Banner giua trang

Đấng Kitô của Thiên Chúa

Đăng lúc: Thứ sáu - 19/11/2010 14:56 - Người đăng bài viết: vanhung
Đấng Kitô của Thiên Chúa

Đấng Kitô của Thiên Chúa

Chúa Giêsu không chết trong thinh lặng. Người chết sau khi được tuyên xưng cách công khai là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Như thế cái chết trên thập giá của Người có tính cách cứu độ và mang ơn giải thoát đến cho mọi người.

Lễ Chúa Kitô Vua

Đấng Kitô của Thiên Chúa

Lc 23:35-43: 35 Dân thì đứng nhìn, còn các đầu mục thì nhạo báng mà rằng: "Nó đã cứu những ai khác, thì nó hãy cứu lấy mình! nếu nó là Ðức Kitô của Thiên Chúa, Ðấng đã được chọn!" 36 Cả lính tráng cũng chế diễu Ngài; xích lại bên, chúng dâng dấm cho Ngài, 37 mà rằng: "Nếu mày là vua dân Do Thái, thì hãy cứu lấy mình!" 38 Phía trên Ngài có tấm biển: Tên này là Vua dân Do Thái.

39 Một người trong các kẻ gian phi bị treo đó mắng nhiếc Ngài: "Phải chăng mày là Kitô? Hãy cứu lấy mình và chúng ta với!" 40 Nhưng tên kia lên tiếng mắng bảo nó: "Mày không kính sợ Thiên Chúa sao, ngay lúc mày cũng mắc đồng một án? 41 Phần ta, thực tế phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; nhưng ông này, ông không hề làm điều gì trái!" 42 Và hắn nói: "Lạy Ðức Yêsu, xin nhớ tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài!" 43 Và Ngài đã nói với hắn: "Quả thật, Ta bảo ngươi: hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta!"

Đoạn 23:35-43 là màn chế giễu cuối cùng (x. 22:63; 23:11) Chúa Giêsu chịu trước khi Người trút hơi thở cuối cùng (23:44-49). Người đã đến Núi Sọ, bị đóng đinh giữa hai phạm nhân. Áo xống của Người cũng bị tước đoạt (23:33-34). Trình thuật nầy có rất nhiều nhân vật: dân chúng, các thủ lãnh, lính tráng, hai phạm nhân với hai thái độ khác nhau và Chúa Giêsu. Có thể chia đoạn nầy làm hai: - Nhóm dân chúng, thủ lãnh và quân lính (23:35-38); - Hai phạm nhân (23:39-44). Chúa Giêsu là trung tâm của cảnh chế giễu nầy.

Luca đã dùng phân từ “kai”, “và” để lên kết các nhóm người lại “và dân chúng (c. 35) - và các thủ lãnh” - “và quân lính” - “và tấm bảng”. Mỗi người mỗi cách, nhưng chung một thái độ chế giễu Chúa Giêsu. Điểm chung là họ dùng  câu điều kiện “nếu”, trong đó họ có lời thách thức giống nhau  “Hãy tự cứu mình” (cc. 35.37.39), và họ gọi Chúa Giêsu bằng những tước hiệu tương tự nhau “Đấng Kitô” (c. 35), “Vua dân Do thái” (c. 37); “Đấng Kitô” (c. 39). Câu trả lời cho những thách thức và chế giễu nầy nằm trong lời tuyên xưng của phạm nhân thứ hai (c. 42), và trong lời hứa thiên đàng cho phạm nhân nầy (c. 43).

