Năm Đức Tin: Công đồng Vaticanô II và Giáo lý Giáo hội Công giáo.

Đăng lúc: Thứ ba - 02/04/2013 15:30 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Trong phạm vi tìm hiểu về Năm Đức Tin qua học hỏi về Công Đồng Vaticanô II, chúng tôi xin tập trung bài viết nầy để góp ý giải đáp câu hỏi rất phổ thông: - Tại sao hướng việc khai mạc Công Đồng Vaticanô II và ban hành Sách Giáo Lý vào Đức Tin?
NĂM ĐỨC TIN: CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II và GIÁO LÝ GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
 
Vào tháng 4 năm 2013, Giáo Hội Công Giáo đến gần nửa chặng đường của Năm Đức Tin do Đức GH. Bênêđíctô XVI ban hành từ 11-10-2012 đến 24-11-2013, nhân dịp kỷ niệm 50 năm khai mạc Công Đồng Vaticanô II (1962-2012) và 20 năm ban hành Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo (1962-92). Trong phạm vi tìm hiểu về Năm Đức Tin qua học hỏi về Công Đồng Vaticanô II, chúng tôi xin tập trung bài viết nầy để góp ý giải đáp câu hỏi rất phổ thông:
 
- Tại sao hướng việc khai mạc Công Đồng Vaticanô II và ban hành Sách Giáo Lý vào Đức Tin?

Nhưng trước tiên xin có đôi điều về Công Đồng Vaticanô II và Sách Giáo Lý của Giáo Hội CG.
 
Công Đồng Vaticanô II
 
Công Đồng Vaticanô II được mở ra do Chân Phước GH. Gioan XXIII (1958-1963) với niềm tin vững vàng rằng: “Công Đồng là việc của Chúa Thánh Thần mà mọi người chúng ta phải nhiệt thành hỗ trợ cho Ngài, chứ không phải chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần phù trợ chúng ta.”
 
Đây là Công Đồng Chung vì là “cơ quan lập pháp và giáo huấn tối cao của Giáo Hội do chính Giám Mục Đoàn qui tụ tại một nơi với thẩm quyền đặc biệt vể dạy dỗ và điều khiển Giáo Hội” (Thánh Công Đồng Chung Vaticanô II, tr. 20-21).
 
Gọi là Công Đồng Vaticanô II (CĐ Vat II) vì trước đó có Công Đồng Vaticanô I do Đức GH. Piô IX (1846-1878) triệu tập năm 1870 với sự tham dự của 747 Giám Mục nhằm lên án “thuyết duy lý và thuyết chủ trương Giáo Hội Pháp độc lập.” Công Đồng tuyên bố tính “bất khả ngộ” hay “ex cathedra” của Đức Giáo Hoàng, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, khi Ngài tuyên bố từ “ngai tòa” Thánh Phêrô về vấn đề liên hệ đến Đức Tin hoặc luân lý (Thánh CĐ Chung Vat II, tr. 24)
 
Công Đồng Vaticanô II được mở ra không phải để giải đáp một lạc giáo hay một cuộc ly khai vì vào 1959, Giáo Hội không phải bận tâm về một khó khăn nào, như lạc giáo hay ly khai, mà xem ra, uy quyền của Giáo Hội lớn mạnh hơn lúc nào hết. Nhưng, xét cho kỹ thực tế, người ta mới nhận thấy: “Hơn bao giờ hết, Giáo Hội đang đương đầu với những vấn nạn cực kỳ khó khăn: Từ cuối thế kỷ 19, thế giới đã đổi thay còn nhanh hơn 19 thế kỷ qua. Với cuộc cách mạnh khoa học và kỹ thuật, con người đặt trọn niềm hy vọng nơi thế giới vật chất và xem các hứa hẹn của tôn giáo đều tan vỡ. Trái lại, đồng thời hơn bao giờ hết, con người cảm thấy luôn bị đe dọa do các khám phá, cụ thể như nguy hiểm tiêu diệt của bom nguyên tử, bầu khí thiếu lành mạnh và nhiễm độc của môi trường văn minh với đe dọa của chiến tranh liên miên.” (Th. CĐ V. II, 26)
 
Đặc điểm của Công Đồng Vaticanô II
 
Thoạt đầu, ngày 25-1-1959, khi kết thúc Tuần Lễ Cầu Nguyện cho Hiệp Nhất các Kitô-hữu, Chân Phước GH. Gioan XXIII ngỏ lời với các Hồng Y về ý định “triệu tập một Công Đồng Chung” đã gợi lên ý muốn mời gọi “Hiệp Nhất mọi Kitô-hữu” như lời cầu xin của Chúa Giêsu “Ut unum sint” -Xin cho họ nên một (Ga 17: 11).
 
