Banner giua trang

Ai là 'cha đẻ' chữ quốc ngữ?

Đăng lúc: Thứ năm - 25/08/2016 21:50 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Các nhà khoa học đã dành thời lượng lớn để xác định ai là người khai sinh chữ quốc ngữ - đề tài đã được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn thảo, tranh luận hơn 100 năm qua.
Ai là 'cha đẻ' chữ quốc ngữ?
 

Đền thánh Anrê Phú Yên tại dinh trấn Thanh Chiêm. ẢNH: TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG
 
Các nhà khoa học đã dành thời lượng lớn để xác định ai là người khai sinh chữ quốc ngữ - đề tài đã được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn thảo, tranh luận hơn 100 năm qua.
 
Tại hội thảo Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ quốc ngữ tổ chức tại Điện Bàn, Quảng Nam ngày 24.8, các nhà khoa học đã dành thời lượng lớn để xác định ai là người khai sinh chữ quốc ngữ - đề tài đã được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn thảo, tranh luận hơn 100 năm qua.
 
Hội thảo do Bộ KH-CN, Bộ VH-TT-DL, Hội Khoa học lịch sử VN, UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức.
 
“Xét lại” Rhodes
 
Khởi đầu từ năm 1912, giáo sĩ người Pháp Léopold Michel Cadière đã khẳng định trong cuộc hội thảo về văn hóa VN tại Paris rằng công lao phát minh ra chữ quốc ngữ thuộc về giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes (1591-1660). Chính luận điểm của một học giả có uy tín như Cadière đã được nhiều thế hệ học giả, nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa VN mặc nhiên chấp nhận.
 
Đến năm 1950, GS Dương Quảng Hàm viết sách VN văn học sử yếu cũng đánh giá Rhodes có công nhất, là người đầu tiên đem in những cuốn sách bằng chữ quốc ngữ. Giai đoạn 1985 - 1991, các nhà nghiên cứu như GS-TS Lê Văn Hảo, Vũ Ngọc Phan, GS Nguyễn Văn Hoàn… cũng nhận định Rhodes là người đầu tiên đã học hỏi nghiên cứu các cung giọng trong tiếng Việt để hoàn thiện sự phiên âm tiếng Việt bằng chữ cái Latin, có công đầu trong việc nghiên cứu, có vai trò đặc biệt “mà không ai có thể tranh chấp được”… Năm 1994, đề tài khoa học cấp nhà nước Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 do Hoàng Tiến chủ biên cũng tiếp tục đánh giá Rhodes “là đại diện và giữ công đầu” trong việc khai sinh chữ quốc ngữ.
 
Tuy nhiên, công lao của Rhodes đã bị nhóm nghiên cứu độc lập Đinh Trọng Tuyên - Đinh Bá Truyền (Quảng Nam) mạnh mẽ lên tiếng đòi “xét lại” tại hội thảo. Trong tham luận của mình, nhóm nghiên cứu do ông Tuyên đại diện đã liệt kê nhiều ý kiến trái chiều đối với L.M.Cadière. Cụ thể, năm 1927, học giả Phạm Quỳnh nêu ý kiến “không phải một người nào làm ra một mình” đối với chữ quốc ngữ. Năm 1955, học giả Georges Taboulet (Pháp) trong cuốn Công trạng của Pháp ở Đông Dương mở rộng góc nhìn hơn khi bàn về việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latin, cho rằng việc khai sinh chữ quốc ngữ là công lao tập thể, còn linh mục de Rhodes đã hệ thống hóa, chỉnh lý và phổ biến loại chữ này. Đáng chú ý, năm 1972, linh mục Joseph Đỗ Quang Chính tỏ ra hoài nghi luận điểm của Cadière khi cho rằng Rhodes chỉ là một trong những người sáng lập “nhưng xem ra phần đông lại đề cao quá mức sự nghiệp của ông”.
 

Bản kinh Lạy Cha năm 1632, do Pina và một thanh niên giáo dân người Việt lần đầu dịch sang tiếng Việt
 
“Vai trò số 1” của linh mục Pina
 
Nhóm nghiên cứu Đinh Trọng Tuyên đã đưa ra những cứ liệu cho biết linh mục người Pháp Roland Jacques đã phát hiện 2 tác phẩm chưa công bố của linh mục người Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585 - 1625) gồm bức thư viết dở bằng Bồ ngữ ở Ma Cao và tiểu luận Nhập môn tiếng Đàng Ngoài bằng La ngữ tại Bồ Đào Nha. Nhờ đó, năm 2002 Roland Jacques đã chứng minh Pina mới chính là người đầu tiên sáng tạo ra chữ quốc ngữ.
 