Dân chúng (c. 35)

Luca chỉ ghi nhận “dân chúng đứng nhìn”. Dân chúng không chỉ đứng đó nhìn cách bàng quan, mà tham dự vào sự khinh rẻ và chế nhạo diễn ra lúc ấy. Xem Tv 22:8: “Ai thấy (theōreō) tôi cũng nhạo báng (ekmyktērizō) lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai”. Trong 14:29, Luca cho thấy “cái nhìn” (theōreō) gắn liền với “chế giễu” (empaizō) (14:29). Chính dân chúng đã đứng chung với các thượng tế và thủ lãnh trước toà Philatô (23;13) và đồng ý kết án tử Chúa Giêsu (23:18). Vậy, dân chúng đứng nhìn lâu (động từ ở thể phân từ hiện tại) mà không phản đối, chính là đồng loã với những người lên tiếng chế giễu Người.

Các thủ lãnh (c. 35)

Ở đây Luca chỉ nói đến “các thủ lãnh”, trong khi ở 23:13 và 24:20, ông nhắc đến cả các thượng tế. Động từ  ekmyktērizō nghĩa là “nhạo báng”; chỉ gặp trong 16:14; 23:35. Có thể có mối liên hệ giữa đoạn nầy với  Tv 22:8. Trong lời họ nhạo báng, Luca nhấn mạnh đến khía cạnh cứu chuộc của Chúa Giêsu, tư cách Con Thiên Chúa được Thiên Chúa sai đến. Cụm từ “Hãy cứu lấy chính mình” được lập lại 3 lần bởi các thủ lãnh (c. 35), quân lính (c. 37) và phạm nhân (c. 39). Động từ “sozō” “cứu” dùng rất nhiều trong trình thuật nầy (cc. 35[2x].37.39). Nó mang ý nghĩa rộng hơn sự chữa lành bệnh. Đó là cứu khỏi tội và đưa vào Nước Trời (x. 7:50; 8:48.50; 17:19; 18:42). Động từ “sozō” và tước hiệu “Christos”, Kitô, liên hệ với nhau. Sau lời Phêrô tuyên xưng Người là “Đấng Kitô” (9:20), Chúa Giêsu nói đến sự cứu độ cho những ai bỏ mình và vác thánh giá  đi theo Người (9:24). Tước hiệu “Đấng Kitô của Thiên Chúa” đã được Phêrô tuyên xưng lần đầu tiên (9:20). Tước hiệu nầy nhấn mạnh nguồn gốc của Đấng Kitô và tương quan và sự thông hiệp của Người với Thiên Chúa. “Của Thiên Chúa” có nghĩa là do Thiên Chúa tuyển chọn và sai đến. Tước hiệu “Kitô” đứng một mình như trong lời của phạm nhân thứ nhất (c. 39) có thể hiểu là một đấng thiên sai, một vị vua được xức dầu nào đó. Rồi tước hiệu “Người được tuyển chọn” cũng nói lên liên hệ với Thiên Chúa (18:7). Chính Thiên Chúa xác nhận điều nầy về Chúa Giêsu trong biến cố biến hình (9:35).

Nhóm quân lính (c. 36)

Sau các thủ lãnh tôn giáo, đến dân ngoại chế giễu Chúa Giêsu. Họ là những người canh giữ (22:63), Hêrôđê (23:11), lính tráng (23:36). Điều nầy đã được nói đến trong lời tiên báo thứ ba về cuộc khổ nạn (18:32; 22:62). “Empaizō” “chế giễu” là khinh rẻ và lấy người khác làm trò chơi cho mình. Những người canh giữ Chúa Giêsu đã bịt mắt Người, đánh Người và bảo Người đoán xem ai đã làm điều ấy (x. 22:63-65); Hêrôđê muốn Người làm những phép lạ để thoả mãn sự tò mò của ông (23:8-9). Lính tráng bên thập giá đưa giấm lên cho Người uống (23:36). Tước hiệu “Vua dân Do thái” nầy phát xuất từ dân ngoại mà thôi: Philatô (x. 23:3), tấm bảng treo trên đầu Người (23:38) và lính tráng ở đây. Lần đầu tiên Chúa Giêsu được dân Do thái gọi là vua, basileus, khi Người vào thành Giêrusalem: “Chúc tụng Đức Vua, Đấng nhân danh Chúa mà đến” (x. 19:38). Chúa Giêsu là vua, basileus, mà cũng là Christos (x. 23:2).

