Banner giua trang

Chúa nhật 4 Mùa Chay. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ tư - 22/03/2017 06:55 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Chúa Nhật IV Mùa Chay này giúp chúng ta hiểu bí tích Thánh Tẩy, mà các tân tòng chuẩn bị để lãnh nhận vào lễ Đêm Vọng Phục Sinh.
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

 
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Chúa Nhật IV Mùa Chay này giúp chúng ta hiểu bí tích Thánh Tẩy, mà các tân tòng chuẩn bị để lãnh nhận vào lễ Đêm Vọng Phục Sinh.
 
1Sm 16: 1, 6-7, 10-13
 
Bài Đọc I thuật lại việc Đa-vít được tuyển chọn và được xức dầu phong vương thay thế cho vua Sa-un, vị vua tiên khởi của dân Ít-ra-en, vì tội bất trung. Từ đây, vua Đa-vít là người được Chúa chọn, mặc một tính chất thánh thiêng và tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa. Vua Đa-vít là hình ảnh của Đức Ki-tô, Đa-vít của thời đại mới.
 
Ep 5: 8-14
                               
Trong Thư gởi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô khuyên những Kitô hữu sống sao cho phù hợp với cách ăn nếp ở của “con cái ánh sáng”.
 
Ga 9: 1-41
 
Tin Mừng Gioan tường thuật việc người mù từ thuở mới sinh được sáng mắt. Bài trình thuật nầy thuộc giáo lý bí tích Thánh Tẩy, vì người mù, sau khi rửa trong hồ Si-lô-ác, mắt liền được mở ra đón nhận ánh sáng, anh là tiền thân của người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Trong ánh sáng của đức tin, người Ki-tô hữu thấy và hiểu được những mầu nhiệm mà người khác không thể thấy và hiểu được.
 
BÀI ĐỌC I (1Sm 16: 1, 6-7, 10-13)
 
Bản văn nầy đưa chúng ta trở về những năm tháng đầu tiên của thể chế vương quyền Ít-ra-en (1020-1010 BC). Sau một thời gian dài do dự (không phải Đức Chúa là vị vua duy nhất của dân Ít-ra-en đó sao?) và vì những hoàn cảnh đòi buộc, dân Ít-ra-en thử nghiệm thể chế quân chủ. Kinh nghiệm đầu tiên nầy không thuận buồm xuôi gió: vì vua Sa-un bất tuân, Thiên Chúa đã quyết định truất phế vua. Ông Sa-mu-en, người của Đức Chúa, lại nhận sứ mạng đi tìm kiếm một vị vua mới.
 
1. Cách thức tuyển chọn lạ lùng của Thiên Chúa:
 
Câu chuyện xảy ra ở Bê-lem. Tình tiết của câu chuyện mặc khải cách đặc biệt cách thức Thiên Chúa chọn lựa những tôi trung ưu ái của Ngài: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng”. Quả thật, Bê-lem là một vùng quê nhỏ bé không tên tuổi đến nổi ngôn sứ Mi-kha nói “ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa” (Mk 5: 1); hơn nữa, Đa-vít là con út trong gia đình đông con của ông Gie-sê.
 
Sự chọn lựa của Thiên Chúa luôn luôn gây kinh ngạc. Để bày tỏ niềm ưu ái đối với những kẻ bé mọn và khiêm hạ, Ngài chọn người con út hơn là con cả. Xưa kia, Thiên Chúa đã chọn ông Ghít-on để giải phóng Ít-ra-en khỏi sự áp bức của người Ma-đi-an. Ấy vậy, ông là cậu con trai út trong gia đình thuộc bộ tộc “nhỏ bé nhất ở Mơ-na-se”. Ông Mô-sê cũng được nhìn nhận là “người khiêm tốn nhất trong số con cái loài người”. Lịch sử đã cho chúng ta biết bao ví dụ như thế.
 
