Banner giua trang

Ai là 'cha đẻ' chữ quốc ngữ?

Đăng lúc: Thứ năm - 25/08/2016 21:50 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Các nhà khoa học đã dành thời lượng lớn để xác định ai là người khai sinh chữ quốc ngữ - đề tài đã được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn thảo, tranh luận hơn 100 năm qua.
Ai là 'cha đẻ' chữ quốc ngữ?
 

Đền thánh Anrê Phú Yên tại dinh trấn Thanh Chiêm. ẢNH: TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG
 
Các nhà khoa học đã dành thời lượng lớn để xác định ai là người khai sinh chữ quốc ngữ - đề tài đã được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn thảo, tranh luận hơn 100 năm qua.
 
Tại hội thảo Dinh trấn Thanh Chiêm và chữ quốc ngữ tổ chức tại Điện Bàn, Quảng Nam ngày 24.8, các nhà khoa học đã dành thời lượng lớn để xác định ai là người khai sinh chữ quốc ngữ - đề tài đã được các học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn thảo, tranh luận hơn 100 năm qua.
 
Hội thảo do Bộ KH-CN, Bộ VH-TT-DL, Hội Khoa học lịch sử VN, UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức.
 
“Xét lại” Rhodes
 
Khởi đầu từ năm 1912, giáo sĩ người Pháp Léopold Michel Cadière đã khẳng định trong cuộc hội thảo về văn hóa VN tại Paris rằng công lao phát minh ra chữ quốc ngữ thuộc về giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes (1591-1660). Chính luận điểm của một học giả có uy tín như Cadière đã được nhiều thế hệ học giả, nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa VN mặc nhiên chấp nhận.
 
Đến năm 1950, GS Dương Quảng Hàm viết sách VN văn học sử yếu cũng đánh giá Rhodes có công nhất, là người đầu tiên đem in những cuốn sách bằng chữ quốc ngữ. Giai đoạn 1985 - 1991, các nhà nghiên cứu như GS-TS Lê Văn Hảo, Vũ Ngọc Phan, GS Nguyễn Văn Hoàn… cũng nhận định Rhodes là người đầu tiên đã học hỏi nghiên cứu các cung giọng trong tiếng Việt để hoàn thiện sự phiên âm tiếng Việt bằng chữ cái Latin, có công đầu trong việc nghiên cứu, có vai trò đặc biệt “mà không ai có thể tranh chấp được”… Năm 1994, đề tài khoa học cấp nhà nước Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 do Hoàng Tiến chủ biên cũng tiếp tục đánh giá Rhodes “là đại diện và giữ công đầu” trong việc khai sinh chữ quốc ngữ.
 
Tuy nhiên, công lao của Rhodes đã bị nhóm nghiên cứu độc lập Đinh Trọng Tuyên - Đinh Bá Truyền (Quảng Nam) mạnh mẽ lên tiếng đòi “xét lại” tại hội thảo. Trong tham luận của mình, nhóm nghiên cứu do ông Tuyên đại diện đã liệt kê nhiều ý kiến trái chiều đối với L.M.Cadière. Cụ thể, năm 1927, học giả Phạm Quỳnh nêu ý kiến “không phải một người nào làm ra một mình” đối với chữ quốc ngữ. Năm 1955, học giả Georges Taboulet (Pháp) trong cuốn Công trạng của Pháp ở Đông Dương mở rộng góc nhìn hơn khi bàn về việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latin, cho rằng việc khai sinh chữ quốc ngữ là công lao tập thể, còn linh mục de Rhodes đã hệ thống hóa, chỉnh lý và phổ biến loại chữ này. Đáng chú ý, năm 1972, linh mục Joseph Đỗ Quang Chính tỏ ra hoài nghi luận điểm của Cadière khi cho rằng Rhodes chỉ là một trong những người sáng lập “nhưng xem ra phần đông lại đề cao quá mức sự nghiệp của ông”.
 