Cho đến lúc nầy, cả các thủ lãnh lẫn dân ngoại chẳng ai biết rõ và chắc chắn Chúa Giêsu là ai. Người ta thắc mắc về căn tính của Người (x. 20:41; 22:67; 23:2); ngoại trừ ma quỉ (4:34; 4:41; 8:28) và nhóm Mười Hai (9:20), không ai biết rõ căn tính của Người. Người ta thắc mắc về Người (x. 20:41; 22:67; 23:2). Bởi đó, họ nghĩ đây là cơ hội cuối cùng họ có thể buộc Chúa Giêsu chứng tỏ ra Người là ai, bằng cách làm theo yêu cầu của họ. Chúa Giêsu đã không làm theo yêu cầu của họ, vì Người biết họ không tin vào Người ( 22:67), và chính khi chịu đóng đinh, Người tỏ ra cách tỏ tường nhất Người là Đấng Kitô của Thiên Chúa; nói cách khác là Đấng Thiên Sai, được gởi đến để cứu chuộc con người. Không làm theo điều kiện họ đặt ra, Chúa Giêsu không phải là Đấng Kitô theo ý nghĩ của họ.

Tấm bảng (cc. 23:38)

“Và” (xem trên) liên kết tấm bảng nầy với những nhóm người nhạo báng Chúa Giêsu. Có sự khác biệt ít nhiều giữa các tin mừng về điều ghi trên tấm bảng treo trên đầu Chúa Giêsu (x. Mt 27:37; Mc 15:26; Gio 19:19). “Houtos” chỉ Đấng bị đóng đinh dưới tấm bảng. Cách trình bày đơn sơ “Và có tấm bảng trên đầu Người” muốn ám chỉ điều ghi trên tấm bảng “Người nầy là Vua dân Do thái” tương phản với người đang bị đóng đinh. Như thế, tấm bảng nối dài lời nhạo báng của lính tráng.

Phạm nhân thứ nhất (cc. 23:39)

Luca dùng động từ blasphēmēō, “nói phạm thượng”, để chỉ thái độ của người nầy đối với Chúa Giêsu. Động từ nầy chỉ dùng ba lần trong Luca:  nói phạm thượng đến Chúa Thánh Thần (12:10), những người canh giữ và phạm nhân nầy nói phạm thượng đến Chúa Giêsu (22:65; 23:39). Như thế, blasphēmēō là nói những lời chống lại Thiên Chúa. Người nầy nói phạm thượng vì tình cảnh bất lực và vô vọng của mình. Anh muốn Chúa Giêsu dùng quyền năng của Đấng Kitô để giải thoát anh khỏi cái chết gần kề.

Phạm nhân thứ hai (cc. 40-42)

 Người nầy ngỏ lời trước tiên với người đồng chịu án (23:40-41) và với Chúa Giêsu (23:42). Trong lời ngỏ với phạm nhân kia, người nầy nói đến sự kính sợ Thiên Chúa, đến việc nhìn nhận tội và chấp nhận hình phạt xứng với việc đã làm và bênh vực Chúa Giêsu là vô tội. Khi trách phạm nhân kia không kính sợ Thiên Chúa bằng câu hỏi, người nầy gián tiếp cho thấy ông có lòng kính sợ Thiên Chúa. Ông quan toà là tiêu biểu của những người không kính sợ Thiên Chúa (18:2-4). Ngược lại, Mẹ Maria là gương mẫu của người kính sợ Thiên Chúa. Ai kính sợ Thiên Chúa thì được Người xót thương (1:50). Phạm nhân thứ hai nầy tỏ ra kính sợ Thiên Chúa khi ông dám nói nghịch lại phạm nhân kia, cũng là nghịch lại dân chúng, các thủ lãnh và lính tráng. Cái chết gần kề, ông không sợ. Ông chỉ sợ Đấng có thể ném cả thân xác và linh hồn ông vào hoả ngục (x. 12:4-9). Bởi có lòng kính sợ nầy, ông sẽ được Thiên Chúa xót thương và cứu lấy ông.

