mưa gió, giông tố, bao nhiêu trở ngại nguy hiểm khó khăn trên đường.
Tại Bồ Ðào Nha, cô Maria bắt đầu bước chân vào đại học. Môi trường ở đây có thực nhiều khó khăn. Ða số bạn bè của cô đều đấu tranh theo ý thức hệ riêng của họ, và ai cũng muốn kéo theo mình những sinh viên chưa có đường lối rõ rệt.
Maria biết rõ đâu là con đường của mình đang đi, và biết nó không dễ dàng, an thái theo Chúa Giêsu và sống hiệp nhất với Người. Cô bị bạn bè coi là người không có bản lãnh, không có lý tưởng, vì họ chẳng biết gì về những ý tưởng của cô. Nhiều lần cô cảm thấy hổ thẹn trước mặt người khác, nhất là những khi đi đến nhà thờ. Thế nhưng cô vẫn quyết chí tiếp tục đi nhà thờ vì thấy rằng mình phải sống kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể.
Lễ Noel đến, Maria thấy có nhiều bạn không thể về gia đình vì nhà họ quá xa, cô liền đề nghị với những bạn bè khác cùng nhau tặng quà cho những người bạn ấy. Maria rất đỗi ngạc nhiên thấy mọi người đều chấp nhận đề nghị của mình ngay lập tức.
Ít lâu sau, trong lớp lại có cuộc bầu phiếu và kết quả thực bất ngờ và lạ lùng: Chính Maria được chọn làm đại diện cho lớp. Không những thế, Maria còn ngạc nhiên hơn nữa khi nghe người ta nói: "Chị được nhiều phiếu thật đúng lý, vì chỉ có chị mới có một đường lối rõ rệt, biết mình muốn gì và phải thực hiện như thế nào!" Dần dần có mấy bạn sinh viên tìm hiểu lý tưởng của Maria và cũng muốn sống như cô.
Ðây là hoa trái tốt đẹp mà Maria đã trổ sinh nhờ sống kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu.
6. Hôm nay con mới thực sự làm lễ mở tay
* "Chúc tụng Thiên Chúa và là Cha của Chúa chúng ta, Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã thể theo lòng hải hà mà tái sinh chúng ta cho hy vọng hằng sống, nhờ sự Phục Sinh từ cõi chết của Ðức Giêsu Kitô." (1P 1:3) (ÐHV 949).
* Kitô hữu là "những người đợi chờ, những người hy vọng Chúa quang lâm." (Thánh Phaolô) (ÐHV 952).
Một linh mục thừa sai ở Phi Châu đã vâng lời Ðức Giám mục đến một trung tâm tu nghiệp các linh mục. Với bản tính cởi mở, khi gặp cha Giám đốc, ngài nói ngay:
- Thưa cha, con không thích đến đây tí nào, nhưng vâng lời Ðức Giám mục, con mới tới đây để xem mình có nên cưới vợ hay không? Cha có muốn con ở lại không?
- Xin mời cha ở lại, ta sẽ có dịp cùng nhau tâm sự.
Sau nhiều tuần lễ trao đổi, cha Giám đốc biết ngài bị khủng hoảng trong chức linh mục từ tám năm nay, ngay trước khi tình nguyện đi thừa sai. Do đó, dù ngài viện đủ lý do để từ bỏ đời linh mục, nhưng sau khi tham khảo ý kiến của nhiều vị cố vấn, cha Giám đốc vẫn quả quyết với ngài:
- Xin cha cứ tiếp tục đời sống linh mục. Ngài ở lại, nhưng mãi hai tháng sau ngài mới chịu đồng tế với các anh em linh mục lần đầu tiên.
Trong bữa cơm tối ấy, với niềm hân hoan an bình ngài nói cách xúc động:
- Hôm nay con mới thực sự cử hành Thánh lễ "mở tay" của con.
Hai tháng trước ngài sống thất vọng nhưng giờ đây tâm hồn ngài đã tràn ngập niềm hy vọng.
7. Một vị thánh âm thầm
* Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng (ÐHV 978)
Trong các vị thánh, cha thiết tưởng không vị thánh nào âm thầm bằng thánh Giuse.
Dù ẩn tu trên rừng trên rú, thánh Phaolô và Antôn cũng có đi thăm nhau, nói chuyện dạy dỗ các môn đệ. Dù lập dòng khổ tu im lặng suốt đời, trừ gần một giờ ngày Chúa nhật và lễ trọng, thánh Brunô cũng đã để lại cho Hội Thánh nhiều sách vở bút tích. Dù đơn sơ bé mọn, chị thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu cũng còn nói lại cho thế gian cuộc đời mình qua "Truyện một tâm hồn": Chúa muốn các ngài trao sứ điệp của Chúa cho thế gian.
Còn thánh Giuse, rất cao cả, ở bên Chúa Giêsu và Mẹ Maria mà vẫn âm thầm suốt đời.
Âm thầm lúc kính sợ Chúa, muốn bỏ Ðức Mẹ mà rút lui. Âm thầm lúc đêm khuya hiểm nguy đưa Chúa Giêsu và Mẹ Maria sang di cư ở Ai Cập. Âm thầm lúc lạc mất Chúa Giêsu trong Ðền thánh Giêrusalem. Âm thầm trong cuộc đời lao động ở Nazareth.
Thế nhưng, trong sự âm thầm thinh lặng ấy, thánh Giuse đã là mẫu gương tuyệt vời của đời nội tâm kết hiệp liên lỉ với Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
Ngài là mẫu gương của lao động kết hiệp với cầu nguyện kiên trì, mẫu gương của phục vụ tận tình, của hy sinh vô điều kiện, của bổn phận chu toàn với tất cả tình yêu, từng giây từng phút.
Công chính, trung thành, khiêm tốn và tin tưởng vững vàng, thánh Giuse đã làm cho đời ngài đẹp, cho đời những kẻ chung quanh ngài được hạnh phúc từng giây từng phút. Ngày nào cũng phục vụ, Giờ nào cũng hy sinh, Phút nào cũng yêu thương.
Không cần ồn ào, nhưng giây phút nào cũng tuyệt đẹp, vì thế tất cả đều đẹp.
Thánh nữ Têrêxa d'Avila đã có lòng yêu mến và trông cậy thánh Giuse cách chí thiết, đồng thời bà cũng truyền lại cho Dòng Carmêlô lòng sùng kính ấy. Bà đã nói: "Xưa nay chưa bao giờ tôi cầu nguyện cùng thánh Giuse mà bị từ chối cả".
Ðức Lêo XIII rất có lòng kính mến thánh Giuse nên đã dạy đọc kinh thánh Giuse suốt tháng Mân côi. Ðức Gioan XXIII từ lúc còn là một chủng sinh đã chọn thánh Giuse làm mẫu gương thánh thiện cho đời mình. Thầy Roncalli ghi trong nhật ký ngày 29.3.1903: "Nghĩ đến thánh Giuse thật là êm đềm, dịu dàng thoải mái. Trong cảnh mệt yếu hiện tại, con chỉ xin người một việc, là được tinh thần sống nội tâm thực sự, đặc biệt được ơn suy gẫm và chịu lễ sốt sắng. Ðó là những điều dốc lòng dịp cấm phòng, nhưng thực hiện là điều cần hơn, nhất là trong tình trạng hiện tại của đời sống nội tâm của tôi. Thánh Giuse hiển vinh, cầu cho con".
Vừa lên ngôi Giáo Hoàng, ngài đã quyết định đặt thánh Giuse vào trong lễ quy Roma để tỏ lòng ngài tin cậy thánh Giuse, quan thầy Hội Thánh.
Phần cha, cha xin các con hãy xác tín lời thánh Têrêxa d'Avila nói về thánh Giuse; kinh nghiệm đời cha cũng thấy như vậy. Cùng với lòng sùng kính Ðức Maria, cha mạ cha đã dạy cho cha lòng sùng kính thánh Giuse từ lúc còn tấm bé. Cha còn nhớ cha của cha lúc nào trong túi áo khâu (lá quạ) cũng có sách tháng ông thánh Giuse. Ông cụ làm việc sùng kính ông thánh Giuse mỗi năm 12 tháng.
Các con hãy dâng ngày thứ Tư đầu tháng, kính thánh Giuse.
Hãy kết hợp sự tận hiến cho thánh Giuse với sự tận hiến cho Trái Tim Ðức Mẹ, vì không có điều gì làm cho Mẹ Maria và Chúa Giêsu vui lòng bằng việc sùng kính thánh Giuse.
Hãy truyền bá việc sùng kính và tận hiến cho thánh Giuse, vì điều ấy làm đẹp lòng Mẹ Maria nhất và là phương tiện để giúp các linh hồn nên thánh.