Trước sự chia rẽ hơn bao giờ hết giữa các Kitô-hữu, Giáo Hội đã mất đi những cơ hội truyền giáo hứa hẹn nhất và sự hiệp nhất Kitô-hữu trở nên hết sức cần thiết, Đức Thánh Cha tuyên bố:
 
“Chúng ta hãy hiệp nhất với nhau và chúng ta hãy chấm dứt mọi bất hòa.” (Th. CĐ V. II, 25)
Qua sự tham khảo ý kiến trên thế giới, CĐ Vat. II hướng đến “những nhu cầu cấp bách thực tế của Giáo Hội”, không có vấn đề giới hạn và, qua tham khảo ý kiến khắp hoàn vũ, con số trả lời lên tới 2109, đúc kết thành 8 quyển với 8.972 đề nghị. Ngày 5 tháng 6 năm 1960, Lễ Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, qua tự sắc Superno Dei nutu, CPGH Gioan XXIII thành lập 12 Ủy Ban và ba Văn Phòng. Các Ủy Ban được tuyển chọn trong toàn thế giới, tương đương với những Thánh Bộ của Giáo Triều Rôma với các bộ trưởng tương ứng. Ủy Ban Trung Ương do Đức Giáo Hoàng là Chủ tịch và Tổng Thư ký là Đức Cha Felici, về sau là Tổng thư ký Công Đồng.
 
Sau giai đoạn tiền chuẩn bị, từ 17-5-1959 đến 5-6-1960, và giai đoạn chuẩn bị từ 14-11-1960 đến 10-10-1962, Công Đồng Vaticanô II mở kỳ họp đầu tiên từ 11-10-1962. Có 2.904 Nghị Phụ được mời và từ 2086 đến 2449 tham dự các lần họp. ChPh. GH. Gioan XXIII hướng dẫn: “Công Đồng cởi mở với thế giới; thông cảm chứ không lên án tuyệt thông; xót thương hơn là khắc khe; nhận chân rằng thế giới cũng rất nhậy cảm, không chấp nhận sai lầm; loan truyền Phúc Âm với niềm hy vọng hơn là với tâm trạng của “những tiên tri loan báo sự dữ” (Th. CĐ V. II, 29)
 
Từ tháng 10-1962 dến tháng 12-1965, Công Đồng có 4 kỳ họp:
 
- Kỳ họp đầu tiên từ 11-10 đến 8-12-1962 do CPGH. Gioan XXIII chủ trì.
 
CPGH. Gioan XXIII qua đời ngày 3-6-1963 và Đức GH. Phaolô VI kế vị, tiếp tuc Công Đồng.
 
- Kỳ họp thứ hai từ 29-9 dến 4-12-1963
- Kỳ họp thứ ba từ 14-9 đến 21-11-1964
- Kỳ họp thứ tư từ 14-9 đến 8-12-1965 (bế mạc).
 
Tại mỗi kỳ họp, Ủy Ban chuyên môn trình bày đề tài theo các sơ đồ hay lược đồ rất công phu và hội nghị thảo luận, rồi giao cho các Ban chuyên môn đúc kết thành tài liệu hay Văn Kiện.
 
Các Văn Kiện của Công Đồng Vaticanô II
 
Có 16 Văn Kiện, chia ra: 4 Hiến Chế; 9 Sắc Lệnh và 3 Tuyên Ngôn.
 
Hiến Chế là văn kiện đề cập đến những vấn đề có liên hệ trực tiếp đến Đức Tin, như:
 
- Hiến chế về Phụng Vụ Thánh – Sacrosanctum Concilium (SC hay PV)
- Hiến chế tín lý về Giáo Hội – Lumen Gentium (LG hay GH)
- Hiến chế tín lý về Mạc Khải của Thiên Chúa – Dei Verbum (DV hay MK)
- Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay – Gaudium et Spes (GS hay MV)
 
Sắc Lệnh, đúc kết các đóng góp ý kiến và đề nghị cụ thể về các vấn đề trong Giáo Hội, như:
 