Bản kinh Lạy Cha năm 1632, do Pina và một thanh niên giáo dân người Việt lần đầu dịch sang tiếng Việt
 
“Vai trò số 1” của linh mục Pina
 
Nhóm nghiên cứu Đinh Trọng Tuyên đã đưa ra những cứ liệu cho biết linh mục người Pháp Roland Jacques đã phát hiện 2 tác phẩm chưa công bố của linh mục người Bồ Đào Nha Francisco de Pina (1585 - 1625) gồm bức thư viết dở bằng Bồ ngữ ở Ma Cao và tiểu luận Nhập môn tiếng Đàng Ngoài bằng La ngữ tại Bồ Đào Nha. Nhờ đó, năm 2002 Roland Jacques đã chứng minh Pina mới chính là người đầu tiên sáng tạo ra chữ quốc ngữ.
 
Tại hội thảo, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã dẫn lời tựa do chính Alexandre de Rhodes viết khi xuất bản cuốn Từ điển Việt - Bồ - La (năm 1651) công khai thừa nhận vai trò số 1 của linh mục Pina trong việc Latin hóa tiếng Việt. Pina đến Đàng Trong năm 1617, sau đó học tiếng Việt, trở thành giáo sĩ đầu tiên giảng đạo cho tín đồ bản địa mà không cần phiên dịch. Ông biên soạn tài liệu Phương pháp Latin hóa tiếng Việt và cuốn Ngữ pháp tiếng Việt; dạy tiếng Việt cho một số giáo sĩ khác, trong đó có Rhodes (đến Thanh Chiêm năm 1624).
 
Tại phiên kết luận hội thảo chiều qua, nhà sử học Dương Trung Quốc thống nhất với nhiều tham luận không cho Rhodes là “cha đẻ” của chữ quốc ngữ (như quan điểm của nhiều học giả kỳ cựu trước đây); đồng thời đánh giá linh mục de Pina chính là người sáng tạo chữ quốc ngữ, còn linh mục de Rhodes là người hoàn thiện xuất sắc, và Thanh Chiêm là nơi đầu tiên xuất phát chữ quốc ngữ. “Người Pháp có ý đồ khi nhấn mạnh vai trò của giáo sĩ Pháp Rhodes khi họ vào Đông Dương và có chính sách mới đối với văn hóa bản địa”, ông Quốc nói.
 
Một chi tiết thú vị được nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Quý (TP.HCM) đề cập là, tuy người Pháp có lợi dụng chữ quốc ngữ để củng cố chế độ bảo hộ ở VN, nhưng cuối cùng chữ quốc ngữ đã trở thành vũ khí khơi dậy tinh thần quốc gia dân tộc.
 
Vai trò của người Việt và Nhật
 
Tại hội thảo, bà Châu Yến Loan (tác giả cuốn Dinh trấn Thanh Chiêm - kinh đô thứ hai xứ Đàng Trong, NXB Đà Nẵng - 2015) đã nhắc đến vai trò của người VN cộng tác với giáo sĩ Pina, đó là thanh niên giáo dân có tên đạo là Phêrô cùng với Pina lần đầu tiên dịch một số bản kinh sang tiếng Việt hồi năm 1618, khởi đầu công cuộc ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latin. Bên cạnh đó, các tên tuổi học giả như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Vĩnh… cùng nhiều người Quảng cũng đã đóng góp tích cực trong việc phổ cập và truyền bá chữ quốc ngữ vào đầu thế kỷ 20 thông qua phong trào Duy Tân và hoạt động của các chí sĩ đương thời.
 
Nhà nghiên cứu Fukuda Yasuo (Trường đại học Hà Nội) thì nhìn nhận vai trò của người Nhật trong việc hỗ trợ thiết lập hệ thống phiên âm tiếng Việt bằng chữ Latin tại xứ Quảng, trong đó có Miguel Maki và Josef Tsuchimochi (đến Đàng Trong giai đoạn 1615 - 1624).
 
Tại hội thảo, linh mục Nguyễn Trường Thăng (Quảng Nam) đã đề xuất tổ chức một ngày tôn vinh chữ quốc ngữ và thành lập một bảo tàng chữ quốc ngữ.