Tại hội thảo, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã dẫn lời tựa do chính Alexandre de Rhodes viết khi xuất bản cuốn Từ điển Việt - Bồ - La (năm 1651) công khai thừa nhận vai trò số 1 của linh mục Pina trong việc Latin hóa tiếng Việt. Pina đến Đàng Trong năm 1617, sau đó học tiếng Việt, trở thành giáo sĩ đầu tiên giảng đạo cho tín đồ bản địa mà không cần phiên dịch. Ông biên soạn tài liệu Phương pháp Latin hóa tiếng Việt và cuốn Ngữ pháp tiếng Việt; dạy tiếng Việt cho một số giáo sĩ khác, trong đó có Rhodes (đến Thanh Chiêm năm 1624).
 
Tại phiên kết luận hội thảo chiều qua, nhà sử học Dương Trung Quốc thống nhất với nhiều tham luận không cho Rhodes là “cha đẻ” của chữ quốc ngữ (như quan điểm của nhiều học giả kỳ cựu trước đây); đồng thời đánh giá linh mục de Pina chính là người sáng tạo chữ quốc ngữ, còn linh mục de Rhodes là người hoàn thiện xuất sắc, và Thanh Chiêm là nơi đầu tiên xuất phát chữ quốc ngữ. “Người Pháp có ý đồ khi nhấn mạnh vai trò của giáo sĩ Pháp Rhodes khi họ vào Đông Dương và có chính sách mới đối với văn hóa bản địa”, ông Quốc nói.
 
Một chi tiết thú vị được nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Quý (TP.HCM) đề cập là, tuy người Pháp có lợi dụng chữ quốc ngữ để củng cố chế độ bảo hộ ở VN, nhưng cuối cùng chữ quốc ngữ đã trở thành vũ khí khơi dậy tinh thần quốc gia dân tộc.
 
Vai trò của người Việt và Nhật
 
Tại hội thảo, bà Châu Yến Loan (tác giả cuốn Dinh trấn Thanh Chiêm - kinh đô thứ hai xứ Đàng Trong, NXB Đà Nẵng - 2015) đã nhắc đến vai trò của người VN cộng tác với giáo sĩ Pina, đó là thanh niên giáo dân có tên đạo là Phêrô cùng với Pina lần đầu tiên dịch một số bản kinh sang tiếng Việt hồi năm 1618, khởi đầu công cuộc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin. Bên cạnh đó, các tên tuổi học giả như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Vĩnh… cùng nhiều người Quảng cũng đã đóng góp tích cực trong việc phổ cập và truyền bá chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ 20 thông qua phong trào Duy Tân và hoạt động của các chí sĩ đương thời.
 
Nhà nghiên cứu Fukuda Yasuo (Trường đại học Hà Nội) thì nhìn nhận vai trò của người Nhật trong việc hỗ trợ thiết lập hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latin tại xứ Quảng, trong đó có Miguel Maki và Josef Tsuchimochi (đến Đàng Trong giai đoạn 1615 - 1624).
 
Tại hội thảo, linh mục Nguyễn Trường Thăng (Quảng Nam) đã đề xuất tổ chức một ngày tôn vinh chữ quốc ngữ và thành lập một bảo tàng chữ quốc ngữ.

Hứa Xuyên Huỳnh

Nguồn: http://thanhnien.vn/van-hoa/ai-la-cha-de-chu-quoc-ngu-737510.html

Tìm nơi an nghỉ của cha đẻ chữ Quốc ngữ
 
(GD&TĐ) - Alexandre de Rhodes - người có công lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ có tên tiếng Việt là cha Đắc Lộ. Nếu dùng những từ khóa này tìm kiếm trên Google, ta được hàng vạn trang viết về ông. Nhưng nếu hỏi: “Mộ của ông ở đâu?” thì không có thông tin nào. Chỉ biết rằng, ông mất ngày 5/11/1660 ở thành phố Isfahan - Nước Cộng hòa Hồi giáo Iran ngày nay. Hành trình đi tìm mộ cha Đắc Lộ được khởi đầu từ những thông tin ít ỏi như thế.
 