Cùng Giêsu với Mẹ từ nhân,
Xin thánh Giuse nhận nỗi lòng Phó thác,
mến yêu và cảm tạ,
Kết hợp cùng Cha hết tâm hồn,
* * *
Quyết làm thiên hạ mến Cha hơn,
Như Têrêxa đã tôn sùng.
Giữ gìn xinh đẹp cành hy vọng,
Công trình tay Cha mãi vun trồng.
Tưởng cũng nên nhắc lại cho các con Gia đình Hy Vọng của chúng ta còn mang tên "Công trình của Thánh Giuse" (Opus Joseph) như phong trào Focolare mang tên là "Công trình của Ðức Maria" (Opus Mariae) vậy.
8. Chúa cấm con thất vọng
* Hãy cố gắng, dù yếu đuối ngã sa, con hãy xin Chúa thứ tha và tiếp tục tiến. Trên võ đài, trong vận động trường quốc tế, các lực sĩ cũng lắm lần ngã quị, bị nhiều cú đấm, bị thương tích, nhưng cứ vùng dậy, cứ hy vọng, họ đã đoạt giải vô địch quốc tế (ÐHV 971).
Cha Charles de Foucauld có để lại mấy dòng sau đây, đọc kỹ con sẽ thấy phấn khởi tâm hồn và lấy lại được niềm tin, nhất là những lúc hầu như con thất vọng:
"Dù con xấu xa, dù con tội lỗi, con cũng trông cậy vững chắc rằng con sẽ được lên trời. Chúa cấm con thất vọng về điều đó.
"Dù con bội bạc cách mấy, khô khan cách mấy, hèn nhát cách mấy, lợi dụng ơn Chúa cách mấy, Chúa cũng vẫn bắt buộc con phải hy vọng được sống đời đời dưới chân Chúa trong tình thương và sự thánh thiện.
"Chúa cấm con ngã lòng trước sự khốn nạn của con. Chúa không cho con nói: "Tôi không thể đi tới được, đường lên trời khó khăn quá, tôi phải thụt lùi và trở xuống chỗ thấp".
"Trước những sa ngã trở đi trở lại của con, Chúa lại cấm không cho con nói: "Tôi không hề sửa mình được, tôi không có sức để nên thánh, tôi không xứng đáng để vào thiên đàng..."
"Vậy Chúa muốn con phải trông cậy luôn vì Chúa ra lệnh và vì con phải tin ở tình thương và quyền năng của Chúa.
"Phải, khi cần nhớ tới điều Chúa đã làm cho con, con tự nhiên bắt tin tưởng và tình thương của Chúa. Mặc dù con cảm thấy con là đứa phản bội, bất xứng, con vẫn tin cậy ở tình thương ấy; con vẫn biết là Chúa luôn sẵn sàng để tiếp rước con như thể người cha của đứa con hoang đàng trong Phúc Âm, nhất là vì chính Chúa đã không ngớt gọi mời con và ban cho con những phương thế để đến dưới chân Chúa..."
9. Ngân hàng tình thương
* Có hạng "công giáo đợi chờ", khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến. Có hạng "công giáo thụ động", "trốn tránh, vô trách nhiệm". Họ chỉ biết "nhìn lên" để kêu cứu, mà không biết "nhìn tới" để tiến, "nhìn quanh" để chia sẻ, gánh vác (ÐHV 966).
Chị Phanxica mang trong mình nhiều thứ bệnh tật: Nhức đầu, đau tim, viêm ruột... Chị đã được lắm bác sĩ khám bệnh, giải phẫu, điều trị tại nhiều bệnh viện khác nhau. Và hầu như mọi người đều bó tay. Tuy thế, chị vẫn không nản lòng. Chị sống Lời Chúa mỗi ngày, và có nhiều câu đã đánh động tâm trí chị cách mãnh liệt như: "Hãy sắm cho mình những ví tiền sẽ không hề cũ nát kho tàng không hao vơi trên trời, nơi trộm không lai vãng và mọt không nhấm nát. Vì kho tàng các con ở đâu thì lòng các con cũng ở đó". (Lc 12,33).
Hôm khác, chị lại gặp một đoạn Lời Chúa đánh động: "Kẻ nào cho một trong những kẻ bé mọn này uống một bát nước lã mà thôi, vì danh nghĩa là môn đồ, thì quả thật, Ta bảo các con, nó sẽ không mất phần thưởng của nó" (Mt 10,42).
Những lời Chúa Giêsu nói trên đây đã thấm thía vào tâm hồn chị và chị nảy ra một sáng kiến: Thành lập "Ngân hàng tình thương", có mục đích đón nhận vốn của những ai muốn mở trương mục, gom góp những lời nguyện và các việc hy sinh trong bổn phận vì tình thương Chúa và các linh hồn. Số vốn ấy cùng với tình thương trên Thánh giá sẽ sinh nhiều ơn ích cho vinh quang Chúa, cho cuộc cứu rỗi nhân loại và nhất là cho chính bản thân người mở trương mục.
Trong khuôn khổ tập này không thể nói hết mọi chi tiết về ngân hàng tình thương, chỉ biết rằng có nhiều chị bạn đã hưởng ứng sáng kiến ấy, và như vết dầu loang ở trên tờ giấy, nhiều gia đình, nhiều thanh niên thiếu nữ, nhiều cộng đoàn đã vui vẻ mở trương mục. Mấy lâu nay họ nghĩ họ hết của, họ nghèo, không ngờ rằng thực sự họ là những kẻ rất giàu có, vì mỗi một giây họ đều có thể sống tràn đầy tình thương để bỏ vốn vào đại cuộc cứu rỗi nhân loại, để gởi đến những địa phương đang nóng bỏng trên thế giới... Họ cầm trương mục trên tay và tự nhủ: "Từ bé tới giờ tôi chẳng bỏ vào ngân hàng một xu! Hôm nay tôi mới bắt đầu..." Liền đó là một nụ cười âu yếm tươi nở trên môi: "Ngân hàng dễ thương thật!" Ðời sống thiêng liêng của họ đã vươn lên; bởi vì họ hiểu rõ ràng đây không phải là một "sổ kho", nhưng là một sự cam kết trước, và rồi trong tuần tới phải làm hết mọi cách để hoàn thành kế hoạch, vượt mức chỉ tiêu. Ðời sống họ luôn tiến bộ như mũi tên bay. Tâm hồn họ cũng sẽ mở rộng theo kích thước bao la của Hội Thánh và của thế giới. Họ sẽ cố gắng đáp ứng những chiến dịch bỏ vốn theo nhu cầu của giáo phận, theo ý của Ðức Giám mục, hoặc cho một chuyến công du của Ðức Thánh Cha được thành công.
Mỗi một phút giây trong đời sống đều đáng giá ngàn vàng! Con đã tìm hiểu và mở trương mục chưa?
37- Sống Hy Vọng
1. Chuẩn bị "Lễ Hiện Xuống mới"
* Ðể tóm tắt những tư tưởng con đã suy gẫm trước đây, cha mong con hằng ngày nhớ các điều đơn sơ sau đây, khác nào những tấm bảng chỉ lối đi trên đường hy vọng của con:
Con muốn thực hiện một cuộc cách mạng: canh tân thế giới. Hoài bão lớn lao đó, sứ mạng cao đẹp đó, Chúa trao cho con, con thi hành với: quyền lực Chúa Thánh Thần." Mỗi ngày con chuẩn bị Lễ Hiện Xuống mới quanh con (ÐHV 979).
Chính Ðức Gioan XXIII đã dùng danh từ "Lễ Hiện xuống mới" để diễn tả Công đồng Vatican II, một biến cố vĩ đại nhất của Hội Thánh trong thế kỷ XX này, một biến cố không ai ngờ trước, ngay cả vị Giáo Hoàng khả kính. Ta hãy đọc chính những dòng do tay Ngài đã viết sau đây:
"Tôi không nghĩ chi trước. Bất ngờ hôm nay 20.1.1959, khi bàn chuyện với vị thư ký, tôi nói đến Công đồng chung, Hội đồng Roma, sửa lại Giáo luật. Thực ra lúc đó tôi không có dự ước hoặc một kế hoạch nào.
"Công đồng làm cho chính tôi cũng bỡ ngỡ và không ai ngờ rằng con người tôi lại nghĩ đến việc lớn lao đó.
"Rồi sau đó, mọi diễn biến tự nhiên xảy đến êm đẹp..."
Ngài cũng không ngờ ngài làm Giáo Hoàng. Sau này chính ngài đã tâm sự: "Lúc thấy số phiếu dồn cho tôi ngày càng lên cao, tôi vẫn nghĩ rằng có thể số phiếu lại dồn về vị Hồng Y khác, vì quả là xứng đáng hơn tôi. Chính tôi cũng công nhận vị ấy xứng đáng, khả kính và tôi rất hài lòng".