- Sắc lệnh về các phương tiện Truyền Thông xã hội – Inter Mirifica (IM hay TT)
- Sắc lệnh về Giáo Hội Công Giáo Đông Phương – Orientalium Ecclesiarum (OE hay ĐP)
- Sắc lệnh về Hiệp Nhất – Unitatis Reintegratio (UR hay HN)
- Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của các Giám Mục – Christus Dominus (CD  hay GM)
- Sắc lệnh về canh tân thích nghi đời sống Dòng Tu – Perfectae Caritatis (PC hay DT)
- Sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục – Optatam Totius (OT hay ĐT)
- Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân – Apostolicam Actuositatem (AA hay TĐ)
- Sắc lệnh về hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hôi – Ad Gentes (AG hay TG)
- Sắc lệnh về chức vụ và đời sống Linh Mục – Presbyterorum Ordinis (PO hay LM)
 
Tuyên Ngôn, nói về lập trường và đường hướng của Giáo Hội về mỗi vấn đề, như:
 
- Tuyên ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo – Gravissimum Educations (GE hay GD)
- Tuyên ngôn về Tự Do tôn giáo – Dignitatis Humanae (DH hay TD)
- Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các Tôn giáo Ngoài Kitô-Giáo – Nostra Aetate 
(NA hay NK).
 
Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo
 
Sách được Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 11-10-1992, kỷ niệm 30 năm khai mạc Công Đồng Vaticanô II vì những điều căn bản hay nền tảng giáo huấn của Giáo Hội được soi chiếu và mở rộng nhờ các giáo huấn thu thập được từ các tài liệu của CĐ Vat. II. Sách có 4 phần:
 
Phần 1: Tuyên xưng Đức Tin, nhằm giải thích và trình bày những điều căn bản mà người Công Giáo phải tin, như “con người do Thiên Chúa tạo dựng và chỉ sống đầy đủ ý nghĩa cuộc sống khi liên kết với Thiên Chúa. Đức Giêsu, con Thiên Chúa, xuống thế làm người là mạc khải trọn vẹn của Thiên Chúa. Con người, để được ơn cứu rỗi, phải sống đích thực trong ơn nghĩa thánh.
 
Phần chính là những điều khoản trong Kinh Tin Kính được khai triển và giải thích cặn kẽ.
 
Phần 2 : Trình bày và giải thích về việc cử hành những mầu nhiệm trong cuộc sống Kitô-hữu. Nghi lễ Phụng Vụ dành cho Thiên Chúa Ba Ngôi; nhờ Phụng Vụ người tín hữu được ơn thánh hóa; cộng đoàn phụng vụ gặp gỡ Chúa và mang ơn ích cho con người nên trọn lành nhờ Thánh Thể và các Bí tích như quyền lực xuất phát từ Nhiệm Thể Chúa Kitô.
 
Phần 3 : Trình bày sự sống trong Chúa Kitô, từ phẩm giá con người, hạnh phúc, tự do đến giá trị luân lý. Trách nhiệm của người tín hữu đối với xã hội; vấn đề quyền bính, công bình, công lý, tham gia công tác xã hội và các luật lệ tự nhiên và công lý.
 
Phần 4 : Về đời sống cầu nguyện của người tín hữu, từ truyền thống đến hiện đại; lý do phải cầu nguyện; phương thức, đường hướng cầu nguyện theo cách Chúa cầu nguyện trong Phúc Âm; cầu nguyện là trọng tâm của Thánh Kinh và Kinh Lạy Cha, cầu nguyện Chúa Giêsu dạy.
(Tóm lược theo Lời Giới Thiệu Sách Giáo Lý tr. II - IV)
 
Tại sao chú trọng đến Năm Đức Tin
 
Trên đây là tóm lược căn bản về Công Đồng Vat. II và Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo. Nói đến Công Đồng là nói đến Đức Tin vì chú tâm của Cộng Đồng là làm cho đời sống Kitô-hữu “có ý thức, linh động và hữu hiệu” (PV, 11) nhờ Đức Tin là hồng ân được lãnh nhận khi chịu Phép Rửa Tội. Đức Tin được đề cập đến trong các Hiến Chế, giúp các tín hữu tham dự Phụng Vụ Thánh với lòng tin vững vàng, sống động. Đào sâu Đức Tin về mầu nhiệm Giáo Hội để sống xứng đáng là Dân Thiên Chúa từ các phẩm trật trong Giáo Hội đến giáo dân. Mạc Khải của Thiên Chúa giúp chú trọng đến Lời Chúa trong Thánh Kinh; quan tâm đến học hỏi và áp dụng Lời Chúa trong cuộc đời. Hiến Chế Mục Vụ là kho tàng soi dẫn về Giáo Hội trong thế giới ngày nay để Dân Thiên Chúa được sống Vui Mừng và Hy Vọng với các tiến bộ của văn minh, khoa học, kỹ thuật, chứ không phải lo âu, run sợ về biết bao đại họa có thể xảy đến.
 