Hứa Xuyên Huỳnh

Nguồn: http://thanhnien.vn/van-hoa/ai-la-cha-de-chu-quoc-ngu-737510.html

Tìm nơi an nghỉ của cha đẻ chữ Quốc ngữ
 
(GD&TĐ) - Alexandre de Rhodes - người có công lớn trong việc tạo ra chữ Quốc ngữ có tên tiếng Việt là cha Đắc Lộ. Nếu dùng những từ khóa này tìm kiếm trên Google, ta được hàng vạn trang viết về ông. Nhưng nếu hỏi: “Mộ của ông ở đâu?” thì không có thông tin nào. Chỉ biết rằng, ông mất ngày 5/11/1660 ở thành phố Isfahan - Nước Cộng hòa Hồi giáo Iran ngày nay. Hành trình đi tìm mộ cha Đắc Lộ được khởi đầu từ những thông tin ít ỏi như thế.
 
Tìm về kinh thành Ba Tư xưa
 

Bia mộ Alexandre de Rhodes

Với hy vọng có thể tìm được nơi ông trở về với cát bụi, chúng tôi, đoàn cán bộ Việt Nam đang công tác tại Iran đã đến Isfahan - thành phố cổ cách Teheran 350 km về phía Nam. Đó là một ngày đầu năm 2011, một tuần sau lễ Giáng sinh.
 
Con đường cao tốc nối Teheran với Isfahan phẳng đẹp như một dải lụa mềm vắt qua những núi đồi, cao nguyên hoang vắng đầy sỏi đá. Đường tốt, nên chỉ hơn 4 giờ, chúng tôi đến Isfahan.
 
Nằm trên tuyến đường giao thương chính Bắc - Nam, Đông - Tây, Isfahan từng là kinh đô của nước Ba Tư xưa. Thành phố này nổi tiếng với những kiến trúc Hồi giáo, có nhiều đại lộ, nhà thờ tuyệt đẹp. Điều này khiến thành phố được người Iran đưa vào câu thành ngữ: "Isfahan là một nửa của thế giới".
 
Quảng trường Naghsh-i Jahan của Isfahan là một trong những quảng trường lớn nhất địa cầu với kiến trúc tiêu biểu Hồi giáo đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa nhân loại. Tại thành phố này, Alexandre de Rhodes đã sống những năm cuối đời. Mặc dù trước đó, phần đời chính của ông là ở Việt Nam.
 
Chúng tôi đến Isfahan vào một ngày mùa đông se lạnh nhưng tràn ánh nắng. Hỏi đường đến một nhà thờ Công giáo nào đó, chúng tôi được người dân chỉ dẫn tận tình. Điểm chúng tôi đến là nhà thờ Vank, nhà thờ thiên chúa lớn nhất Isfahan.
 
Qua giây phút ngạc nhiên trước đoàn khách Việt Nam, cha xứ nhà thờ nồng nhiệt đón tiếp chúng tôi hồ hởi. Trước nay, hiếm có du khách Á đông nào, nhất là từ Việt Nam xa xôi tới nơi đây. Ông nhiệt tình dẫn chúng tôi đi tham quan và nói về lịch sử nhà thờ.
 
Nằm trong thế giới Hồi giáo, nhà thờ có kiến trúc bề ngoài đặc trưng Hồi giáo, nhưng vào bên trong, với các tranh và tượng Thánh đầy ắp khắp các bức tường, cứ ngỡ như đang ở một nhà thờ nào đó ở Roma hay Paris.
 
Cha xứ càng ngạc nhiên hơn khi chúng tôi hỏi về giáo sĩ Alexandre de Rhodes - người đã mất cách đây hơn 350 năm. Nhà thờ Vank có một thư viện lớn, lưu trữ nhiều tư liệu quý giá. Cha xứ nói người vào thư viện tìm kiếm. Lát sau, một thanh niên to khỏe khệ nệ mang ra một cuốn sổ dày cộp, to chừng nửa cái bàn, bìa bọc da nâu ghi chép về các giáo sĩ đã làm việc và mất tại đây. Ngạc nhiên và vui mừng tột độ, cha và chúng tôi tìm thấy dòng chữ ghi Alexandre de Rhodes mất năm 1660.
 

