Banner giua trang

Lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 27/12/2016 07:05 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Khi tuyên xưng Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta khẳng định niềm tin của chúng ta vào Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, Ngài thật sự là Con Thiên Chúa nhưng cũng thật sự là Con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a...
ĐỨC MA-RI-A, MẸ THIÊN CHÚA

 
Khi tuyên xưng Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta khẳng định niềm tin của chúng ta vào Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, Ngài thật sự là Con Thiên Chúa nhưng cũng thật sự là Con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trong biến cố Nhập Thể. Lễ kính trọng thể “Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa” có gốc tích rất lâu đời và được phổ biến trên khắp thế giới. Trong lịch canh tân Phụng Vụ, lễ kính trọng thể Đức Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa này được cử hành vào ngày mồng 1 tháng giêng, trùng với ngày bát nhật Giáng Sinh, ngày kính nhớ việc cắt bì và đặt tên cho Chúa Giê-su, nhưng cũng trùng với ngày Tân Niên, ngày đầu năm mới cầu cho hòa bình thế giới. Đức Phao-lô VI viết: “Ngày lễ trọng ấy này được đặt vào mồng một tháng giêng theo như tập tục xa xưa của Phụng Vụ Rô-ma. Lễ này được dành riêng ca tụng việc Đức Ma-ri-a góp phần vào mầu nhiệm cứu độ và tán dương tước vị cao quý đặc biệt do phần đóng góp ấy đem lại cho Người Mẹ rất thánh, Đấng có công giúp chúng ta đón tiếp Tác Giả của sự sống” (“Marialis Cultus” 5).
 
-Ds 6: 22-27
 
Đây là một trong những bản văn đẹp nhất của bộ Ngũ Thư, về phương diện văn chương và thần học. “Lời chúc lành của tư tế” nêu bật sự hiện diện thi ân giáng phúc của Thiên Chúa, nguồn mạch của sự sống và phúc lành. Lời chúc lành này gồm ba lời nguyện xin, mỗi lời bắt đầu với danh xưng Đức Chúa. Vài tác giả xưa nhìn thấy nơi việc kêu cầu ba lần Danh Thánh này báo trước Thiên Chúa Ba Ngôi. Lời chúc lành cầu xin được che chở, ân sủng và bình an: ba hồng ân tóm tắt mọi ước vọng của con người, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể đáp ứng cách sung mãn. 
 
-Gl 4: 4-7
Trong đoạn trích thư gởi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô khẳng định với chúng ta rằng chúng ta thực sự là con cái của Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su, Ngài là Con Thiên Chúa được sinh ra làm con của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.
 
-Lc 2: 16-21
 
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, thánh Lu-ca tường thuật cho chúng ta hai biến cố: “Các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi Giê-su” và “Hài Nhi Giê-su chịu cắt bì và đặt tên”.
 
BÀI ĐỌC I (Ds 6: 22-27)
 
Đây là đoạn văn thuộc truyền thống tư tế. Trong phần nhập đề, Đức Chúa căn dặn ông Mô-sê: “Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này” (6: 22-23). Như vậy, các tư tế có nhiệm vụ chúc lành cho dân Ngài. Tuy nhiên, trong phần chúc lành, ba lời chúc lành đều bắt đầu với danh Thiên Chúa: “Nguyện Đức Chúa”. Điều này cho thấy vị tư tế chỉ là người trung gian, chính Đức Chúa mới thật sự là Đấng hiện diện và chúc lành.
 
1. Lời chúc lành thứ nhất (6: 24)
 
Trong lời chúc lành thứ nhất, “Nguyện Đức Chúa ban phúc lành và gìn giữ anh em” . Từ “gìn giữ” ở đây nói đến ơn phù trợ của Thiên Chúa khỏi mọi hiểm nguy trong cuộc sống, như: “Xin gìn giữ con như con ngươi mắt Ngài, xin dấu con dưới bóng của cánh tay Ngài” (Tv 17: 8) hay “Xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu chữa” (Tv 31: 17; 80: 4, 8, 20). Lời chúc lành thứ nhất này muốn nói rằng “Xin Thiên Chúa đổ tràn ơn lành trên dân và che chở cho dân tránh mọi tai họa có thể đổ xuống trên dân”. Lời chúc phúc thứ nhất này nhấn mạnh Ơn Quan Phòng của Chúa.
 