Đức Tin là công trình của Chúa Thánh Thần ban cho từ hồng ân Phép Rửa Tội, giúp các Kitô-hữu hiệp nhất với nhau (HN 2, 3, 14, 15, 17, 22) và mở lòng cho người ngoài Kitô-giáo tin vào sứ điệp Phúc Âm (TG 7, 15, 21, 23). Đồng thời Giáo Hội, noi gương Chúa Giêsu, hoàn toàn tôn trọng tự do của con người, chống lại mọi hình thức cưỡng bách trong việc chấp nhận Đức Tin (TD 6, 9, 10, 11). Các vị lãnh đạo Giáo Hội, như giáo hoàng, hồng y, giám mục, linh mục, phải nhận thấy Giáo Hội là cộng đoàn những người sống Đức Tin, Đức Cậy, Đức Mến (GH 8, 65; GM 16, 36). Các linh mục, dù ngày nay có rất nhiều chướng ngại mới cho đời sống Đức Tin (LM 22), nhưng phải được giúp đỡ để lấy Đức Tin đặt nền móng cuộc đời (ĐT 14; LM 22) hầu trở nên nhà giáo dục Đức Tin của tín hữu (LM 6, 13).  Đức Tin giúp người tín hữu hội nhập vào văn hóa (TG 15, 21; MV 58, 62); thi hành bổn phận truyền bá Đức Tin (TĐ 6; TG 5, 20, 21). Đức Tin và lý trí không loại trừ nhau; trái lại phương pháp khoa học không đi ngược với Đức Tin (TG 22; MV 36; GD 10).
 
Sách Giáo Lý và Đức Tin
 
Mở đầu Sách Giáo Lý, Chân Phước GH. Gioan Phaolô II đã ban hành Tông hiến Kho Ký Thác Đức Tin - Fidei Depositum, xác nhận việc giảng dạy giáo lý là sứ mạng mà Chúa đã ủy thác cho Giáo Hội và Giáo Hội chu toàn ở mọi thời đại. Nhờ tinh thần của Công Đồng Vat. II, “Giáo Hội chú tâm vào việc trình bày cách thanh thản về sức mạnh và vẻ đẹp của giáo lý Đức Tin” (FD, GL tr. 6). Qua suốt bốn năm trường làm việc, các Nghị phụ đã soạn thảo những chỉ thị mục vụ cho tất cả Giáo Hội, làm định hướng cho “cuộc canh tân về tư duy, về hoạt động, về lối sống, về sức mạnh luân lý, về niềm vui và hy vọng, vì đó chính là mục đích của Cộng Đồng. Sách Giáo Lý là tóm tắt tất các giáo huấn công giáo về Đức Tin thích ứng với các Kitô-hữu.”
 
Trần Văn Trí AN43 (tháng 4-2013)
Tác giả bài viết: Trần Văn Trí AN43
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 7/2015


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/7/2015 

- That which gives us true freedom and true happiness is the compassionate love of Christ.
Điều làm cho chúng ta được tự do và hạnh phúc đích thực chính là tình yêu thương xót của Chúa Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/7/2015 

- A great challenge: stop ruining the garden which God has entrusted to us so that all may enjoy it.
Một thách thức lớn: Ngừng làm tổn hại đến khu vườn (trái đất) mà Thiên Chúa đã ủy thác cho chúng ta để mọi người có thể cùng chung hưởng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/6/2015 

- How wonderful it is to proclaim to everyone the love of God which saves us and gives meaning to our lives!
Đẹp biết bao khi loan báo cho mọi người tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu cứu độ và mang lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/6/2015 

- The Church is a mother with an open heart, ready to help all people, especially those who try the hardest.
Giáo hội là một người mẹ với trái tim rộng mở, sẳn sàng giúp đỡ mọi người, đặc biệt những người truân chuyên nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/6/2015 