2. Đa-vít, cậu bé chăn chiên:
 
Vua Đa-vít xuất thân từ một cậu bé chăn của miền Bê-lêm nhỏ bé nghèo hèn, nơi mà ngàn năm sau đó Đức Giê-su sẽ chào đời. Sự kiện Đấng Mê-si-a giáng sinh ở nơi hẻo lánh nầy sẽ là một trong những dấu hiệu về Đấng Mê-si-a thuộc “dòng dõi Đa-vít”. Những người chăn chiên Bê-lem sẽ là những người đầu tiên đến thờ lạy Ấu Chúa Giê-su.
 
3. Khung cảnh phong vương Đa-vít:
 
Khi đến Bê-lem, ngôn sứ Sa-mu-en hiến tế một con bò cái tơ lên Đức Chúa để “thanh tẩy ông Gie-sê và các con trai ông ấy và mời họ đến dự hy lễ” (1Sm 16: 5b). Trước khi ngồi vào bàn, ngôn sứ Sa-mu-en nói với ông Gie-sê: “Chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi Đa-vít tới đây”. Vị ngôn sứ đã hiểu rằng chính cậu út Đa-vít là người Thiên Chúa chọn. Chính trong bữa ăn thánh thiêng nầy mà Đa-vít được xức dầu phong vương.
 
4. Xức dầu phong vương.
 
Xức dầu là nghi thức thánh hiến, thường nhất là nghi thức phong vương. Được người của Thiên Chúa xức dầu tấn phong, vị tân vương trở thành một con người thánh thiêng. Dầu tăng sức mạnh thân thể là biểu tượng sức mạnh của Thiên Chúa, thần lực nầy đến ở với vua: “vua đầy tràn Thần Khí Thiên Chúa”. Thuật ngữ “Đấng được xức dầu” theo tiếng Do thái là “Đấng Mê-si-a” và được dịch sang tiếng Hy lạp là “Đấng Ki-tô” (“Christos”). Như vậy, những lời loan báo về Đấng Cứu Thế trước hết là Đấng Mê-si-a vương đế.
 
Có một truyền thống khác liên quan đến việc phong vương Đa-vít. Đa-vít trung thành phục vụ vua Sa-un và đã đạt được uy tín lẫy lừng nhờ chiến công cũng như nhờ nhân cách của ông. Sau khi vua Sa-un tử trận, Đa-vít được tấn phong làm vua tại Khép-rôn (x. 2Sm 2: 4; 5: 1-4). Truyền thống thứ hai nầy có tính lịch sử hơn trong khi truyền thống thứ nhất (1Sm 16) có tính thần học hơn: nhấn mạnh chính Đức Chúa chọn Đa-vít làm vua.
 
BÀI ĐỌC II (Ep 5: 8-14)
 
Thánh Phao-lô viết thư gởi tín hữu Ê-phê-xô từ Rô-ma, trong cảnh lao tù, giữa những năm 61-63. Thư này được gởi đến các cộng đoàn Kitô hữu miền Tiểu Á, chủ yếu là những Kitô hữu gốc lương dân. Bức thư gồm hai phần: trong phần thứ nhất thuộc đạo lý (1: 3-3: 21), thánh Phao-lô giải thích mầu nhiệm cứu độ phổ quát được ban cho dân Do thái cũng như dân ngoại ở nơi Đức Kitô. Trong phần thứ hai thuộc luân lý (4: 1-6: 20), thánh nhân khuyên các tín hữu sống theo những giá trị Ki-tô giáo. Đoạn văn hôm nay được trích từ phần thứ hai này.
 
Thánh nhân vừa mới nêu lên nhiều chủ đề khác nhau và nhiều hình ảnh đa dạng, rất quen thuộc với khoa giáo lý bí tích Thánh Tẩy của Giáo Hội tiên khởi, như là “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát… và phải mặc lấy con người mới, đó là con người được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa. Ở đây, thánh nhân tập trung sự chú ý vào chủ đề ánh sáng.
 