Nói về Chúa Giêsu, ông bênh vực Người là vô tội (23:41). Chính Philatô cũng đã nhận ra như thế (23:22). Ngỏ lời với Chúa Giêsu, ông gọi Người bằng tên “Giêsu”, chứ không bằng bất cứ tước hiệu nào. Tên “Giêsu” nầy liên kết với “Đấng Thánh của Thiên Chúa (4:34), với “Con của Đấng Tối Cao” (8:28), với “Con vua Đavít” (18:38), với “Thầy” (17:13) và “Chúa” (Cv 7:59). Ông xin Người nhớ đến ông trong Nước của Người. Mimneskomai, “nhớ”, bao hàm ý nghĩa cứu độ. Thiên Chúa nhớ tỏ lòng thương xót trên Abraham và con cháu ông đến muôn đời (1:54). Thiên Chúa nhớ đến giao ước mà cứu khỏi tay kẻ thù (1:72). Ông nói đến “Nước”, basileia, của Người. Nước của Chúa Giêsu đồng hóa với Nước của Thiên Chúa (22:29.30); “Nước Thiên Chúa” được nhắc đến tới 31 lần trong Luca. Như thế lời của phạm nhân thứ hai nầy ngỏ với Chúa Giêsu trở thành câu trả lời gián tiếp cho những người nhạo báng trên, và đó cũng là lời tuyên xưng đức tin của ông: - “Giêsu” là Con Thiên Chúa, nên Người mới có thể nhớ và tỏ lòng thương xót ông như Thiên Chúa; - “Giêsu” là Đấng Kitô, là Vua nên Người mới có “Nước của Người”; - Nước của Người là Nước của Thiên Chúa và Người là Con Thiên Chúa; đồng thời cũng là Con vua Đavít. Vậy Người thật sự là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”, và cũng là “Vua dân Do thái”.

Chúa Giêsu trả lời với phạm nhân nầy bằng lời hứa là hôm nay ông sẽ cùng với Người trong thiên đàng. Đây là thiên đàng của Thiên Chúa (x. Kh 2:7). “Ở trong thiên đàng” là ở trong sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Nói cách khác là “trong tay” của Người (x. 23:46). Phạm nhân thứ hai đã tuyên xưng Chúa Giêsu trước mặt mọi người, nhất là những người chối bỏ Người; bởi đó ông được Người nhận biết và cho hưởng Nước Trời (x. 12:8).

Chúa Giêsu không chết trong thinh lặng. Người chết sau khi được tuyên xưng cách công khai là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Như thế cái chết trên thập giá của Người có tính cách cứu độ và mang ơn giải thoát đến cho mọi người. 

Tác giả bài viết: Lm Đặng Quang Tiến
Từ khóa:

n/a

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 09/2018


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/9/2018 

- Peace is a choice: it cannot be imposed and it isn’t found by chance.
Hòa bình là một lựa chọn: Hòa bình không thể bị áp đặt, cũng không phải chuyện từ đâu tới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/9/2018 

- Goodness is loving and never imposes itself. It is a choice.
Lòng tốt là một thứ tình yêu không bao giờ áp đặt. Lòng tốt là một lựa chọn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/9/2018 

- It takes effort to always do good… The road to holiness is not for the lazy!
Làm điều tốt thì mệt… Con đường nên thánh không dành cho người lười biếng!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/9/2018 