- In Confession, Jesus welcomes us with all our sinfulness, to give us a new heart, capable of loving as he loves.
Trong bí tích Giải tội, Chúa Giêsu đón tiếp chúng ta với tất cả tội lỗi chúng ta, để ban cho chúng ta một trái tim mới, có khả năng yêu thương như Ngài yêu thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/6/2015 

- God’s love is free. He asks for nothing in return; all he wants is for his love to be accepted.
Tình yêu của Thiên Chúa là cho không. Ngài không đòi đền đáp; Ngài chỉ muốn tình yêu của Ngài được đón nhận.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18-19/6/2015 

- Lord, seize us with your power and light, help us to protect all life, to prepare for a better future.
Lạy Chúa, xin hãy chiếm lĩnh chúng con bằng sức mạnh và ánh sáng của Chúa, giúp chúng con bảo vệ mọi sự sống, để chuẩn bị cho một tương lai tốt hơn.

- Let us sing as we go. May our struggles and our concern for this planet never take away the joy of our hope.
Chúng ta hãy vừa đi vừa hát. Ước gì cuộc đấu tranh và mối quan tâm của chúng ta đối với hành tinh này không bao giờ tước đi niềm vui và niềm hy vọng của chúng ta.

- Let us sing as we go. May our struggles and our concern for this planet never take away the joy of our hope.
Chúng ta hãy vừa đi vừa hát. Ước gì cuộc đấu tranh và mối quan tâm của chúng ta đối với hành tinh này không bao giờ tước đi niềm vui và niềm hy vọng của chúng ta.

- An integral ecology includes taking time to reflect on our lifestyle and our ideals.
Một sinh thái học toàn vẹn bao hàm việc dành thời gian suy nghĩ về lối sống và lý tưởng của chúng ta.

- Christian spirituality proposes an alternative understanding of the quality of life.
Linh đạo Kitô giáo đề xuất một cách thức khác để hiểu chất lượng cuộc sống.

- Living our vocation to be protectors of God’s handiwork is not a secondary aspect of our Christian experience.
Sống ơn gọi của chúng ta để trở thành người bảo vệ công trình của Thiên Chúa không phải là khía cạnh thứ yếu của trải nghiệm Kitô giáo của chúng ta.

- The teachings of the Gospel have direct consequences for our way of thinking, feeling and living.
Những giáo huấn của Tin Mừng mang lại cho chúng ta cách suy nghĩ, cảm nhận và sống.

- Many things have to change course, but it is we human beings above all who need to change.
Có nhiều thứ cần phải thay đổi, nhưng tiên vàn chính con người chúng ta cần phải thay đổi.

- Believers must feel challenged to live in a way consonant with their faith.
Người tín hữu phải trải nghiệm thử thách để sống một cách hòa hợp với đức tin của mình.

- We know how unsustainable is the behaviour of those who constantly consume and destroy.
Chúng ta biết điều đó không bền vững vì thái độ của những người luôn chỉ biết tiêu thụ và phá hủy.

- A decrease in the pace of production and consumption can at times give rise to another form of progress and development.
Việc giảm tốc độ sản xuất và tiêu dùng theo thời gian có thể làm phát sinh một hình thức khác của tiến bộ và phát triển.

- Reducing greenhouse gases requires honesty, courage and responsibility.
Việc cắt giảm khí nhà kính đòi hỏi sự trung thực, lòng can đảm và tính trách nhiệm.

- Interdependence obliges us to think of one world with a common plan.
Sự phụ thuộc lẫn nhau bắt buộc chúng ta phải nghĩ về một thế giới với một kế hoạch chung.

- Leaving an inhabitable planet to future generations is, first and foremost, up to us.
Điều đầu tiên và quan trọng nhất của chúng ta là để lại cho thế hệ tương lai một hành tinh có thể sống được.

- What is at stake is our own dignity.
Phẩm giá của chúng ta là thứ đang bị đe dọa.

- What kind of world do we want to leave to those who come after us, to children who are now growing up?
Chúng ta muốn trao lại cho thế hệ kế tiếp, cho con cháu chúng ta đang lớn lên một loại thế giới nào?

- The world we have received also belongs to who will follow us.
Thế giới chúng ta nhận được cũng thuộc về những người sẽ kế tục chúng ta.

- Having a home has much to do with a sense of personal dignity and the growth of families.
Có một ngôi nhà có nghĩa là có nhiều việc phải làm cùng với ý thức về phẩm giá của từng người và sự tăng trưởng của các gia đình.