1. Người Kitô hữu là ánh sáng:
 
“Xưa kia anh em đã từng là bóng tối, nhưng bây giờ, nhờ kết hợp với Chúa, anh em lại là ánh sáng”. Ở nơi câu này, bí tích Thánh Tẩy được mặc nhiên đề cập đến. Bí tích Thánh Tẩy được gọi là “ơn thần khải”, người chịu phép Thánh Tẩy là “người được ơn thần khải” và giếng Thánh Tẩy được gọi rất ý nghĩa: “nơi lãnh nhận ơn thần khải”. Ngược lại là bóng tối. Việc đối lập ánh sáng và bóng tối, một chủ đề Kinh Thánh rất xưa và rất phổ biến như gặp thấy trong những bản văn của cộng đoàn Qum-rân, được thánh Phao-lô và đặc biệt thánh Gioan lấy lại.
 
Qua cặp tương phản ánh sáng và bóng tối nầy, thánh Phao-lô kêu gọi những Kitô hữu gốc lương dân ý thức rằng cuộc sống của họ đã được biến đổi sâu xa biết bao, họ đã trở nên khác biệt biết mấy; vì thế, cuộc sống của họ phải làm chứng điều nầy: “Hãy vạch trần những công việc của bóng tối”. Chắc chắn câu này phải được hiểu rằng cách ăn nếp ở của người Kitô hữu có thể khiến cho những tội nhân thay đổi cách sống, bởi vì ánh sáng chiếu soi vào bóng tối và làm cho bóng tối biến tan: “Tất cả những gì đã bị vạch trần, đều lộ ra ánh sáng; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng” .
 
2. Người Kitô hữu chỗi dậy từ bóng tối sự chết:
 
Qua bí tích Thánh Tẩy, người Kitô hữu “chỗi dậy” từ bóng tối sự chết. Chắc hẳn thánh Phao-lô trích dẫn vài câu từ một bài thánh thi về bí tích Thánh Tẩy của Giáo Hội tiên khởi, và phải là khá phổ biến. Chúng ta gặp thấy bài thánh thi nầy, khá đầy đủ hơn, trong tác phẩm của Giáo Phụ Cơ-lê-men-tê thành A-lê-xan-ri-a (vào cuối thế kỷ thứ hai sau Công Nguyên)
 
“Hãy tỉnh giấc đi, hỡi người đang ngủ.
Hãy chỗi dậy đi từ những vong nhân.
Và Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi.
Ngài là ánh sáng Phục Sinh,
được sinh ra trước khi sao mai xuất hiện;
Ngài ban sự sống bởi ánh quang rạng ngời của Ngài” (Protriptique 9, 84, 2)
 
Bài thánh thi nầy minh chứng hùng hồn đạo lý Thánh Tẩy mà thánh Phao-lô không ngừng nhắc đi nhắc lại: chết cho tội lỗi và tái sinh trong Đức Kitô Phục Sinh. Hơn nữa, bài thánh thi đậm đà hương vị Kinh Thánh gợi nhớ vài hình ảnh của các ngôn sứ như:
 
“Nầy những kẻ nằm trong bụi đất,
hãy trỗi dậy, hãy reo mừng!
Vì lạy Chúa, sương Người ban là sương ánh sáng,
và đất sẽ cho các âm hồn được hồi sinh” (Is 26: 19)
 
Hay:
 
“Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của Người đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi.
Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân;
còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa,
vinh quang Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60: 1-2)
 
Đoạn thư này giúp chúng ta hiểu rõ hơn địa vị Ki-tô hữu của chúng ta. Mỗi ngày chúng ta được mời gọi sống theo những giá trị Ki-tô giáo. Đành rằng ơn cứu độ là công trình của Thiên Chúa, nhưng chỉ trở nên hiệu lực khi nào chúng ta mở rộng lòng mình cho Đấng chúng ta tin.
 
TIN MỪNG (Ga 9: 1-41)
 
Bài trình thuật này gợi lên nhiều điểm tương đồng với bài trình thuật về việc Đức Giê-su chữa lành người bại liệt (Ga 5 : 9-11). Quả thật, cả hai bài trình thuật đều ghi nhận rằng Đức Giê-su chỉ xuất hiện vào lúc bắt đầu câu chuyện để thực hiện “dấu lạ” và xác định ý nghĩa của nó (9 : 1-7 và 5: 1-8), và vào lúc kết thúc câu chuyện để long trọng tuyên bố bản án (9 : 35-41 và 5: 14-18)). Giữa thời gian ấy, Đức Giê-su rút lui vào hậu trường để hoàn toàn nhường sân khấu cho một bài trình thuật bóng bẩy, linh hoạt, đầy biến động về những phản ứng khác nhau từ phía những hạng người khác nhau trước dấu lạ của Ngài (9: 8-34 và 5: 9-13). Tuy nhiên, với tính hồn nhiên, cởi mở, thông hiểu và dũng cảm: ăn miếng trả miếng của mình, anh mù đã trổi vượt trên người bại liệt thụ động và kém linh hoạt.
 