Thực sự ngài không ngờ, nhưng ngài đã sống đơn sơ phó thác theo ý Chúa. Ngài đã chuẩn bị cuộc đời ngài nên một dụng cụ sắc bén để Chúa xử dụng trong khúc quanh lịch sử ấy.
Tâm hồn của ngài được trưởng thành, được nên thánh thiện mỗi ngày, vì từ thuở thanh thiếu niên, ngài đã khiêm tốn tự kiểm điểm học hỏi, kể cả việc ghi lại những câu châm ngôn thu góp đó đây để suy ngắm và tôi luyện bản thân, chẳng hạn:
"Khi chê con, người ta nói sự thật; chứ khi khen con, tức họ đã nói quá sự thực và gián tiếp họ nhạo con đấy. Người chê ta là bạn của ta, kẻ khen ta lại là kẻ thù của ta" (Thánh J. Vianney).
"Một câu hòa bình quý hơn một tấn chiến thắng" (Thánh Robert Bellarminô).
"Là người, ai lại không lầm lẫn; chỉ có những thằng khùng mới ngoan cố theo đuổi sự lầm lạc của mình" (Cicêron).
2. Tạo hạnh phúc cho mọi người
* Con xúc tiến một chiến dịch: làm cho mọi người hạnh phúc. Con hy sinh mình từng giây phút với Chúa Giêsu, để đem an bình trong tâm hồn, phát triển thịnh vượng cho các dân tộc. Ðường lối tu đức thầm kín và thiết thực! (ÐHV 980).
Trên một vùng đất Á châu, có một phụ nữ lang thang đầu đường xó chợ, lăn lóc với những cô nhi nghèo nàn, chui rúc vào trong các xóm "ổ chuột" đói rách, không biết gớm ghiếc những người bệnh hoạn ghê tởm nhất... với quyết tâm làm cho họ lành bệnh, bình thường hóa cuộc sống của họ giữa lòng xã hội. Bà đã nuôi các em cô nhi cho đến lúc trưởng thành, tạo điều kiện cho chúng học tập văn hoá, kỹ thuật, để bản thân chúng được sung sướng và đến lượt chúng, chúng cũng làm cho xã hội tiến bộ, phóng mình ra khỏi nghèo nàn, áp bức, bệnh tật.
Người phụ nữ ấy, ta đã có dịp nhắc đến nhiều lần, không ai khác hơn là mẹ Têrêxa thành Calcutta. Tuy là người gốc Nam Tư, sinh ra tại Nam Tư năm 1910, nhưng bà đã hy sinh tất cả, rồi bỏ quê hương thứ nhất để trẩy sang Ấn Ðộ và chọn nơi này làm quê hương thứ hai của mình. Bà cũng chọn luôn những người đói khổ, rách rưới, bị bỏ rơi làm con cái, anh chị em của bà, vì bà thấy Chúa Giêsu trong họ. Họ đã hiểu bà, yêu thương bà và kính trọng bà như người hiền mẫu.
Khắp Ấn Ðộ cũng như trên toàn thế giới mọi người đều biết bà và gọi bà bằng một tên rất dịu dàng: "Mẹ Têrêxa".
Mẹ đã lãnh nhận nhiều giải thưởng quốc tế. Ngoài ra năm 1964, khi Ðức Phaolô VI sang Bombay (Ấn Ðộ), giáo dân Mỹ đã tặng cho ngài một chiếc xe hơi Limousine, màu trắng, loại đặc biệt, để ngài xử dụng trong mấy ngày ở Bombay. Lúc rời Ấn Ðộ, ngài đã tặng chiếc xe ấy cho mẹ Têrêxa! Và mẹ đã đem chiếc xe ra xổ số để giúp người nghèo. Mỗi lần nhận giải thưởng, mẹ Têrêxa cũng đem tặng lại cho các người nghèo yêu quý của mẹ.
3. Thí mạng vì anh em
* Con nắm vững một đường lối tông đồ: "Thí mạng vì anh em", vì không có tình yêu nào lớn lao hơn. Con hao mòn từng giây phút và sẵn sàng tiêu hao để chinh phục anh em về với Chúa (ÐHV 981).
Chúng ta đã có dịp nói đến thánh Maximilien Kolbe. Sau đây là lời của Ðức Gioan-Phaolô II nói về vị anh hùng thí mạng ấy, lúc ngài đến dâng lễ ở nhà thờ thánh Gregôriô Cả tại Pian duo Torri (Roma) và viếng nguyện đường dâng kính thánh nhân:
"... Tôi muốn bày tỏ niềm vui của một người cha đối với anh chị em, khi thấy anh chị em có hảo ý chọn thánh Maximilien Kolbe làm đấng bảo trợ cho anh chị em. Chính Ðức Phaolô VI, vị Giáo hoàng vĩ đại và luôn luôn đáng mến đã gọi ngài là "một hình ảnh sáng ngời của thế hệ chúng ta" (Huấn từ Gaudete in Domino). Như anh chị em đã biết giữa những thử thách bi đát nhất vốn làm cho thời đại ta chìm trong vũng máu. Thánh Maximilien Kolbe đã tự nguyện hiến mình chịu chết để cứu một người anh em mà chính ngài không thân thuộc (ông Francois Gajowiczek). Ông ta là một người vô tội bị kết án tử hình để trả thù vì có một người tù đã vượt ngục Oswecim. Vị tử đạo anh hùng bị kết án chết đói; ngày 14.8.1941, linh hồn tốt lành của ngài đã về cùng Chúa sau khi đã nâng đỡ an ủi các bạn tù cùng số phận khốn khổ như ngài.
"Là một người con hiền lành và khiêm nhường của thánh Phanxicô khó nghèo, một Hiệp sĩ chí thiết của Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngài đã băng rừng vượt biển rảo khắp từ Ba Lan sang Ý, đến tận xứ Nhật Bản để làm phúc thiện cho mọi người theo gương Chúa Kitô, "đi đến đầu thì bao ơn lành đến đó" (Cv 10,38). Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Phanxicô là ba mối tình cao cả của ngài, nghĩa là bí quyết đức bác ái của ngài. Ai tiếp xúc với ngài cũng nghe ngài lập đi lặp lại: "Chỉ có tình yêu là sáng tạo". Chính lý tưởng cao cả ấy, bổn phận của mỗi Kitô hữu chân thành ấy, đã giúp ngài vượt qua cơn thử thách rùng rợn khủng khiếp và để lại chứng tích lạ lùng của tình yêu anh em, của lòng tha thứ cho kẻ giết hại mình.
"Ước gì gương sáng và sự trợ giúp của thánh M. Kolbe hướng dẫn chúng ta biết yêu thương chân thành, yêu thương vô vị lợi, xứng người Kitô hữu, đối với tất cả các anh chị em trong một thế giới mà hận thù không ngừng giày xéo cuộc sống con người...!
4. Tất cả hiệp nhất
* Con hô một khẩu hiệu: "Tất cả hiệp nhất", hiệp nhất giữa các người công giáo, hiệp nhất giữa các Kitô hữu, hiệp nhất giữa các dân tộc. Như Chúa Cha và Chúa Con là một (ÐHV 982).
Ðức Thượng phụ Athénagoras (1886-1974) là biểu tượng sống động của phong trào hợp nhất Kitô giáo. Ngài liên kết chặt chẽ với Ðức Phaolô VI. Ngài tuân theo và đồng ý với mọi đường lối cũng như chương trình của Ðức Giáo Hoàng ở Roma. Ngài gọi Ðức Phaolô VI là thánh Phaolô 2. Mỗi đêm ngồi cầu nguyện trước tượng Ðức Mẹ cho Ðức Thánh Cha.
Ngài luôn luôn khát vọng sự hợp nhất. Cũng như Ðức Gioan XXIII, lúc hấp hối, miệng ngài đã liên lỉ lặp lại câu này: "Làm sao để trở nên một".
Ðức Thượng phụ Giáo chủ còn nói về sự hiệp nhất thế này: "Một ngàn năm đầu, Hội Thánh chỉ là một gia đình, một ngàn năm sau là sự cãi vã chia lìa nhau! Còn giờ đây chúng ta đang ở ngưỡng cửa của thời đại mới: Thời đại bác ái hiệp nhất!" Rồi ngài hỏi hai lần: "Các cha có biết cuốn sách nào hay nhất thế giới không? " Và ngài tự trả lời: "Chính các cha là cuốn sách đó, vì nếu chúng ta hiệp nhất trong tình yêu của Chúa là chúng ta hiệp nhất trong Ðức Kitô, mà Ðức Kitô là tất cả sự khôn ngoan của vũ trụ".
5. Bánh nuôi sống trần gian
* Con tin một sức mạnh: Thánh Thể, thịt máu Chúa sẽ làm cho con sống, "cho thế gian sống, và sống phong phú hơn." Manna nuôi dân Do Thái đi đường về đất hứa, Thánh Thể sẽ nuôi con đi cùng đường Hy Vọng (ÐHV 983).