- For indigenous communities, land is not a commodity, but a gift from God, a sacred space.
Đối với các cộng đồng bản địa, đất đai không phải là một mặt hàng, mà là một quà tặng của Thiên Chúa, một không gian linh thánh.

- We need an integrated approach to combating poverty and protecting nature.
Chúng ta cần một lối tiếp cận toàn vẹn để chống lại đói nghèo và bảo vệ thiên nhiên.

- It is contrary to human dignity to cause animals to suffer or die needlessly.
Hành hạ hoặc giết chết động vật khi không cần thiết là trái với phẩm giá con người.

- The culture of relativism drives one person to take advantage of another, to treat others as mere objects.
Nền văn hóa của chủ nghĩa tương đối lợi dụng người này để mang lại lợi ích cho người khác, xem tha nhân đơn thuần là những đối tượng.

- Christian thought sees human beings as possessing a particular dignity above other creatures.
Tư tưởng Kitô giáo nhìn nhận con người có phẩm giá đặc biệt vượt trên mọi tạo vật khác.

- There is an urgent need for us to move forward in a bold cultural revolution.
Nhu cầu cấp thiết của chúng ta là tiến về phía trước bằng một cuộc cách mạng văn hóa mạnh mẽ.

- Scientific and technological progress cannot be equated with the progress of humanity and history.
Tiến bộ khoa học và công nghệ không thể được đánh đồng với tiến bộ của nhân loại và lịch sử.

- By itself the market cannot guarantee integral human development and social inclusion.
Thị trường tự nó không thể bảo đảm sự phát triển toàn diện con người và hòa nhập xã hội.

- We are learning all too slowly the lessons of environmental deterioration.
Chúng ta học được quá chậm các bài học về sự suy thoái của môi trường.

- It is possible that we don’t grasp the gravity of the challenges before us.
Có thể chúng ta không nắm bắt được tính nghiêm trọng của những thách thức trước mắt chúng ta.

- Each age tends to have only a meagre awareness of its own limitations.
Mỗi lứa tuổi có xu hướng hiểu biết ít ỏi về những giới hạn riêng của mình.

- Never has humanity had such power over itself, yet nothing ensures that it will be used wisely.
Chưa bao giờ nhân loại có được sức mạnh như thế trên chính mình, nhưng không có gì bảo đảm rằng sức mạnh đó sẽ được sử dụng cách khôn ngoan.

- For believers, this becomes a question of fidelity to the Creator.
Đối với những người tín hữu, điều này trở thành một truy vấn về sự trung thành với Đấng Tạo Hóa.

- Earth is essentially a shared inheritance, whose fruits are meant to benefit everyone.
Về cơ bản trái đất là một di sản được chia sẻ, nghĩa là hoa trái của nó là phúc lợi của mọi người.

- We continue to tolerate some considering themselves more worthy than others.
Chúng ta đang phải chịu đựng một số người tự cho mình giá trị hơn những người khác.

- We should be particularly indignant at the enormous inequalities in our midst.
Chúng ta phải đặc biệt xấu hổ về sự bất bình đẳng rất lớn giữa chúng ta.

- At times more zeal is shown in protecting other species than in defending the equal dignity of human beings.
Đôi khi họ nỗ lực bảo vệ các loài khác hơn là bảo vệ sự bình đẳng phẩm giá của con người.

- A fragile world challenges us to devise intelligent ways of directing, developing and limiting our power.
Một thế giới mong manh đang thách thức chúng ta tìm ra những cách thông minh để lèo lái, phát triển và hạn chế quyền lực của chúng ta.

- Every creature is the object of the Father’s tenderness, who gives it its place in the world.
Mỗi tạo vật là đối tượng của lòng trìu mến của Chúa Cha, Đấng đã cho chúng một chỗ đứng trong thế giới.

- “Creation” has a broader meaning than “nature”; it has to do with God’s loving plan.
“Công trình sáng tạo” có nghĩa rộng hơn “thiên nhiên”; nó được thực hiện với kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa.

- Each community has the duty to protect the earth and to ensure its fruitfulness for coming generations.
Mỗi cộng đồng có trách nhiệm bảo vệ trái đất và bảo đảm nó sinh hoa trái dồi dào cho các thế hệ mai sau.

- The present world system is certainly unsustainable from a number of points of view.
Một số quan điểm cho rằng hệ thống thế giới hiện tại rõ ràng không bền vững.