1. Dẫn nhập (9 : 1-7)
 
A-Vấn đề tội lỗi:
 
“Vấn đề tội” đóng chức năng đóng khung toàn bộ câu chuyện: ở đầu câu chuyện, chính các môn đệ nêu lên: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người nầy sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” (9 : 2) và ở cuối câu chuyện, chính Đức Giê-su nói với các người Pha-ri-sêu: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội của các ông vẫn còn đó” (9 : 41).
 
Câu hỏi mà các môn đệ nêu lên về quan hệ nhân quả của tội dường như chỉ nhằm tạo cơ hội để Đức Giê-su thực hiện dấu lạ và ban giáo huấn. Tuy nhiên, câu hỏi nầy nói lên tâm thức của người đương thời. Vào thời đó, người Do thái tin rằng nguyên nhân của những bất hạnh như tai ương hay bệnh tật là án phạt của tội, kể cả tội trước khi sinh ra hay còn trong bào thai. Vì thế, cảnh đời bất hạnh mà người mù từ lúc mới sinh phải chịu là án phạt vì tội của cha mẹ mình. Tuy nhiên, sách Gióp đã nêu lên tại sao người công chính phải chịu đau khổ, nhưng không đưa ra một câu trả lời thỏa đáng nào, ngoài trừ ý định khôn dò của Thiên Chúa. Sau này, sách Tô-bi-a đã bước thêm một bước nữa: thiên sứ đã mặc khải cho ông Tô-bi-a cha, một người công chính thực thi những việc lành phúc đức, rằng Thiên Chúa để cho ông bị cảnh mù lòa là để thứ thách ông (Tb 12: 13).
 
Đức Giê-su bác bỏ quan niệm nhân quả của tội. Ngài tách biệt rõ ràng điều bất hạnh và án phạt, sự đau khổ và tội. Cảnh đời bất hạnh của anh mù không do tội của anh hay tội của cha mẹ anh, nhưng là cơ hội để Ngài bày tỏ quyền năng của Ngài qua việc cho anh mù được sáng mắt. Từ đó, Đức Giê-su sẽ công bố mình là “ánh sáng thế gian”. Như vậy, giả sử trước ở đây, sự mù lòa duy nhất cấu thành tội chính là sự mù lòa của sự cố chấp không chịu tin.
 
B-Một ngày của Đức Giê-su:
 
Đức Giê-su sánh ví sứ vụ của Ngài với một ngày. Thời điểm đánh dấu việc kết thúc sứ vụ của Ngài được sánh ví với thời điểm “đêm đến”, nghĩa là giờ của bóng tối, giờ của những kẻ thù của Ngài. Trong khi chờ đợi giờ của bóng tối, Ngài phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Ngài khi trời còn sáng, bởi vì bao lâu Ngài còn ở thế gian, Ngài là ánh sáng thế gian. Để minh chứng Ngài “là ánh sáng thế gian”, Chúa Giê-su sẽ cho người mù từ lúc mới sinh được thấy ánh sáng, cả ánh sáng thể lý lẫn ánh sáng tâm linh (x. Is 42: 6-7).
 
C-Dấu lạ:
 
Dấu lạ được mô tả chỉ trong hai câu (9: 6-7), bởi vì người kể chuyện chú trọng hơn đến những cuộc tranh luận do dấu lạ gây nên và những hậu quả mà anh mù được sáng mắt phải gánh chịu.
 
“Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù”. Theo niềm tin dân gian phổ biến vào thời đó, nước miếng có hiệu lực chữa bệnh. Trước đây rồi, Đức Giê-su đã dùng nước miếng của Ngài để chữa lành người câm điếc (Mc 7: 32) và người mù ở Bết-xai-đa (Mc 8: 23). Nhưng ở đây, Đức Giê-su trộn nước miếng với đất thành bùn và xức vào mắt người mù. Phải chăng Đức Giê-su muốn họa lại cử chỉ sáng tạo, qua đó muốn nói rằng Ngài sẽ làm cho người mù thành một con người hoàn toàn mới? Hay đơn giản hơn, phải chăng sự kiện xức bùn vào mắt và đòi hỏi anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác là một hành vi đức tin, một yếu tố cần thiết để đón nhận dấu lạ? Quả thật, hiệu quả chỉ xuất hiện sau khi người mù đến rửa trong nước hồ Si-lô-ác.
 
Nước hồ này được xem là thánh thiêng. Vào lễ Lều, vị tư tế phải đến múc nước ở đây để dùng cho các nghi thức thanh tẩy. Nước nầy bắt nguồn từ suối Gi-bon và được dẫn đến hồ Si-lô-ác qua một lạch ngầm dưới đất (2V 20: 20; 2Sb 32: 30; Hc 48: 17). Ngay cả tên của hồ này cũng mang ý nghĩa biểu tượng: Si-lô-ác có nghĩa là “người được sai đi”. Dường như thánh Gioan muốn nhắc lại ý nghĩa của tên Si-lô-ác này, vì thánh nhân muốn quy chiếu đến tác giả đích thực của việc chữa lành chính là Đức Giê-su, “Đấng được Chúa Cha sai đi”. Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su thường dùng tước hiệu “Đấng được sai đi”», để chỉ về chính mình.
 
2. Hai thái độ: (9: 8-34)
 
Trong phần nầy, Đức Giê-su vắng mặt, tuy nhiên Ngài vẫn là tác nhân chính yếu gây nên những phản ứng từ phía những hạng người khác nhau. Việc người mù được sáng mắt sẽ nêu bật hai thái độ tương phản mà sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế gian đòi hỏi con người phải chọn lựa.
 
A-Thái độ của người mù được sáng mắt:
 
Đây là một con người có lương tri ngay thẳng, vẫn một mực trung thành với sự thật, biết sử dụng lối nói mĩa mai, thậm chí châm biếm, lại còn biết phi bác sự thông thái của những người Pha-ri-sêu: “Chúng tôi biết rằng…” (9: 29) khi viện dẫn nguyên tắc thông thường: “Như mọi người điều biết…” (9 : 31-32; x. Is 1: 15; Tv 66: 18; 109: 7; Cn 15: 29, vân vân) và cuối cùng bày tỏ tấm lòng rộng mở trước ánh sáng khác, ánh sáng đức tin.
 
Con đường đức tin của người mù là con đường tiệm tiến: từ mỗi một lời tra hỏi từ phía những người láng giềng cho đến những lời chất vấn của những người Pha-ri-sêu, chân tính của Đức Giê-su càng lúc càng sáng tỏ hơn ở nơi anh. Khởi đầu, anh bày tỏ một sự hiểu biết mơ hồ về một người đã thi ân giáng phúc cho mình: “một người tên là Giê-su” (9: 11), đoạn, anh bắt đầu nhận ra ở nơi người ấy: “một ngôn sứ” (9: 17) và tiếp đó: “Đấng được Thiên Chúa sai đến” (9: 33). Cuối cùng, khi đối diện với Đức Giê-su, Đấng tự tỏ mình ra cho anh, anh tuyên xưng đức tin của mình: “Thưa Ngài, tôi tin” (9: 38) và thờ lạy Ngài.
 
B-Thái độ của những người Pha-ri-sêu:
 
Trong khi sự kiện dần dần được chứng thực từ phía những người láng giềng, cha mẹ của người mù và chính đương sự, thì thái độ của những người Biệt phái càng lún sâu vào những tà ý, cố chấp, từ chối ánh sáng và để lộ mình là những người mù đích thật.
 