Thế kỷ XX mà chúng ta đang sống, có nhiều người được in năm dấu thánh. Những vị được nói đến nhiều nhất là cha Piô ở Ý, chị Têrêxa Newmann ở Ðức và Marthe Robin ở Pháp. Các chị Têrêxa Newmann lẫn bà Marthe Robin suốt mấy chục năm trời không ăn không uống gì, chỉ sống nhờ rước Mình Thánh Chúa. Ðó là một phép lạ hiển nhiên xảy ra hằng ngày mà khoa học chẳng tài nào giải thích nổi, và là một hồng ân Chúa ban để củng cố đức tin của ta vào phép Thánh Thể.
Phép Thánh Thể còn là nguồn mạch của sự hiệp nhất giữa hàng ngũ con cái loài người. Ngày hành hương về trung tâm Thánh Mẫu Jasna Góra đã đến, từ nơi bị giam cầm, Ðức Hồng Y Stefan Wyzynsky đã truyền phép một hình bánh lớn gửi về trung tâm Thánh Mẫu để bỏ vào Mặt Nhật cho giáo dân toàn quốc Ba Lan đến Jasna Góra được chầu suốt ngày suốt đêm. Ðó là chứng tích của sự hiệp nhất giữa vị Giáo chủ và đàn chiên. Mọi người vô cùng cảm động khi nghe tin ấy, lời cầu nguyện do đó sốt sắng, mối dây liên lạc còn thắm thiết vững bền.
6. Bác ái, đồng phục của chúng ta
* Con mang một đồng phục, nói một ngôn ngữ: Bác ái là chứng tích để biết con là môn đệ Chúa, là dấu hiệu rẻ mà khó kiếm nhất.
Bác ái là sinh ngữ số một, mà thánh Phaolô cho là cao trọng hơn tiếng nói của loài người và các thiên thần, là ngôn ngữ độc nhất sẽ tồn tại trên Thiên Ðàng (ÐHV 984).
Cha Guido thuật lại: "Trong thời Quốc xã, tu sĩ nhiều dòng tu bị bắt giam. Trong những ngày đầu, mỗi người còn giữ y phục riêng của dòng mình, và như thế, họ họp thành từng nhóm nhỏ theo mỗi dòng tu.
"Dần dần, với thời gian, áo dòng rách nát hết, họ phải mặc áo tù nhân nên chẳng còn phân biệt gì nữa. Ðiều đặc biệt liên kết mọi người là cùng nhau đau khổ. Một thời gian sau nữa, không còn phân biệt người nào thuộc dòng nào, nhưng tất cả đều là anh chị em với nhau: cùng chung một tình bác ái huynh đệ. Ðó là lần thứ nhất các dòng tu sống chung với nhau và khám phá ra họ là anh chị em với nhau. Những người lính gác thấy tình thương như thế cũng thay đổi thái độ và cũng đổi chính sách sống giữa họ với nhau nữa: họ đối xử với nhau có tình người hơn".
7. Bí quyết cầu nguyện
* Con nắm một bí quyết: cầu nguyện. Không ai mạnh bằng người cầu nguyện, vì Chúa đã hứa ban tất cả. Khi các con hiệp nhau cầu nguyện, có Chúa ở giữa các con. Cha tha thiết khuyên con, ngoài giờ kinh, hãy cầu nguyện mỗi ngày tối thiểu một giờ, nếu được hai giờ càng tốt. Không phải là mất mát vô ích đâu! Trên quãng đường Cha đi, Cha đã thấy lời Thánh Têrêsa Avila ứng nghiệm: "Ai không cầu nguyện, không cần ma quỉ lôi kéo, sẽ tự mình sa xuống hỏa ngục". (ÐHV 985).
Thánh Ignatiô dạy: "Hãy cầu nguyện trước mọi quyết định".
Thánh Bênađô khuyên bảo: "Hãy cầu nguyện hơn cậy tài".
Cha Suars dạy: "Người lãnh đạo nào biết bàn hỏi với Chúa là người lãnh đạo có kết quả nhất".
Cha Gaston Courtois nói: "Ta phải luôn luôn làm một "ê-kíp" với Chúa".
Những lợi ích trực tiếp của đời cầu nguyện:
a- Con sẽ nên dụng cụ sắc bén hơn trong tay Chúa, vì nó luôn luôn trong sáng, luôn luôn mới mẻ.
b- Tâm hồn con nên như một "ăng-ten" tinh vi để thử "làn sóng điện" các tác động của Chúa Thánh Thần.
c- Tâm hồn con như cái "fich cắm điện" (branché) vào luồng điện, nhờ đó ơn hiện sủng Chúa đến liên lỉ với con trong mọi công việc.
d- Con sẽ có tư tưởng và hành động siêu nhiên, vì Chúa, chứ không mưu cầu lợi ích cá nhân, thắng không kiêu căng, bại không nản.
e- Con sẽ không trần tục hóa phong cách của con: xử dụng mưu mô thủ đoạn, miễn sao thành công giữa đời.
Những lợi ích gián tiếp của đời cầu nguyện:
Nhờ kết hợp với Chúa, con tránh được các tính xấu sau đây:
a- Thiếu nhẫn nại.
b- Hấp tấp.
c- Sợ mất lòng.
d- Hay thay đổi.
e- Thiên vị.
Nhất là con cứu rỗi được linh hồn của con.
8. Phúc Âm: Nội quy của con
* Con giữ một Nội Qui: Phúc Âm. Ðó là hiến pháp trên tất cả mọi hiến pháp. Là hiến pháp Chúa Giêsu đã để lại cho các tông đồ; không khó khăn, phức tạp, gò bó như các hiến pháp. Ngược lại, linh động, nhân hậu, làm phấn khởi linh hồn con (ÐHV 986).
Trước khi là một nhà Thánh Kinh học số một trong Hội Thánh, thánh Hiêrônimô đã là một văn hào nổi tiếng. Ngài mê say đọc các tác phẩm của Cicêron. Một hôm ngài nghe tiếng Chúa hỏi:
- Hiêrônimô, con là môn đệ của ai?
- Thưa con là môn đệ của Chúa.
- Không phải, con là môn đệ của Cicêron!
Từ đó, ngài hồi tâm giác ngộ và quyết chí tìm hiểu Lời Chúa. Ngài mê say cho đến nổi qua tận Thánh địa, vào trong hang đá Bêlem để phiên dịch Thánh Kinh, suy ngắm Lời Chúa, sống lại khung cảnh Chúa Giêsu đã sống, đã làm phép lạ, đã lập phép Thánh Thể, đã tử nạn. Với kinh nghiệm ấy, ngài đã viết: "Ai không hiểu biết Kinh Thánh thì cũng không hiểu biết chính mình Chúa Giêsu". Lời này đã được Công đồng Vatican II trưng lại trong Hiến chế Tín lý Thiên Chúa mạc khải, số 25.
* * *
Lúc còn bé, cha thấy một cha già làm cái bao, tương tự như bao kiệu Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt, trong đó ngài để một cuốn Tân ước nhỏ, bọc nhung (về sau ngài tặng cho cha). Ngài luôn mang trước ngực với lòng cung kính. Lúc nào rảnh lại lấy ra đọc.
Cha cảm phục ngài, nhưng cũng có lắm kẻ trêu ngài, cho ngài là "xưa quá"! Bây giờ cha lớn lên, đọc Hiến chế Tín lý Thiên Chúa mạc khải, số 21, cha càng hiểu rõ và kính mến vị linh mục thánh thiện ấy hơn nữa: "Hội Thánh đã luôn luôn tôn kính Thánh Kinh như tôn kính chính Thánh Thể Chúa".
9. Chúa Kitô dịu hiền ở trần gian
* Con trung thành theo một vị lãnh đạo là Chúa Kitô và Ðại Diện của Ngài: Ðức Thánh Cha, các Giám Mục, kế vị các Thánh Tông Ðồ. Sống và chết vì Hội Thánh như Chúa Kitô. Ðừng nghĩ chết vì Hội Thánh mới hy sinh. Sống vì Hội Thánh cũng đòi hỏi nhiều hy sinh (ÐHV 987).
Ðức Giáo Hoàng là đại diện Chúa Kitô ở trần gian, Ðức Giám mục là đại diện của Ðức Giáo Hoàng trong một giáo phận. Các ngài được Chúa ủy quyền để lãnh đạo dân Chúa, làm nô bộc tình yêu của dân Chúa.