- We need only to take a frank look at the facts to see that our common home is falling into serious disrepair.
Chỉ cần có một cái nhìn thẳng thắn vào sự thật chúng ta sẽ thấy rằng nhà chung của chúng ta đang rơi vào tình trạng hư hỏng nghiêm trọng.

- Whatever is fragile, like the environment, is defenceless before the interests of a deified market.
Bất cứ điều gì mong manh, như môi trường chẳng hạn, đều không thể tự bảo vệ trước những lợi ích của thị trường bị thần thánh hóa.

- The alliance between economy and technology ends up sidelining anything unrelated to its immediate interests.
Liên minh giữa kinh tế và công nghệ chặn đứng bất cứ tiến trình nào không mang lại lợi ích trước mắt của chúng.

- Economic interests easily end up trumping the common good.
Các lợi ích kinh tế rất dễ dàng lấn át lợi ích chung.

- There is no room for the globalization of indifference.
Không có chỗ cho sự toàn cầu hóa thói dửng dưng.

- Developed countries ought to help pay this debt by limiting their consumption of nonrenewable energy.
Các nước phát triển phải giúp trả khoản nợ này bằng cách hạn chế sử dụng năng lượng không tái tạo.

- A true “ecological debt” exists, particularly between the global north and south.
Đang tồn tại một “món nợ sinh thái” đích thực, đặc biệt giữa bắc bán cầu và nam bán cầu.

- To blame population growth, and not an extreme consumerism on the part of some, is one way of refusing to face the issues.
Một số người đổ lỗi cho sự gia tăng dân số, chứ không phải một thứ chủ nghĩa tiêu thụ thái quá, là cách từ chối đối mặt với các vấn đề.

- We have to hear both the cry of the earth and the cry of the poor.
Chúng ta cần lắng nghe cả tiếng kêu la của trái đất và tiếng khóc của người nghèo khổ.

- The deterioration of the environment and of society affect the most vulnerable people on the planet.
Sự suy thoái của môi trường và xã hội tác động đến những người dễ bị tổn thương nhất trên trái đất.

- The human environment and the natural environment deteriorate together.
Môi trường sống của con người và thiên nhiên cùng bị xấu đi.

- One particularly serious problem is the quality of water available to the poor.
Một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng là chất lượng nước dành cho người nghèo.

- These problems are closely linked to a throwaway culture.
Các vấn đề này có mối liên kết mật thiết với nền văn hóa gạt bỏ.

- The earth, our home, is beginning to look more and more like an immense pile of filth.
Trái đất, ngôi nhà của chúng ta, bắt đầu càng ngày trông càng giống một đống rác mênh mông.

- Climate change represents one of the principal challenges facing humanity in our day.
Biến đổi khí hậu tiêu biểu cho một trong những thách thức chính đối với nhân loại trong thời đại chúng ta.

- The climate is a common good, belonging to all and meant for all.
Khi hậu là phúc lợi chung, thuộc về mọi người và có nghĩa là cho mọi người.

- “To commit a crime against the natural world is a sin against ourselves and a sin against God.” (Patriarch Bartholomew).
Phạm một tội ác chống lại môi sinh là một tội chống lại chính chúng ta và là một tội chống lại Thiên Chúa.

- The throwaway culture of today calls for a new lifestyle.
Nền văn hóa gạt bỏ của ngày hôm nay đang kêu gọi một cách sống mới.

- There is a value proper to each creature.
Mỗi tạo vật đều có một giá trị riêng.

- There is a need to seek other ways of understanding the economy and progress.
Cần tìm kiếm những cách hiểu khác về nền kinh tế và sự tiến bộ.

- There is an intimate relationship between the poor and the fragility of the planet.
Có một mối quan hệ gần gũi giữa đói nghèo và sự mong manh của hành tinh.

- We need a new dialogue about how we are shaping the future of our planet.
Chúng ta cần một cuộc đối thoại mới về cách chúng ta định hình tương lai của hành tinh chúng ta.

- I invite all to pause to think about the challenges we face regarding care for our common home.
Tôi mời gọi mọi người dừng lại trong giây lát để suy nghĩ về những thách thức chúng ta phải đối mặt khi chăm sóc cho ngôi nhà chung của chúng ta.