Trong câu chuyện nầy, hai chi tiết đáng chú ý do hậu cảnh lịch sử của chúng. Trước hết, những người Pha-ri-sêu bất đồng với nhau về vấn đề Đức Giê-su: “Thế là họ đâm ra chia rẽ”. Về sự kiện nầy, các sách Tin Mừng và sách Công Vụ cung cấp nhiều ví dụ khác nữa: trong số những người Pha-ri-sêu có vài người có tinh thần rộng mở, họ âm thầm gắn bó với Đức Kitô. Trong câu chuyện này, chính thành phần cố chấp nhất mực nhắm mắt trước sự thật. Trong con mắt của những con người ngoan cố nầy, Đức Giê-su đã vi phạm ngày sa-bát, vì vậy là một con người tội lỗi, mà đã là một con người tội lỗi thì không thể nào thực hiện dấu lạ như thế. Vì thế, họ không chỉ từ chối từ dấu lạ và chân tính của Đức Giê-su, nhưng còn buộc người mù phải thú nhận là mình sai lầm vì đã tuyên xưng ông Giê-su này là một ngôn sứ.
 
Ngoài ra, đối với đọc giả Tin Mừng Gioan, việc anh mù bị trục xuất ra khỏi hội đường vang dội tính thời sự của cộng đoàn Gioan. Các tông đồ và các môn đệ của thế hệ thứ nhất đã giảng dạy trong các hội đường, nhưng sau đó bị trục xuất khỏi hội đường. Những người Do thái nào tin vào Đức Kitô cũng bị trục xuất khỏi hội đường và trở thành đối tượng của những quấy nhiễu, hạch sách và bắt bớ. Việc người mù được chữa lành bị trục xuất xuất hiện ở đây báo trước hoàn cảnh của Giáo Hội sau nầy.
 
3. Đoạn kết (9 : 35-41)
 
Đức Giê-su lại xuất hiện và bày tỏ thái độ của Ngài đối với người mù được sáng mắt và đối với những người Pha-ri-sêu cố chấp.
 
A-Thái độ của Đức Giê-su đối với người mù được sáng mắt:
 
“Sau khi nghe nói họ đã trục xuất anh, Đức Giê-su đến gặp anh”. Đối với những ai chịu đau khổ vì làm chứng cho Ngài, dù không nhận biết Ngài, Ngài sẽ mặc khải chân tính của Ngài, như anh mù được sáng mắt hôm nay. Sau khi đã mở đôi mắt xác thịt của anh để anh thấy ánh sáng, Ngài mở đôi mắt tâm hồn anh để anh khám phá Mặc Khải.
 
B-Thái độ của Đức Giê-su đối với những người Pha-ri-sêu cố chấp:
 
“Tôi đến thế gian nầy chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại đui mù”. Đức tin là một ân ban của Thiên Chúa. Thiên Chúa tỏ mình ra cho những ai mở rộng tâm trí sẵn sàng đón nhận ánh sáng của Ngài. Còn những ai tin tưởng vào ánh sáng của riêng mình mà tìm cách ngăn chận những kẻ khác tin vào Ngài, thì những người đó trở nên đui mù.
 
Còn những người Pha-ri-sêu nhạo báng Ngài khi chất vấn Ngài phải chăng họ đều đui mù hết cả sao, Chúa Giê-su đưa ra một bài học thâm thúy: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn đó”. Những lời này nêu bật thần học xét xử của Tin Mừng Gioan: Đức Giê-su không xét xử ai cả, chính mỗi người tự xét xử mình, hoặc mở mắt ra mà tin nhận Đức Giê-su hoặc khép mắt lại mà khỏi phải thấy những việc Ngài làm để khỏi tin vào Ngài. Đó chính là tội cố chấp và bản án đã có sẵn ở đây rồi, và ngay bây giờ chứ không phải đợi đến ngày chung thẩm.
 