Tìm về kinh thành Ba Tư xưa
 

Bia mộ Alexandre de Rhodes

Với hy vọng có thể tìm được nơi ông trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn cán bộ Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan - thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.
 
Con đường cao tốc nối Teheran với Isfahan phẳng đẹp như một dải lụa mềm vắt qua những núi đồi, cao nguyên hoang vắng đầy sỏi đá. Đường tốt, nên chỉ hơn 4 giờ, chúng tôi đến Isfahan.
 
Nằm trên tuyến đường giao thương chính Bắc - Nam, Đông - Tây, Isfahan từng là kinh đô của nước Ba Tư xưa. Thành phố này nổi tiếng với những kiến trúc Hồi giáo, có nhiều đại lộ, nhà thờ tuyệt đẹp. Điều này khiến thành phố được người Iran đưa vào câu thành ngữ: "Isfahan là một nửa của thế giới".
 
Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.
 
Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.
 
Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi hồ hởi. Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi tham quan và nói về lịch sử nhà thờ.
 
Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.
 
Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes - người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.
 

Đoàn cán bộ Sứ quán Việt Nam trước mộ Alexandre de Rhodes
 
Nơi cha Đắc Lộ nghỉ chân
 
Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời. Chúng tôi hỏi: “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không?”.  Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố.
 
Nghĩa trang nằm dưới chân đồi. Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng. Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.
 
Phân vân tự hỏi làm sao tìm được mộ cha Đắc Lộ trong khu nghĩa trang rộng lớn này? Thật may, chúng tôi gặp được người quản trang nhiệt tình. Ông chỉ đường cho chúng tôi đến khu mộ cổ.
 
Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes. Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam. Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.
 
Rời Isfahan, trở về với công việc thường nhật, chúng tôi cảm thấy có đôi chút may mắn là một trong những người Việt đầu tiên tìm thấy mộ phần của cha Đắc Lộ. Thế giới nhiều khi hữu hạn, còn văn hoá và ngôn ngữ dường như vô hạn. Xin cảm ơn Cha, người đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ để cả dân tộc Việt sử dụng cho tới ngày hôm nay!
 
Cha Đắc Lộ sinh ngày 15/3/1591 ở Avignon (Pháp). Ông là nhà truyền giáo dòng Tên. Ông đến Hội An (Việt Nam) đầu năm 1625, khi 34 tuổi, đi suốt Bắc - Nam truyền đạo và chỉ rời Việt Nam khi bị nhà Nguyễn trục xuất vĩnh viễn vào năm 1645.
 
Trong 20 năm ở đất Việt, ông đã có công tổng hợp, chỉnh lý những công trình của các giáo sĩ trước đó để hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại với tác phẩm “Tự điển Việt-Bồ-La” in năm 1651 tại Roma -Cuốn sách hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Cha Đắc Lộ còn để lại cuốn Phép giảng tám ngày - tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ, phản ảnh văn ngữ và cách phát âm của người Việt thế kỷ 17.
 
Nguồn: http://giaoducthoidai.vn/nhiet-ke/tim-noi-an-nghi-cua-cha-de-chu-quoc-ngu-5781.html

Tác giả bài viết: Hứa Xuyên Huỳnh
Nguồn tin: thanhnien.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 01/2018


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/01/2018 

- The Gospel message is a source of joy: a joy that spreads from generation to generation and which we inherit.
Sứ điệp Tin Mừng là một nguồn vui: thứ niềm vui được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và chúng ta là những người thừa kế niềm vui đó.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/01/2018 

- Listening to religious teaching or learning a doctrine is not enough. What we want is to live as Jesus lived.
Nghe giảng đạo hoặc học hỏi giáo lý thôi chưa đủ. Chúng ta muốn sống như Chúa Giêsu đã sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/01/2018 

- We pray to God for the courage to ask forgiveness and to learn how to listen to what he is saying to us.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn can đảm để cầu xin tha thứ và học biết lắng nghe điều Chúa đang nói với chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/01/2018 

- I ask you to accompany me on my journey to Chile and Peru in your prayers.
Xin mọi người đồng hành với tôi trong chuyến thăm Chilê và Pêru qua lời cầu nguyện.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/01/2018 

- We should work to accommodate, to protect, to promote and to integrate whoever is forced to leave their own home and undergo moments of real difficulty.
Chúng ta phải hành động để đón nhận, bảo vệ, nâng đỡ và hòa nhập bất cứ ai bị buộc phải rời khỏi căn nhà của họ và phải trải qua những thời khắc vô cùng khó khăn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/01/2018 