Mỗi ngày dâng lễ, con tuyên xưng và cầu nguyện "Xin Chúa nhớ đến Hội Thánh Chúa lan rộng khắp hoàn cầu, cùng với tôi tớ Chúa là Ðức Giáo Hoàng... và Ðức Giám mục... của chúng con". Nếu lòng trung thành, yêu mến và hành động của con không đi đôi với lời nói thì con không có tinh thần của Hội Thánh. Con là đứa con bất hiếu, thà hóa thành người dưng nước lã còn hơn. Hãy nhớ lời thánh nữ tiến sĩ Catarina thành Sienna: "Ðức Giáo Hoàng là Chúa Giêsu dịu hiền giữa trần gian".
10. Ý nghĩa của kinh Truyền tin
* Con có một tình yêu: Mẹ Maria. Thánh Gioan Maria Vianey đã nói: "Mối tình đầu của tôi là Mẹ Maria." Nghe Mẹ sẽ không lầm lạc, hoạt động vì Mẹ sẽ không thất bại, làm vinh danh Mẹ sẽ được sống đời đời (ÐHV 988).
Ðức Piô XII và Gioan XXIII đều có thói quen đọc kinh Truyền tin ban trưa và các ngày chúa nhật và đại lễ chung với giáo dân tụ họp ở công trường thánh Phêrô.
Ðúng 12 giờ trưa, cánh cửa phòng Ðức Thánh Cha mở ra, dân chúng vỗ tay chào Ðức Thánh Cha, còi xe ở công trường cũng rít lên... Ðức Thánh Cha có mấy lời chào hỏi, nhắn nhủ rồi nguyện kinh Truyền tin và ban Phép lành cho dân Chúa.
Từ ngày Ðức Gioan-Phaolô II nhậm chức đến nay, ngài nguyện kinh Truyền tin với dân mỗi ngày và ba lần: sáng, trưa, tối.
Tại Jasna Góra, đền thánh Mẹ quê hương ngài, Ðức Gioan-Phaolô II đã nói:
"Anh chị em thân mến,
"Hôm nay tôi nguyện kinh Truyền tin với anh chị em, tôi ước ao cùng anh chi em cầu xin cùng Mẹ rất thánh của chúng ta làm cho kinh Truyền tin luôn luôn nhắc nhở cho mỗi người và mọi người trong chúng ta nhớ phẩm giá con người cao trọng chừng nào. Ðó cũng là kết quả và là mục đích kinh này. Khi nhắc lại: "Ngôi Lời đã thành xác phàm", nghĩa là Con Thiên Chúa đã làm người, ta phải nhận thức rằng mỗi người đã trở nên cao cả biết chừng nào nhờ mầu nhiệm ấy, mầu nhiệm Con Thiên Chúa Nhập thể.
"Mỗi người, đúng thế! Chúa Kitô đã xuống thai trong lòng Ðức Trinh Nữ Maria và đã làm người để mạc khải tình yêu muôn đời của Chúa là Ðấng Tạo Hóa mà cũng là Cha của chúng ta.
"Nếu chúng ta đọc kinh Truyền tin thường xuyên, kinh ấy phải có một ảnh hưởng trên tất cả cuộc sống của chúng ta. Chúng ta không thể chỉ nguyện kinh Truyền tin bằng môi miệng, và cùng một lúc hành động trái ngược lại với nhân phẩm, trái ngược lại với bản chất con người Kitô hữu".
11. Thánh giá trong đời người theo Chúa Giêsu
* Con có một sự khôn ngoan: khoa học Thánh Giá. Nhìn Chúa Giêsu trên Thánh Giá, con giải quyết ngay được vấn đề đang khiến con xao xuyến. Thánh giá là tiêu chuẩn để chọn lựa và quyết định, tâm hồn con sẽ bình an (ÐHV 989).
Tu sĩ Thomas Homerken (thường gọi là Thoma a Kemplis, 1380-1431) gốc ở Kempen (Rhénanie, Ðức) thuộc Dòng Augustinô, là người đã đề ra tác phẩm bất hủ: "Gương Chúa Giêsu". Theo người ta nói, đó là cuốn tu đức được đọc nhiều nhất, sau sách Tin Mừng. Thánh Ignatiô, đấng sáng lập Dòng Tên, đã khuyên một môn sinh như thế này: "Mỗi ngày con phải đọc một chương sách Gương Chúa Giêsu, vì chính cha đã có kinh nghiệm, hễ giở ra trang sách nào một cách tình cờ, cha cũng thấy đáp ứng nhu cầu hiện tại của tâm hồn cha".
Cha Thomas Kempis có viết những giòng sau đây:
Ít người yêu mến Thánh giá Chúa Giêsu.
* Có rất nhiều kẻ muốn lên thiên đàng với Chúa Giêsu, nhưng ít kẻ muốn vác Thánh giá với Người.
* Nhiều kẻ ước ao được an ủi của Người, nhưng ít kẻ muốn được chịu thử thách với Người.
* Nhiều kẻ muốn dự tiệc với Người, nhưng ít kẻ muốn chịu thiếu thốn với Người.
* Nhiều kẻ muốn vui hưởng với Người, nhưng ít kẻ sẵn sàng chịu một sự gì khó vì Người.
* Nhiều kẻ theo Chúa Giêsu cho đến bàn tiệc bẻ bánh, nhưng ít kẻ theo Ngài đến uống chén đắng tử nạn.
* Nhiều kẻ tôn sùng các phép lạ của Người, nhưng ít kẻ muốn chịu sỉ nhục với Người.
* Nhiều kẻ yêu Chúa Giêsu khi không có gian truân, nhiều kẻ ca ngợi tung hô Chúa Giêsu khi ban ơn an ủi, nhưng nếu Chúa Giêsu ẩn mình hoặc bỏ quên họ trong giây lát, lập tức họ sẽ phàn nàn, than trách hoặc quá sức thất vọng.
Cả cuộc đời Chúa Giêsu là Thánh giá và Tử đạo, còn con, con muốn an nghỉ và vui chơi!
Con lầm lạc? Lầm lạc! Nếu con tìm sự khác hơn là thử thách...
12. Làm sao hướng về Chúa liên lỉ?
* Con có một lý tưởng: Hướng về Chúa Cha, một người Cha đầy yêu thương. Cả cuộc đời Chúa Giêsu, mọi tư tưởng, hành động, đều nhằm một hướng: "Ðể thế gian biết Thầy yêu mến Ðức Chúa Cha và Ðức Chúa Cha yêu mến Thầy..." "Những gì đẹp lòng Ðức Chúa Cha thì Thầy thực hiện luôn." (ÐHV 990).
Yêu ai thì năng nhớ đến người ấy. Chị em trong dòng Carmêlô cũng đặt câu hỏi trên với mẹ Têrêxa Avila: "Làm sao hướng về Chúa luôn mãi?" Mẹ Têrêxa trả lời một cách rất thực tế, dễ nhớ và dí dỏm: "Các con ạ, nếu các con ở dưới bếp mà các con không thấy Chúa trong nồi niêu, soong, chảo của các con, thì đời con buồn lắm".
13. Ai mạnh hơn?
* Con chỉ có một mối lo sợ: Tội lỗi. Triều đình Hoàng Ðế Hy Lạp đã nhóm họp để bàn cách trả thù thánh Gioan Kim Khẩu vì ngài đã thẳng thắn khiển trách bà Hoàng Hậu. Kế hoạch I: Bỏ tù. - "Nhưng ông ấy sẽ được dịp cầu nguyện, chịu khó vì Chúa như ông hằng mong muốn." Kế hoạch II: Lưu đầy. - "Nhưng đối với ông ấy, đâu cũng là đất Chúa." Kế hoạch III: Tử hình. - "Ông sẽ được tử đạo, chúng ta sẽ thỏa mãn nguyện vọng ông: được về với Chúa." "Tất cả kế hoạch I, II và III không làm cho ông khổ đau, ngược lại ông sẽ vui sướng chấp nhận." Kế hoạch IV: "Chỉ có một điều ông khiếp sợ nhất, gớm ghét nhất là tội lỗi, nhưng bắt ông phạm tội không được!" Nếu con chỉ sợ tội, thì không ai mạnh hơn con (ÐHV 991).
Thánh Gioan Kim Khẩu (340-407) sinh tại Antiochia nước Thổ Nhĩ Kỳ. Lúc đó ngài 60 tuổi, ngài được bầu làm Giám mục thành Constantinople, thính giả rất say mê tài diễn thuyết và lòng sốt sắng của ngài nên họ đã tặng cho ngài biệt hiệu "Kim khẩu" (Miệng vàng).
Với tính tình cương trực, luôn luôn bênh vực công lý, ngài đã phản đối nữ hoàng Eudoxie về việc bà chiếm đoạt gia sản của một góa phụ ở Callitrope và của nhiều người khác. Ngài đã bị kết án lưu đày. Người ta không biết được bao nhiêu khổ cực ngài đã phải chịu vì Chúa Kitô và bao nhiêu người nhờ ngài mà trở lại với Chúa, nhưng mọi người thảy đều thán phục lòng bác ái, chí khí phục vụ công lý, bênh vực kẻ nghèo, lời diễn thuyết nồng nhiệt và sách vở đạo đức do ngài để lại.