Câu chuyện mở ra với lời công bố rằng sự mù lòa thể lý không có tội và đóng lại với lời công bố rằng sự mù lòa tinh thần mới có tội. 
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Từ khóa:

chuẩn bị

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 12/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/12/2017 

- I encourage all of you to live the joy of your mission by witnessing to the Gospel wherever you are called to live and work.
Tôi khuyến khích tất cả các bạn sống niềm vui của sứ mệnh bằng cách làm chứng cho Tin Mừng trong môi trường các bạn được mời gọi sống và làm việc.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/12/2017 

- Christians are called to work concretely in the realities of this world, illuminating them with the light that comes from God.
Kitô hữu được mời gọi dấn thân cách cụ thể vào các vấn đề của thế giới này bằng cách soi rọi chúng bằng ánh sáng đến từ Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/12/2017 

- Thank you for following @Pontifex which turns five years old today. May social media always be spaces that are rich in humanity!
Cám ơn tất cả các bạn đã theo dõi @Pontifex suốt 5 năm qua. Mong sao mạng xã hội luôn là môi trường đem lại sự phong phú cho nhân loại!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/12/2017 

- We ask for the grace to make our faith more and more operative through acts of charity.
Chúng ta hãy cầu xin ơn làm cho đức tin của chúng ta ngày càng hiệu quả hơn qua các hoạt động từ thiện.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/12/2017 

- Political activity must truly be conducted at the service of the human person, with respect for creation and for the common good.
Chính trị phải thực sự phục vụ con người, trong tinh thần tôn trọng tạo vật và công ích.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/12/2017 

- We must fight corruption with determination. It is an evil based on the worship of money and it offends human dignity.
Chúng ta phải cương quyết chống tham nhũng. Đó là điều ác dựa trên sự sùng bái tiền bạc và nó xúc phạm đến nhân phẩm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/12/2017 

- May the Virgin Mary always be our refuge, our consolation, and the way that leads to Christ.
Mong rằng Đức Maria luôn là nơi nương tựa, là sự ủi an của chúng ta, và là con đường dẫn chúng ta đến với Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/12/2017 

- We all possess God-given talents. No one can claim to be so poor that they have nothing to offer others.
Tất cả chúng ta đều sở hữu những tài năng Chúa ban. Không ai có thể than rằng mình nghèo đến nỗi không có gì để cho người khác.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/12/2017 

- No child of God can be discarded in His eyes. He entrusts a mission to each one of us.
Trước mặt Chúa không có người con nào bị bỏ rơi. Ngài ủy thác một sứ mệnh cho mỗi người chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/12/2017 

- We are all beggars before the love of God, a love that gives meaning to our existence and that offers us eternal life.
Tất cả chúng ta đều là những người ăn mày tình thương của thiên chúa, thứ mang lại ý nghĩa cho sự hiện hữu của chúng ta và đem đến cho chúng ta sự sống đời đời.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/12/2017 

- Faith becomes tangible when it finds its expression in love and, especially, in the service of our brothers and sisters in difficulty.
Đức tin trở nên hữu hình khi được diễn tả bằng tình yêu, đặc biệt trong việc phục vụ anh chị em chúng ta đang gặp khó khăn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/12/2017 

- Every person is unique and unrepeatable. Let us ensure the disabled are always welcomed by the communities in which they live.
Mỗi con người là duy nhất và cá biệt. Chúng ta hãy cam kết rằng những người khuyết tật luôn được chào đón nơi những cộng đồng mà họ sinh sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/12/2017 

- Dear friends in Myanmar and Bangladesh, thank you for your welcome! Upon you I invoke divine blessings of harmony and peace.
Các bạn ở Myanmar và Bangladesh thân mến, cám ơn các bạn đã đón tiếp! Nguyện xin ơn hòa hợp và bình an của Thiên Chúa tuôn xuống trên các bạn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/12/2017 

- May the wisdom of God help us to know how to welcome and accept those who think and act differently from us.
Ước mong sự khôn ngoan của Chúa giúp chúng ta biết đón tiếp và chấp nhận những ai suy nghĩ và hành động khác với chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/12/2017 

- How much openness is needed to welcome people who feel alone and confused as they search for a meaning in life!
Sự cởi mở rất cần thiết để đón nhận những người đang cảm thấy đơn độc và bối rối trong việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/11/2017 

- I want my visit to embrace all the people of Myanmar and to encourage the building of an inclusive society.
Tôi mong chuyến đi thăm của tôi ôm lấy người dân Myanmar và cổ vũ xây dựng một xã hội hòa nhập.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/11/2017 