Đoàn cán bộ Sứ quán Việt Nam trước mộ Alexandre de Rhodes
 
Nơi cha Đắc Lộ nghỉ chân
 
Như vậy, không nghi ngờ gì nữa, chính tại nhà thờ Vank này, cha Đắc Lộ đã sống và làm việc những năm cuối đời. Chúng tôi hỏi: “Thưa cha, liệu có thể tìm thấy mộ của Alexandre de Rhodes ở đâu không?”.  Cha xứ tận tình chỉ đường cho đoàn khách đặc biệt tới Nghĩa trang Công giáo ở ngoại ô thành phố.
 
Nghĩa trang nằm dưới chân đồi. Các ngôi mộ nằm êm mát dưới tán rừng thông, tùng, bách mênh mông, vắng lặng. Lạ một điều, nghĩa trang Công giáo nhưng không thấy một cây thánh giá nào.
 
Phân vân tự hỏi làm sao tìm được mộ cha Đắc Lộ trong khu nghĩa trang rộng lớn này? Thật may, chúng tôi gặp được người quản trang nhiệt tình. Ông chỉ đường cho chúng tôi đến khu mộ cổ.
 
Chia nhau đi các ngả tìm kiếm, lần mò hồi lâu, chúng tôi reo lên khi thấy ngôi mộ có ghi rõ tên Alexandre de Rhodes. Mộ ông nằm bên cạnh hai ngôi mộ khác thành một cụm ba ngôi. Gọi là mộ, nhưng không đắp nổi như ở Việt Nam. Đó chỉ là tảng đá lớn nằm nghiêng nửa chìm, nửa nổi trên mặt đất. Dù đã trải qua mưa nắng, biến động cuộc đời hơn ba thế kỷ, chữ khắc trên tảng đá còn khá rõ nét.

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong lòng mình những cảm xúc bâng khuâng khó tả.
 
Rời Isfahan, trở về với công việc thường nhật, chúng tôi cảm thấy có đôi chút may mắn là một trong những người Việt đầu tiên tìm thấy mộ phần của cha Đắc Lộ. Thế giới nhiều khi hữu hạn, còn văn hoá và ngôn ngữ dường như vô hạn. Xin cảm ơn Cha, người đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ để cả dân tộc Việt sử dụng cho tới ngày hôm nay!
 
Cha Đắc Lộ sinh ngày 15/3/1591 ở Avignon (Pháp). Ông là nhà truyền giáo dòng Tên. Ông đến Hội An (Việt Nam) đầu năm 1625, khi 34 tuổi, đi suốt Bắc - Nam truyền đạo và chỉ rời Việt Nam khi bị nhà Nguyễn trục xuất vĩnh viễn vào năm 1645.
 
Trong 20 năm ở đất Việt, ông đã có công tổng hợp, chỉnh lý những công trình của các giáo sĩ trước đó để hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại với tác phẩm “Tự điển Việt-Bồ-La” in năm 1651 tại Roma -Cuốn sách hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh. Cha Đắc Lộ còn để lại cuốn Phép giảng tám ngày - tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ, phản ảnh văn ngữ và cách phát âm của người Việt thế kỷ 17.
 
Nguồn: http://giaoducthoidai.vn/nhiet-ke/tim-noi-an-nghi-cua-cha-de-chu-quoc-ngu-5781.html

Tác giả bài viết: Hứa Xuyên Huỳnh
Nguồn tin: thanhnien.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 02/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/02/2017 

- God knows better than we do about what we need. We must have faith, because his ways are different from ours.
Thiên Chúa biết điều chúng ta cần hơn cả chúng ta. Chúng ta cần có đức tin, vì đường lối Chúa khác với đường lối của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/02/2017 

- If evil is contagious, so is goodness. Let us be infected by goodness and let us spread goodness!
Nếu điều ác có tính lây nhiễm thì điều thiện cũng thế. Chúng ta hãy để mình bị lây nhiễm điều thiện và làm lây lan nó!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/02/2017 