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/6/2015 

Today the Church is a Church of martyrs, so many heroic witnesses. May we learn from their courage.
Ngày nay, Giáo hội là Giáo hội của các thánh tử đạo: có biết bao chứng nhân anh hùng. Chúng ta hãy học gương can trường của các ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/6/2015 

Where there is no work, there is no dignity.
Ở đâu không có việc làm, ở đó không có nhân phẩm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/6/2015 

In the Sacrament of the Eucharist we find God who gives himself.
Chúng ta thấy được Thiên Chúa trao ban chính mình trong bí tích Thánh Thể.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/6/2015 

We need to build up society in the light of the Beatitudes, walking towards the Kingdom with the least among us.
Chúng ta cần xây dựng xã hội theo ánh sáng của Tám Mối Phúc Thật, đồng hành cùng những người cuối hết trên đường về Nước Trời.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/6/2015 

The light of the Gospel guides all who put themselves at the service of the civilization of love.
Ánh sáng Phúc Âm là kim chỉ nam cho tất cả những ai dấn thân phục vụ nền văn minh tình thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/5/2015 

Lord, grant us the awesome gift of meeting you.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con món quà tuyệt vời là được gặp gỡ Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/5/2015 

Christians are witnesses not to a theory, but to a Person: Christ risen and alive, the one Saviour of all.
Kitô hữu là nhân chứng không phải về một lý thuyết nhưng là về một Con người: đó là Đức Kitô đã sống lại và đang sống, là Đấng Cứu chuộc duy nhất của mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/5/2015 

We can observe the Fourth Commandment by loving visits to our aging grandparents.
Chúng ta hãy thực hành Giới răn thứ Bốn bằng những cuộc thăm viếng đầy yêu thương các ông bà nội ngoại lúc tuổi già.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/5/2015 

Let us invoke the Holy Spirit each day: He guides us along the path of discipleship in Christ.
Chúng ta hãy khẩn cầu Chúa Thánh Thần mỗi ngày: Xin Ngài hướng dẫn chúng ta trên con đường của các môn đệ Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/5/2015 

Lord, send forth your Holy Spirit to bring consolation and strength to persecuted Christians. #free2pray.
Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến để mang lại niềm an ủi và sức mạnh cho các Kitô hữu bị bách hại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/5/2015 

There are times when God is silent, a silence which cannot be understood unless we gaze upon Christ crucified.
Có những lúc Thiên Chúa im hơi lặng tiếng, một sự im lặng chỉ có thể hiểu được khi chúng ta chiêm ngắm Chúa Kitô bị đóng đinh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/5/2015 

God is always waiting for us, he always understands us, he always forgives us.
Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta, Ngài luôn thấu hiểu chúng ta, luôn tha thứ chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/5/2015 

It is better to have a Church that is wounded but out in the streets than a Church that is sick because it is closed in on itself.
Một Giáo hội bị thương tích trên đường phố thì tốt hơn một Giáo hội bệnh hoạn vì bị giam hãm trong chính bản thân mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/5/2015 

Dear parents, have great patience, and forgive from the depths of your heart.
Hỡi các bậc làm cha mẹ, hãy hết sức kiên nhẫn, và hãy tha thứ tự đáy lòng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/5/2015 

Why is it so difficult to tolerate the faults of others? Have we forgotten that Jesus bore our sins?
Sao chúng ta khó tha thứ những lỗi lầm của người khác? Chúng ta quên rằng Chúa Giêsu đã gánh chịu tội lỗi của chúng ta sao?

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/5/2015 

Let us learn to live with kindness, to love everyone, even when they do not love us.
Chúng ta hãy học biết sống nhân ái, yêu thương mọi người, ngay cả với người không yêu thương chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/5/2015 

When we cannot earn our own bread, we lose our dignity. This is a tragedy today, especially for the young.
Khi một người không có cái ăn, họ đánh mất luôn phẩm giá (“bần cùng sinh đạo tặc”). Đó là bi kịch của ngày nay, đặc biệt đối với giới trẻ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/5/2015 

It is good for us to spend time before the Tabernacle, to feel the gaze of Jesus upon us.
Thật hữu ích khi ta bỏ chút thời gian hiện diện trước Nhà Tạm để cảm nhận ánh mắt của Chúa Giêsu nhìn chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/5/2015 

The love of Christ fills our hearts and makes us always able to forgive!
Tình yêu của Đức Kitô tràn ngập con tim chúng ta và khiến chúng ta luôn biết tha thứ.

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


HIỆP THÔNG THÁNG 7/2015

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 26
  • Khách viếng thăm: 20
  • Máy chủ tìm kiếm: 6
  • Hôm nay: 11987
  • Tháng hiện tại: 63264
  • Tổng lượt truy cập: 9418888