- Let us look to Jesus today and say to Him in our hearts: “Remember me, Lord, now that you are in your Kingdom!”
Chúng ta hãy ngước nhìn Đức Giêsu và thưa với Ngài từ tâm can: Lạy Chúa, khi Ngài về Vương quốc của Ngài xin nhớ đến con!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/11/2017 

- As I prepare to visit Myanmar and Bangladesh, I wish to send a message of greeting and friendship to everyone. I can’t wait to meet you!
Tôi đang chuẩn bị viếng thăm Myanmar và Bangladesh, tôi muốn gửi lời chào thăm và thân ái đến với mọi người. Tôi nóng lòng muốn gặp các bạn!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/11/2017 

- There is also hope for those who have done wrong. Jesus came for this: it is possible to be reconciled with God and begin a new life.
Vẫn còn hy vọng cho người lầm lỗi. Vì lý do đó mà Đức Giêsu đã đến: ta có thể làm hòa cùng Thiên Chúa và bắt đầu cuộc sống mới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/11/2017 

- At the end of time, when the Lord comes to meet us, our joy will be immense. We live in anticipation of this encounter!
Vào ngày sau hết, ngày Chúa đến gặp gỡ chúng ta, niềm vui sẽ vô bờ bến. Chúng ta hãy sống trong tinh thần đợi chờ cuộc gặp gỡ này!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/11/2017 

- When we encounter others, do we bring them the warmth of charity or do we stay closed up and warm only ourselves before our fireplace?
Khi chúng ta giao tiếp với tha nhân, chúng ta có mang đến cho họ hơi ấm của đức ái hay chỉ đóng cửa lòng lại để tìm hơi ấm cho riêng mình?

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/11/2017 

- May Mary’s pure and simple smile be a source of joy for each one of us as we face life’s difficulties.
Mong sao nụ cười thuần khiết và đơn giản của Mẹ Maria trở thành nguồn vui cho mỗi người chúng ta khi đối diện với những khó khăn của cuộc sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/11/2017 

- Let us work together to ensure that children continue to smile: their faces serene, filled with joy and hope. #WorldChildrensDay
Chúng ta hãy cùng nhau hành động để trẻ em luôn cười: khuôn mặt hồn nhiên của chúng ngập tràn niềm vui và hy vọng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/11/2017 

- On this day, I invite the entire Church to keep its gaze fixed on those who hold out their hands asking for our solidarity.
Ngày hôm nay tôi mời gọi toàn thể Giáo hội hướng về những người đang chìa tay ra để kêu gọi tình liên đới giữa chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/11/2017 

- Without the support of the prayers of the faithful, the Successor of Peter cannot fulfill his mission in the world. I am counting on you too!
Nếu không có sự hỗ trợ bằng lời cầu nguyện của các tín hữu, người kế vị thánh Phêrô không thể hoàn thành sứ vụ trong thế giới. Tôi cũng tin tưởng vào các bạn!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/11/2017 

- We need to encounter the poor and learn how to share so that it becomes a way of life.
Chúng ta cần phải gặp gỡ những người nghèo khổ và học chia sẻ sao cho điều đó trở thành lối sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/11/2017 

- Poverty is not an accident. It has causes that must be recognized and removed for the good of so many of our brothers and sisters.
Nghèo đói không phải là một kiếp nạn. Cần phải nhận ra những nguyên nhân và loại bỏ chúng vì lợi ích của nhiều anh chị em chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/11/2017 

- Faith is a great life companion, allowing us to feel the presence of a Father who never leaves His creatures alone.
Đức tin là người bạn đồng hành tuyệt vời của cuộc sống: nó cho chúng ta cảm nhận sự hiện diện của một người Cha không bao giờ để tạo vật của Ngài đơn độc.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/11/2017 

- Nothing and nobody can block the light that Christ puts in our hearts and on the face of His friends.
Không có gì và không ai có thể che lấp ánh sáng mà Đức Kitô chiếu rọi trong con tim và trên khuôn mặt bạn hữu của Ngài.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 12/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 77
  • Hôm nay: 36
  • Tháng hiện tại: 194974
  • Tổng lượt truy cập: 20522433