- Let us be moved by the Holy Spirit in order to be courageous in finding new ways to proclaim the Gospel.
Chúng ta hãy để Chúa Thánh Thần thúc đẩy nhằm can đảm tìm kiếm những phương thế để loan báo Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/02/2017 

- How often in the Bible the Lord asks us to welcome migrants and foreigners, reminding us that we too are foreigners!
Biết bao lần trong Kinh Thánh Chúa dạy chúng ta phải đón tiếp người nhập cư và khách lạ, đồng thời nhắc nhở chúng ta cũng là những khách lạ!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/02/2017 

- A youthful heart does not tolerate injustice and cannot bow to a “throw-away culture” nor give in to the globalization of indifference.
Một trái tim trẻ trung không khoan dung trước bất công, không cúi đầu trước văn hóa thải loại, không đầu hàng trước nạn toàn cầu hóa dửng dưng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/02/2017 

- I invite you to join in the fight against poverty, both material and spiritual. Together let’s build peace and bridges of friendship.
Tôi mời gọi anh chị em đấu tranh chống lại sự nghèo đói cả về mặt thể chất và tinh thần. Chúng ta hãy cùng nhau xây dựng hòa bình và bắc những nhịp cầu huynh đệ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/02/2017 

- The throwaway culture is not of Jesus. The other is my brother, beyond every barrier of nationality, social extraction or religion.
Nền văn hóa thải loại không phải là của Đức Giêsu. Tha nhân là anh em của tôi, bất kể rào cản quốc gia, tầng lớp xã hội hay tôn giáo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/02/2017 

- It is good to know the Lord takes on the burden of our fragilities and patiently gets us back on our feet with the strength to start over.
Tốt đẹp biết mấy khi nhận ra Chúa đang quảy gánh nặng sự yếu đuối của chúng ta và nhẫn nại vực chúng ta đứng dậy trên đôi chân với sức mạnh để bắt đầu lại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/02/2017 

- Let us never place conditions on God! Entrusting ourselves to the Lord means entering into his plans without demanding anything.
Chúng ta đừng bao giờ đặt điều kiện với Thiên Chúa! Tin vào Chúa có nghĩa là dấn thân vào kế hoạch của Ngài mà không đòi hỏi gì cả.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/02/2017 

- The dignity of children must be respected: we pray that the scandal of child-soldiers may be eliminated the world over.
Cần tôn trọng phẩm giá của trẻ em: Chúng ta hãy cầu xin cho việc lạm dụng chiến binh-trẻ em phải bị loại bỏ trên toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/02/2017 

- I encourage all of you to see in Mary, Health of the Infirm, the sure sign of God’s love for every human being.
Tôi khuyến khích các bạn hãy ngắm nhìn Mẹ Maria, Vị Cứu tinh của bệnh nhân, là dấu chỉ chắc chắn tình yêu của Thiên Chúa đối với mỗi con người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/02/2017 

- Let us be close to our brothers and sisters who are going through illness and also their families.
Chúng ta hãy gần gũi các anh chị em đang sống với bệnh tật và cả gia đình của họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/02/2017 

- Hope opens new horizons and enables us to dream of what is not even imaginable.
Niềm hy vọng mở ra những chân trời mới, giúp chúng ta mơ về những điều thậm chí không tưởng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/02/2017 

- Those who traffic human beings are ultimately accountable to God. Let us pray for the conversion of hearts.
Những kẻ buôn người cuối cùng phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các tâm hồn biết hối cải.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/02/2017 

- Let us hear the cry of the many children who are enslaved. No one must remain indifferent to their sorrow.
Chúng ta hãy lắng nghe tiếng khóc của biết bao trẻ em bị bán làm nô lệ. Xin đừng ai dửng dưng trước nỗi đau của chúng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/02/2017 

- Being a believer means learning how to see with eyes of faith.
Làm người tín hữu nghĩa là phải học nhìn dưới con mắt của đức tin.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/02/2017 