- Today the Church invites us to contemplate the Cross of Our Lord. Contemplating the Cross for us Christians means contemplating both a sign of defeat and a sign of victory.
Hôm nay Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm Thập Giá của Chúa chúng ta. Đối với Kitô hữu, chiêm ngắm Thập Giá là chiêm ngắm cả hai dấu chỉ của thất bại và của chiến thắng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/9/2018 

- Mary our Mother knows the joys and difficulties that we experience along our journey.
Đức Maria Mẹ chúng ta biết những niềm vui và những khó khăn mà chúng ta trải qua trong suốt hành trình của mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/9/2018 

- Jesus came down on earth so that we could go up to heaven: this is the mystery of the Cross.
Đức Giêsu xuống trần gian để chúng ta có thể lên thiên đàng: đó là mầu nhiệm của Thập Giá.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/9/2018 

- Without the right to education there is no real freedom, which allows every person to be the protagonist of their own destiny!
Không có quyền được giáo dục thì không có tự do đích thực, điều làm cho mỗi người trở thành vai chính của vận mệnh riêng mình!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/9/2018 

- Faith helps us grasp the meaning of life: God is with us and loves us infinitely.
Đức tin giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa cuộc sống: Thiên Chúa ở với chúng ta và yêu thương chúng ta vô cùng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/9/2018 

- True peace is a gift of God that springs from healed and reconciled hearts and reaches out to embrace the entire world.
Hòa bình đích thực là ân huệ của Thiên Chúa; nó nảy sinh từ những trái tim lành lặn và hòa giải, mở ra ôm trọn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 31/8/2018 

- The love of Christ, welcomed with an open heart, changes us, transforms us, and makes us able to love.
Tình yêu của Đức Kitô, được đón nhận với trái tim rộng mở, làm thay đổi chúng ta, biến đổi chúng ta, khiến chúng ta có khả năng yêu thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/8/2018 

- To pray is the first missionary task of every Christian. It is also the most effective.
Cầu nguyện là công việc truyền giáo đầu tiên của mọi Kitô hữu. Đó là công việc hữu hiệu nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/8/2018 

- If the Lord has gifted you with riches, it is in order to do lots of good things for others in His name.
Nếu Chúa ban cho bạn nhiều của cải, đó là để bạn nhân danh Ngài làm nhiều điều tốt cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/8/2018 

- Dear Mothers, be like Saint Monica and never give up. Pray unceasingly for your children.
Các bà mẹ thân mến, hãy noi gương thánh Monica và đừng bao giờ bỏ cuộc. Hãy không ngừng cầu nguyện cho con cái mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/8/2018 

- May God’s blessing come down upon all your families, so that they may be places of love and forgiveness.
Nguyện xin Thiên Chúa chúc phúc cho tất cả gia đình các bạn, ngõ hầu những nơi đó thành nơi ngự trị của tình yêu và tha thứ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/8/2018 

- I ask our Blessed Mother to intercede for the healing of the survivors of abuse and to confirm every member of our Christian family in the resolve never again to permit these situations to occur.
Tôi cầu xin Đức Mẹ Cầu Bàu chữa lành tất cả những ai đã từng bị lạm dụng dưới mọi hình thức và củng cố quyết tâm của mọi thành viên gia đình Kitô giáo không bao giờ để các tình trạng đó tái diễn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/8/2018 

- The #Family is an icon of God: the bond between a man and a woman generates life and commUNI0N.
#Gia đình là hình tượng của Thiên Chúa: giao ước giữa một người nam và một người nữ tạo ra sự sống và sự hiệp nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/8/2018 

- The #Family is the cradle of life and the school of love and acceptance. It is a window thrown open to the mystery of God.
#Gia đình là cái nôi của sự sống, là trường học yêu thương và đón nhận. Đó là cánh cửa mở ra với huyền nhiệm của Thiên Chúa.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 09/2018

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 31
  • Hôm nay: 1257
  • Tháng hiện tại: 237548
  • Tổng lượt truy cập: 24248870