Nữ hoàng Eudoxie sợ sự thật nên phải dùng hạ sách lưu đày ngài, nhưng trước mắt nhân dân, nữ hoàng Eudoxie đã thua sự thật.
14. Ai tình nguyện
* Con ôm ấp một ý nguyện: "Dưới đất cũng như trên trời". Dưới đất lương dân biết Chúa như trên trời. Dưới đất mọi người khởi sự yêu mến nhau như trên trời. Dưới đất đã bắt đầu hạnh phúc như trên trời. Con sẽ nỗ lực thực hiện nguyện vọng ấy. Khởi sự đem hạnh phúc thiên đàng cho mọi người ngay từ trần thế. (ÐHV 992).
Trước đây, có một vị Giám mục thừa sai, trong một chuyến trở về lại Âu châu, đã đến thăm một dòng nữ nọ. Chị em trong dòng rất ước mong được nghe chuyện lạ của giáo phận ngài.
Ðược dịp tốt, Ðức Cha nói cho các chị nghe tất cả những nỗi khốn khổ của dân chúng trong vùng ấy: nghèo đói, bệnh tật, mù chữ, mê tín dị đoan, khí hậu khắc nghiệt, bệnh sốt rét hoành hành, không mấy ai sống thọ, thiếu thốn các tiện nghi của thế giới văn minh, thiếu nhất là các nhà truyền giáo nam nữ đến để phục vụ họ phần hồn và phần xác, vì các tu sĩ hiện có vừa ít lại vừa ở xa nhau, không mấy khi gặp nhau, thực cô đơn lúc sống cũng như lúc ốm đau, ly trần.
Ngài dừng lại, ngập ngừng, dường như muốn nói diều gì đó song lại sợ thất vọng phủ phàng... Nhưng cuối cùng, ngài cũng đánh bạo cất tiếng hỏi:
- Thưa các chị em, tôi xin hỏi thử. Có ai trong các chị tình nguyện đến giúp chúng tôi không?
Chẳng chút do dự, cả nhà trên 50 người đều giơ tay tình nguyện:
- Con, con xin đi theo Ðức Cha!
Cuối cùng, bề trên phải chọn một số chị em có điều kiện hơn cả để chuẩn bị cho ngày ra đi phục vụ. Những người khác sẽ tham gia bằng cầu nguyện, hy sinh. Ai ai cũng ôm ấp một nguyện vọng: "Dưới đất cũng như trên trời".
15. Họ đi tìm gì ở Phi Châu?
* Con chỉ thiếu một điều: "Bán của cải, bố thí và theo Thầy" nghĩa là con phải dứt khoát. Chúa cần hạng tình nguyện thoát ly! (ÐHV 993).
Lịch sử Phi Châu có nhiều trang vô cùng đen tối, đẫm máu. Lắm người tự xưng là văn minh tiến bộ đã đến trên mảnh đất Phi Châu để bắt con dân của những dân tộc đáng thương ấy đem sang châu Mỹ bán làm nô lệ. Bắt nhiều người khác đã sang đó để tranh giành bóc lột sức lao động, mồ hôi nước mắt của người da đen, để vơ vét cà-phê, ca cao, kim cương, đồng, chì, vàng, bạc...
Nhưng cũng không thiếu những vị anh hùng âm thầm đem mạng sống đến để phục vụ những người anh em mà tuy bề ngoài đen đủi, xấu xa nhưng trong lòng và trước mặt Chúa rất trong trắng, xinh đẹp.
Trong số những người vô danh có tấm lòng hào hiệp, ta có thể nhận ra khuôn mặt của một vài vị điển hình sau đây:
Ông Raoul Follereau
Thuộc quốc tịch Pháp, sinh tại Nevers năm I903, ông đã hiến cả cuộc đời để phục vụ người phong cùi. Ông đã đi khắp thế giới để thức tỉnh loài người đừng quên số phận của những người phong cùi mà đại đa số đang sống tại Phi Châu. Phần lớn thời giờ của ông, ông đều dùng để lăn lội từ trại phung này sang trại phung khác hầu tìm mọi cách cứu chữa, giúp đỡ họ. Hội "Bạn người cùi" do ông sáng lập đã làm được không biết bao nhiêu là việc phi thường, nhờ sự đóng góp của nhiều người có khi là người nghèo khổ mạt hạng, nhưng vẫn cố gắng hy sinh để mua một lọ thuốc, một bát cháo trao cho những người khốn khổ hơn họ. Ông Raoul Follereau còn sáng lập "Dòng Bác ái" (l'Ordre de la Charité), một tổ chức tự do quy tụ tất cả những ai muốn dấn thân sống tình huynh đệ trong tư tưởng, lời nói, việc làm và dành một năm một giờ tiền lương cho kẻ nghèo. Ông thường nói: "Chỉ có bác ái mới cứu được thế giới", và viết một cuốn sách rất hay: "Chỉ có một chân lý là yêu thương nhau" (La seule vérité c'est de s'aimer). Ông đã được giải thưởng của nhiều quốc gia và của Hàn Lâm Viện Pháp. Cùng với cha Damien (1840-1889) ông là người được tặng danh hiệu cao quý: "Tông đồ người hủi". Hiện ông vẫn còn sống và còn phục vụ.
Bác sĩ mục sư A. Schweitzer
Người Pháp thì nói bác sĩ Schweitzer (1875-1965) là dân Pháp, người Ðức bảo ông là người gốc Ðức, nhưng chắc chắn một điều là ông mang trong mình quả tim Phi Châu!
Là một bác sĩ mục sư Tin lành, Schweitzer còn là một nhà thần học, chú giải Thánh Kinh lỗi lạc, một văn hào kiêm giáo sư âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng. Người ta bảo thiên tài của ông bao quát như Leonard de Vinci, ngoại trừ kiến thức về khí giới. Nếu trọn đời bác sĩ ở Âu châu, thì tương lai của ông vô cùng rạng rỡ. Nhưng ông đã từ bỏ tất cả, vợ chồng cùng nhau sang Phi Châu (xứ Gabon) phục vụ cho đến mãn đời. Vừa chữa bệnh cho dân nghèo từ làng này sang làng khác, mở nhiều bệnh xá khắp nơi, phục vụ mọi người bất kể ngày đêm, bác sĩ Schweitzer lại vừa đem Tin Mừng đến cho nhân dân Phi châu, để họ biết phẩm giá của họ, cũng là người con của Chúa như bao kẻ khác. Ông đã chết và được chôn cất ngay tại mảnh đất Phi châu theo đúng sở nguyện của một tâm hồn quên thân mình vì Chúa và đám dân nghèo. Ông được giải Nobel hòa bình năm 1952.
Ðức Hồng Y Léger
Ai ai cũng biết tiếng Hồng Y Léger, Tổng Giám mục giáo phận Montréal ở Canada. Ngài là một nhà hùng biện trứ danh; chiều nào cũng quỳ gối lần hạt trước hang đá Lộ Ðức tại nhà thờ chính tòa Montréal và cho truyền đến mọi gia đình khắp nơi trên toàn quốc để giáo dân được tham gia lần chuỗi Mân côi với ngài.
Ðời ngài trải qua nhiều danh dự tột bậc. Trước năm 1950, ngài là Viện trưởng Học viện Canada ở Roma, sau đó là Tổng Giám mục giáo phận Montréal và là một tiếng nói thế giá tại Công đồng. Chính ngài, tại Công đồng, đã làm cho Hội Thánh ý thức lại tư cách "nữ tỳ nhân loại" của mình. Và để trở nên một dấu chỉ, năm 1967, ngài đã xin Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI cho mình được từ chức Tổng Giám mục, để sang Phi châu sống trong một trại cùi, dâng lễ, giải tội, an ủi và giúp đỡ những người da đen khốn khổ. Ðời ngài là một chứng tích sáng ngời của tình thương thí mạng.
16. Ai áp dụng "Phương pháp tiếp xúc" đầu tiên?
* Con dùng một phương pháp tông đồ hữu hiệu: tiếp xúc, để hòa mình nhập thể với mọi người, để hiểu, để yêu mọi người.
Tiếp xúc hơn giảng, hơn viết sách. Tiếp xúc giữa người với người, lòng bên lòng, bí quyết bền đỗ, bí quyết thành công. (ÐHV 994).
Không phải ngày nay, khi đã có Công giáo Tiến hành, Tông đồ giáo dân, có các lý thuyết gia chuyên nghiên cứu các phương pháp tông đồ, người ta mới đánh giá cao phương pháp tiếp xúc cá nhân (contact personnel) như một khám phá mới mẻ. Phương pháp này đã được áp dụng cách đây đã 2000 năm, và người xử dụng khéo léo phương pháp ấy nhất không ai khác hơn là chính Chúa Giêsu.