- We must not wait to be perfect before responding to the Lord who calls us, but rather open our hearts to His voice.
Chúng ta không được đợi đến khi hoàn hảo mới đáp lại Thiên Chúa Đấng mời gọi chúng ta, nhưng hãy mở lòng đáp lại tiếng Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/01/2018 

- The encounter with God and our brothers and sisters cannot wait just because we are slow or lazy. We are called to that encounter today!
Việc gặp gỡ với Chúa và với anh chị em của chúng ta không thể được trì hoãn vì sự chậm chạp và lười biếng của chúng ta. Chúng ta được mời gọi gặp gỡ ngay hôm nay!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/01/2018 

- If we fail to suffer with those who suffer, even those of different religions, languages or cultures, we need to question our own humanity.
Nếu chúng ta không đồng cam cộng khổ với người anh em đang đau khổ, dù họ khác tín ngưỡng, ngôn ngữ hoặc văn hóa, thì chúng ta phải xem xét lại nhân tính của mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/01/2018 

- The more we are rooted in Christ, the more we rediscover interior peace, even in the midst of daily challenges.
Càng bám rễ nơi Đức Kitô chúng ta càng tìm thấy sự bình an trong tâm hồn, ngay cả giữa những nghịch cảnh hàng ngày.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/01/2018 

- A joyful soul is like healthy soil in which life can thrive and produce good fruit.
Một tâm hồn vui vẻ giống như mảnh đất tốt nơi đó sự sống có thể phát triển và sản sinh trái tốt.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/01/2018 

- Joy, prayer and gratitude are three ways that help us live authentically.
Niềm vui, lời cầu nguyện và lòng biết ơn là ba phương thế giúp chúng ta sống cuộc sống đích thực.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/01/2018 

- Let us share the joy of our Christian brothers and sisters of the East who are celebrating Christmas today.
Chúng ta hãy cùng chung chia niềm vui với anh chị em Kitô hữu Đông phương hôm nay cử hành lễ Chúa Giáng sinh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/01/2018 

- Baptism is also called ‘illumination’, because faith illuminates the heart and allows us to see things in a different light.
Bí tích Rửa tội còn được gọi là “giải minh”, bởi lẽ đức tin rọi sáng tâm can và cho chúng ta nhìn mọi sự dưới một ánh sáng khác.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/01/2018 

- Like the Magi, believers are led by faith to seek God in the most hidden places, knowing that the Lord waits for them there.
Như Ba Vua, các tín hữu được thúc đẩy bởi đức tin ra đi tìm kiếm Chúa ở những chỗ kín đáo nhất bởi vì họ biết rằng nơi đó Chúa đang chờ đợi họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/01/2018 

- God walks along the dusty paths of our lives and responds to our longing for love and happiness by calling us to joy.
Thiên Chúa bước đi suốt cuộc sống lấm bụi trần của chúng ta, Ngài đáp ứng khát vọng tình yêu và hạnh phúc của chúng ta bằng cách mời gọi chúng ta hãy vui lên.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/01/2018 

- God became a child to be closer to the men and women of every time, and to show us His infinite tenderness.
Thiên Chúa trở nên trẻ thơ để mãi mãi gần gũi hơn với con người, và để tỏ cho chúng ta thấy lòng trìu mến vô biên của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/01/2018 

- In the name of Jesus, with our witness, we can prove that peace is possible.
Nhân danh Đức Giêsu, bằng chứng tá của mình, chúng ta có thể chứng minh rằng hòa bình là điều có thể.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/01/2018 

- In the simplicity of the nativity scene we encounter and contemplate the tenderness of God which reveals itself in the Baby Jesus.
Trong vẻ đơn hèn của máng cỏ chúng ta gặp gỡ và chiêm ngắm tình yêu thương của Thiên Chúa, tự thể hiện qua Hài nhi Giêsu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/01/2018 

- Let us nurture the seeds of peace as they grow and let us transform our cities into workshops of peace.
Chúng ta hãy nuôi dưỡng những mầm mống hòa bình để chúng lớn lên và chúng ta hãy biến đổi thành phố chúng ta sống thành nơi kiến tạo hòa bình.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 01/2018

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 69
  • Hôm nay: 14822
  • Tháng hiện tại: 301057
  • Tổng lượt truy cập: 21106255