- Let us never forget to pray for each another. Prayer is our greatest strength.
Chúng ta đừng bao giờ quên cầu nguyện cho nhau. Lời cầu nguyện là nguồn sức mạnh lớn nhất của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/02/2017 

- Consecrated life is a great gift of God: a gift of God to the Church, a gift of God to His People.
Đời sống thánh hiến là món quà tuyệt vời của Thiên Chúa: món quà Thiên Chúa ban cho Giáo hội, món quà Thiên Chúa ban cho Dân Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/02/2017 

- God wants us all to see one another as brothers and to live as such, forming a great human family that is harmonious in its diversity.
Thiên Chúa muốn tất cả mọi người coi nhau là anh em và sống trong tinh thần đó, làm cho nhân loại trở thành một đại gia đình hòa hợp trong sự khác biệt của nó.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 31/01/2017 

- Let us imitate the attitude of Jesus toward the sick: he takes care of everyone, He shares their suffering and opens their hearts to hope.
Chúng ta hãy bắt chước thái độ của Đức Giêsu đối với những người bệnh: Ngài chăm sóc họ, chia sẻ những đau đớn của họ và mở lòng họ hướng về niềm hy vọng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/01/2017 

- Nothing is impossible if we turn to God in prayer. We can all be builders of peace.
Hướng lòng về Chúa để cầu nguyện thì không có gì là không thể được. Tất cả chúng ta đều có thể trở thành những người xây dựng hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/01/2017 

- Lord, God of peace, hear our prayer and grant us peace in the Holy Land. Shalom, salaam, peace!
Lạy Chúa, Thiên Chúa của hòa bình, xin lắng nghe lời chúng con khẩn cầu và ban ơn hòa bình cho Thánh Địa. Shalom, salaam, chúc an hòa!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/01/2017 

- The Kingdom of God is already in our midst like a hidden seed. Anyone with pure eyes can see it blossom.
Nước Trời đang ở giữa chúng ta như hạt giống bị chôn vùi. Bất cứ ai có đôi mắt thanh khiết đều có thể thấy nó nẩy mầm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/01/2017 

- Today I want to remember in my heart all the victims of the Holocaust. May their sufferings and their tears never be forgotten.
Hôm nay tôi muốn hồi tưởng lại trong trái tim tôi tất cả những nạn nhân của cuộc thảm sát người Do Thái. Cầu mong sao những đau khổ và những giọt nước mắt của họ không bao giờ bị lãng quên.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/01/2017 

- Hope lets new life blossom, like a plant that grows from the seed fallen on the earth.
Niềm hy vọng trổ sinh cuộc sống mới, như cây mọc lên từ hạt giống rơi vào lòng đất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/01/2017 

- I love to repeat that Christian unity is achieved by walking together, by encounter, prayer and preaching the Gospel.
Tôi muốn lặp lại rằng sự Hiệp nhất các Kitô hữu được thể hiện khi cùng đi với nhau, gặp gỡ nhau, cầu nguyện và loan báo Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/01/2017 

- Let us offer the men and women of our time stories marked by the logic of the “good news”.
Chúng ta hãy cung cấp cho con người thời nay những bài viết mang dấu ấn của lối biện giải “tin tốt lành”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/01/2017 

-“Be not afraid, for I am with you”. Let us communicate hope and trust in our time!
“Đừng sợ, vì Thầy ở với các con”. Chúng ta hãy truyền bá niềm hy vọng và niềm tin trong thời đại chúng ta!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/01/2017 

- The unity of love is realised when we announce together the wonders God has done for us.
Sự hợp nhất trong tình yêu được thực hiện khi chúng ta loan báo cho người khác những điều kỳ diệu mà Chúa đã làm cho chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/01/2017 

- Christian unity is not the fruit of our human efforts but a gift that comes from above.
Sự hiệp nhất các Kitô hữu không phải là hoa trái của những nỗ lực của con người mà là một quà tặng đến từ trời cao.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 02/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 122
  • Khách viếng thăm: 110
  • Máy chủ tìm kiếm: 12
  • Hôm nay: 492
  • Tháng hiện tại: 180275
  • Tổng lượt truy cập: 16144402