Không có một chính trị gia, một lãnh tụ nào xưa nay đã có những tiếp xúc tự nhiên như Người. Những cuộc tiếp xúc của tình thương không quảng cáo. không có ai bảo vệ không có những hứa hẹn lợi lộc, chỉ có sự thật, chỉ có tình thương, trên rừng dưới biển, trong nhà ngoài sân, đối thoại với mọi người, không trừ ai! với người tội lỗi như Giakêu, Mađalêna, thiếu phụ Samaria, với bạn hữu thân tình như mấy chị em ở Bêtania, với các thanh niên, với các cụ già, với đàn trẻ nhỏ...
Từng nghìn người lũ lượt theo chân Chúa Giêsu, theo mấy ngày liền, đến nỗi trong bị cạn cả thức ăn, ngồi chật nhà đến nỗi phải khoét mái để thòng người bệnh xuống...
Không bao giờ ta suy cho thấu tình thương yêu vô cùng cũng như sự thánh thiện và vẻ đẹp đơn sơ hiền hậu của những lần Chúa Giêsu gặp gỡ tha nhân. Hãy thinh lặng suy niệm các đoạn Phúc Âm:
- Chúa nói chuyện với người thiếu phụ xứ Samaria bên bờ giếng Giacop.
- Chúa vào nhà Simon tật phung, nhà Giakêu thu thuế.
- Chúa trực diện với người đàn bà ngoại tình bị lên án phải ném đá.
Và những lời của Chúa Giêsu sau đây:
- "Ai khó nhọc và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ bổ sức lại cho".
- "Hãy để các trẻ đến cùng Ta, vì Nước Thiên đàng là của những tâm hồn giống như chúng nó".
- "Ta không đến để được hầu hạ nhưng để phục vụ".
- "Ta không đến để cứu những kẻ công chính nhưng để cứu những người tội lỗi". Con hãy làm như Chúa Giêsu. Hãy tin tưởng và yêu mến Chúa Giêsu. Hãy tiếp xúc như và với Chúa Giêsu. Con sẽ thấy kết quả.
17. Tại tôi không sống với Chúa
* Chỉ có một việc quan trọng nhất, Maria đã chọn phần tốt nhất: ngồi bên Chúa. Nếu con không sống nội tâm, nếu Chúa Giêsu không phải là linh hồn các hoạt động của con, thì... Con thấy nhiều, hiểu nhiều rồi, cha miễn nói (ÐHV 995).
Cha Antoine thuật lại: "Có một linh mục sống mười lăm năm trong khổ cực và luôn luôn chống đối Ðức Giám mục, ngài cầm đầu một nhóm linh nục phản chứng. Trước ngày ngài định tới gặp Ðức Giám mục xin hồi tục về cưới vợ thì tình cờ ngài gặp một người trong số các anh em của tôi. Cha này đề nghị với ngài, hãy làm một cố gắng cuối cùng xem sao. Ngài đồng ý và đến trung tâm chúng tôi. (Trong thời gian này có một cô 28 tuổi bị bệnh ung thư đã hy sinh tất cả để cầu nguyện cho ngài trở lại).
Anh em chúng tôi đón tiếp ngài, cho ngài làm quen với cuộc sống và đối xử chân thành với ngài cũng như đối với các linh mục khác.
Sau một tháng rưỡi sống chung, tôi được dịp đọc nhật ký của ngài lúc còn ở chủng viện. Tôi xác tín rằng ngài có ơn gọi thực sự, nhưng tôi không sao trình bày tất cả với ngài, chỉ cầu nguyện và mời ngài tiếp tục sống với chúng tôi.
Sau ba tháng, ngài gặp tôi và nói: "Tôi đã tìm thấy tình huynh đệ đích thực, như ngày xưa thánh Phaolô tìm thấy Thiên Chúa trên đường đi Damas".
Từ đó ngài trở nên cởi mở, vui vẻ, nhưng vẫn mang một tâm sự thầm kín trong tâm hồn chưa giải quyết được.
Một ngày kia, ngài bỏ ra đi và để lại cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi: "Con đi và con sẽ trở lại vào tháng 8".
Nhưng chỉ mười ngày sau ngài trở về. Gặp tôi ngài chào và nói:
- Thưa cha, con đi gặp bác sĩ riêng.
Tôi không nói gì, cứ vui vẻ mời ngài tiếp tục sống với anh em.
Sáu tháng sau, ngài tới gặp tôi và lần này ngài tâm sự:
- Thưa cha, con đã tìm ra được nguyên tắc để sống. Ðời linh mục con đau khổ vì thiếu cuộc sống âm thầm, mật thiết với Chúa Giêsu!
Chúng tôi tiếp tục tâm sự với nhau vui vẻ thân mật hơn. Sau đó, ngài trở về giáo phận, tiếp tục sống đời linh mục tốt đẹp và hạnh phúc".
18. Làm sao tìm thánh ý Chúa?
* Con chỉ có một của ăn: "Thánh Ý Chúa Cha" nghĩa là con sống, con lớn lên bằng ý Chúa. Con hành động do ý Chúa. Ý Chúa như thức ăn làm con sống mạnh, vui; ngoài ý Chúa, con chết (ÐHV 996).
Nhà thần học Teuler người Ðức thuật lại: "Có lần tôi muốn tìm một định nghĩa về thánh ý Chúa, tôi suy nghĩ mãi nhưng tìm không ra; tôi cứ đi dạo thơ thẩn trong các vườn hoa, vào các nhà thờ, lục các thư viện nhưng vẫn tìm không ra. Một hôm, tôi vào cầu nguyện trong nhà thờ, lúc đi ra tôi thấy một cụ già ăn mày đang đứng ở cửa nhà thờ ngả mũ xin tiền. Theo thói quen, tôi lấy tiền biếu cụ và chào: "Bonjour Monsieur!", nghĩa từng tiếng là "chúc ông một ngày tốt". Cụ già trả lời: "Tous les jours sont bons!" (ngày nào lại không tốt). Nghĩ ông già bướng bỉnh, tôi dừng lại và nói:
- Xin lỗi cụ, cụ đói rách thế mà cụ bảo ngày nào cũng tốt sao?
- Thưa ông, tôi theo ý Chúa. Chúa muốn mưa, tôi cũng muốn, Chúa muốn nắng tôi cũng muốn, Chúa muốn sướng tôi cũng muốn, Chúa muốn cực tôi cũng muốn, chấp nhận tất cả. Phần tôi đã lo phấn đấu lao động lúc trẻ nên đủ ăn, giờ đây già, bà con rộng lòng nên cũng đủ ăn, ngày nào cũng đẹp!"
Ông Teuler tiếp: "Cụ già này thông hơn tôi, chính ông đã cho tôi định nghĩa thánh ý Chúa là gì!".
Chính Ðức Gioan XXIII, lúc tĩnh tâm chịu chức Phó tế ngày 10.4.1903, cũng đã ghi lại những lời tương tự như thế:
"Trời mưa, trời nắng, trời lạnh, bề trên lớn, bề trên nhỏ, quyết định thế này hay thế khác, tôi vẫn phải vui: Không một lời chỉ trích, kêu ca, công khai hay trong lòng, trên môi bao giờ cũng nở một nụ cười tươi, hồn nhiên chân thành. Thành công không nên làm tôi mất tự chủ, đau buồn của cuộc đời không được đánh đổ tinh thần tôi".
19. Phút đẹp nhất đời
* Con chỉ có một giây phút đẹp nhất: Giây phút hiện tại, sống trong tình yêu Chúa cách trọn vẹn; đời con sẽ tuyệt đẹp nếu kết tinh bằng từng triệu giây phút đẹp nhất. Con thấy đơn sơ, không phải khó! (ÐHV 997).
Cha Gonza thuật chuyện: "Hồi ấy tôi là công nhân, có dịp đi tiếp tế ở một trại tù Phátxít. Trại này có chừng 500 người gồm Giám mục, Tổng đại diện, quản hạt, chánh xứ, phó xứ... Họ bị kết án không cho hoạt động gì cả. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ gặp những người chán nản, tuyệt vọng. Tôi chắc rằng đau khổ lớn lao nhất đối với họ là thấy hàng vạn giáo dân không có người lo, đang lúc đó 500 linh mục bị cầm tù ở đây. Họ vui vẻ trả lời với tôi: "Chúng tôi đang sống với Chúa và đang theo Chúa ở đây. Theo tính tự nhiên, sống mà không hoạt động, nhất là bỏ con chiên là một điều đau khổ lớn. Nhưng chúng tôi làm điều Chúa muốn, chứ không phải điều chúng tôi muốn. Chúng tôi tin chắc là Chúa sẽ lo cho giáo dân thay chúng tôi. Ở đây chúng tôi chỉ cần làm việc là sống mỗi giây phút đầy yêu thương nhau, sống Phúc Âm. Khi thấy chúng tôi vui vẻ yêu thương nhau và thương yêu họ, cả những người lính gác cũng vui vẻ, tử tế với chúng tôi".
Cha Gonza kể tiếp: "Có lần tôi lại đi tiếp tế cho một linh mục bị giam biệt phòng, tôi hỏi ngài có buồn chán lắm không? Ngài đáp: "Theo tính tự nhiên rất là buồn, vì mình phải câm suốt năm, suốt tháng, suốt ngày. Nhưng rồi tôi đã tập chấp nhận tất cả. Khi có được bánh rượu thì tôi dâng lễ, khi không có bánh rượu thì tôi mang Mình Thánh Chúa trong túi áo, kết hợp với Chúa Giêsu suốt ngày. Và khi không có gì nữa thì tôi theo ý Chúa, tự nhủ nếu Chúa không muốn cho tôi dâng lễ, làm việc tông đồ, thì sống với Chúa trên Thánh giá vậy. Tôi hát suốt ngày và suy niệm Lời Chúa, nghe Chúa nói với tôi, tôi nói với Chúa. Tuy đau khổ, nhưng tôi cứ sống từng phút, hết phút này đến phút khác, và tôi thấy đây là những giây phút đẹp nhất của đời tôi. Chưa bao giờ tôi dâng Thánh lễ, chưa bao giờ tôi chầu Chúa sốt sắng như bây giờ!".
20. Nguồn cảm hứng của thuyết bất bạo động
* Con chỉ có một tuyên ngôn: "Phước thật tám mối". Chúa Giêsu đã tuyên bố trên núi: "Bát Phúc". Hãy sống như vậy, con sẽ nếm được hạnh phúc rồi rao truyền cho mọi người con gặp (ÐHV 998).
Trên thế giới, không ai lại không biết thánh Gandhi (1869-1948) một nhà ái quốc Ấn Ðộ đã dùng đường lối bất bạo động mà thu hồi độc lập cho quốc gia mình. Lúc còn trẻ, ông sang Anh quốc học nghề luật sư, và nhờ đó đã có dịp tiếp xúc với Kitô giáo. Ông đọc Phúc Âm thường xuyên và rất say mê Chúa Kitô, đặc biệt là thán phục "Tám mối phúc thật" của Người. Ông đã lấy đó làm nguồn cảm hứng cho thuyết bất bạo động của ông rõ rệt mang tinh thần tám mối phúc thật và đã trở thành cho ông một lợi khí để thu hồi độc lập quốc gia từ tay người Anh. Tuy nhiên, vì quá tiêm nhiễm quan niệm của Ấn giáo coi Thượng đế phải hoàn toàn siêu việt, không thể nhập thể cách hèn hạ, và vì thấy nhiều Kitô hữu (đặc biệt là người Anh đang đô hộ nước ông) không sống tám mối phúc thật của Chúa Giêsu, ông Gandhi đã không trở lại đạo. Ông có nói một câu khiến ta phải suy nghĩ: "Tôi yêu mến Chúa Kitô nhưng tôi ghét người Kitô hữu, vì họ không giống Chúa Kitô. Nếu họ giống Chúa Kitô, thì dân Ấn của chúng tôi đã trở lại Kitô giáo cả rồi".
21. Làm gì để nên thánh
* Con chỉ có một công việc quan hệ: Bổn phận. Không kể lớn hay nhỏ, vì lúc ấy "con làm việc của Cha con" - trên trời Ngài chỉ định cho tôi thực hiện chương trình của Ngài trong lịch sử. Làm bổn phận là đường lối tu đức chắc chắn nhất, đơn sơ nhất. Nhiều người bày vẽ một lối tu đức rắc rối, rồi phàn nàn là khó! (ÐHV 999).
Các thánh chỉ làm bổn phận mình, theo ơn Chúa ban cho mỗi người. Thánh Giuse và Mẹ Maria không làm gì khác hơn là chu toàn bổn phận âm thầm, khiêm tốn mỗi ngày, nói được là bổn phận tầm thường hơn con nữa.
Chị thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu chỉ lo làm việc nội trợ trong nhà Kín như các chị em khác.
Thánh Isiđôrô cứ đi cày như các nông dân khác.
Thánh Gioakim và Anna là cha mẹ gia đình vất vả như cha mẹ của mọi gia đình khác.
Thánh Gioan Vianney chỉ ngồi tòa giải tội như bất cứ một linh mục nào khác. Có linh mục nào mà giải tội không được đâu! Nhưng cha Vianney rất ý thức về bổn phận cao cả của ngài và đã chu toàn một cách rất tuyệt hảo, mặc dầu ngài dốt đặc. Trước ngài ngồi tòa mỗi tuần ít giờ, dần dần mỗi ngày ít giờ, rồi sau cùng, suốt mấy chục năm cuối đời, ngồi tòa giải tội mỗi ngày 18 giờ. Ngài chỉ làm chừng ấy thôi mà ma quỷ cũng phải thét lên: "Nếu trên thế giới có hai đứa như mày thì bọn tao phải bó tay thất nghiệp".
Hiện giờ, chúng ta có hơn 400,000 linh mục. Nếu ta cùng làm như cha Vianney thì sao!
22. Ơn Chúa và ý chí con
Cậu Phaolô Bột, tiểu chủng sinh làng Sơn Miếng, phủ Ung Hòa, tỉnh Hà Đông, bị bắt cầm tù vì theo đạo Gia-tô. Cậu bị tra tấn dữ dằn, và vì còn trẻ, non gan yếu dạ nên cậu đã bước qua thập tự giá theo lệnh quan. Người ta thả cậu về. Mẹ cậu đuổi cậu ra khỏi nhà vì không muốn một đứa con chối Chúa. Phaolô bèn đi tìm một linh mục để xưng tội rồi lại trở về xin lỗi mẹ. Mẹ cậu tha lỗi và khuyên cậu: "Hãy vững vàng tuyên xưng lại Ðức tin, có Chúa giúp con".
Nhờ ơn Chúa soi sáng, cậu Bột lấy lại ý chí, và với một tâm hồn can trường quả cảm, cậu chạy thẳng đến dinh Thượng Nam Ðịnh và lớn tiếng nói: "Tôi đã dại dột bước qua Thập giá, giờ đây tôi đến xưng đạo lại, tôi sẵn sàng chết vì Chúa". Lính đuổi cậu ra và quát bảo: "Ðồ ngu dại, đi đi, về nhà ngay kẻo chết. Bén mảng đến đây làm gì!" Nhưng cậu Bột vẫn can đảm đứng lì lại đấy, miệng không ngớt tuyên xưng Ðức tin.
Sau khi lãnh bản án của quan phê chuẩn, cậu bị voi chà nát bét cả thân mình. Linh hồn cậu bay thẳng về nơi vinh hiển (1858).
* * *
Phêlixita và Perpêtua là hai thánh nữ đang học đạo thì bị Hoàng đế Sêvêrê bắt giam. Vì Phêlixita đang mang thai nên được hoãn xử tử, đợi đến ngày sinh nở xong mới mang ra pháp trường. Ðang lúc còn ở tù, cả hai đã được vinh dự chịu phép Thánh tẩy trở thành Kitô hữu chính hiệu.
Trong chốn tù ngục, cả hai đã phải phấn đấu gắt gao, vì phải chịu biết bao nhiêu là lo âu dày vò, xao xuyến.
Perpêtua thuộc dòng dõi quý tộc, mỗi ngày người cha già của nàng đến khóc lóc thảm thiết, năn nỉ nài xin con hãy vì tình thương tuổi già của mình và vì gia nghiệp lớn mà chối đạo... Ai là con mà chẳng động lòng xót xa trước giòng suối lệ của thân phụ; nhưng với ơn Chúa và ý chí mình Perpêtua đã thắng.
Còn Phêlixita trong cơn đau đớn lúc sinh con, đã bị lính gác mỉa mai: "Bây giờ sinh con, chị kêu van như thế, ngày nào bị giết, chị chịu sao nổi?" Phêlixita đáp: "Bây giờ chỉ có mình tôi đau khổ, nhưng chừng ấy có sức Chúa trong tôi". Rồi Phêlixita phải dứt lìa tình mẹ con, giao đứa con thơ đang bú cho người nhà nuôi dưỡng. Cả hai chị em đã ra hí trường chịu khổ hình tàn nhẫn. Khi còn có thể, miệng họ vẫn hiên ngang ca hát để chúc tụng Thiên Chúa.
Một lúc sau, hí trường im bặt tiếng hát cả hai đã nát thịt tan xương dưới gót chân và hàm răng của thú rừng tàn bạo. Ơn Chúa và ý chí họ đã thắng. Hôm ấy là ngày 7/3 năm 203.
(Còn tiếp)