2. Lời chúc lành thứ hai (6: 25)
 
Trong lời chúc phúc thứ hai, “Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em”, nghĩa là xin Thiên Chúa nhìn đến dân Ngài bằng ánh mắt chan chứa niềm vui của Ngài. Lời cầu này muốn nói rằng nếu có điều gì không vừa lòng đẹp ý Ngài, thì xin Ngài “rủ lòng thương” mà khoan hồng độ lượng rộng tình tha thứ những lỗi phạm của dân Ngài. Lời chúc lành này nhấn mạnh tấm lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa, như sấm ngôn của Giê-rê-mi-a: “Trở về đi, hỡi Ít-ra-en phản bội. Ta sẽ không nghiêm nét mặt với các ngươi nữa, vì Ta giàu lòng thương xót” (Gr 3: 11).
 
3. Lời chúc lành thứ ba (6: 26)
 
Trong lời chúc lành thứ ba, “Nguyện Đức Chúa ghé mặt nhìn”, nghĩa là xin Thiên Chúa đừng ngoảnh mặt làm ngơ, nhưng nhìn đến dân Ngài như “Thiên Chúa đoái nhìn đến A-ben và lễ vật của ông, nhưng Ca-in và lễ vật của ông, thì Người không đoái nhìn” (St 4: 5-6). Chính cái nhìn của Thiên Chúa đem lại “bình an” cho dân Ngài. Với tính thực tiển của Cựu Ước, chúng ta không được quan niệm “bình an” trong nội tâm. Thế giới của Cựu Ước chưa biết trừu tượng hóa hay nội tâm hóa. Cái bình an mà Cựu Ước muốn nói đến là tình trạng hòa hợp giữa con người với trời và đất. Chỉ có bình an thực sự giữa con người với nhau trong một mối giao hòa với trời và đất, bây giờ mới có bình an trong tâm hồn, như lời ca ngợi của đoàn sứ thần trên bầu trời Bê-lem: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2: 14).
 
- Kết luận (6: 27)
 
Chúc lành như thế là đặt con cái Ít-ra-en dưới quyền bảo trợ của “Danh Thiên Chúa”, danh Thiên Chúa đồng nhất với chính sự hiện diện thi ân giáng phúc của Ngài. Vào thời Cựu Ước, chính Đức Chúa, qua trung gian của các tư tế, chúc phúc cho dân Ngài. Vào thời Tân Ước, Con Một Thiên Chúa làm người, là Đức Giê-su, nghĩa là “Đức Chúa cứu độ”, chính Ngài chúc phúc cho nhân loại. Từ nay mọi ân sủng Thiên Chúa ban cho nhân loại đều qua Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Ngài là Đấng Trung Gian duy nhất giữa nhân loại và Thiên Chúa.
 
BÀI ĐỌC II (Gl 4: 4-7)
 
Bài Đọc II được trích từ Thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Ga-lát. Thánh Phao-lô viết Thư này vào năm 54-57 cốt để biện minh cho mình vì có nhiều người đặt nghi vấn về sứ vụ Tông Đồ của thánh nhân và Tin Mừng mà thánh nhân loan báo.
 
Vì thế, ngay từ đầu Thư, thánh nhân xác quyết sứ vụ Tông Đồ của thánh nhân bắt nguồn từ Đấng Phục Sinh: “Tôi là Phao-lô, Tông Đồ không phải do loài người, cũng phải nhờ một người nào, nhưng bởi Đức Giê-su Ki-tô và Thiên Chúa là Cha, Đấng đã cho Người từ cõi chết sống lại” (1: 1). Từ đó, thánh Phao-lô khẳng định tính chính thống của Tin Mừng mà thánh nhân loan báo: “Thực vậy, thưa anh em, tôi xin nói cho anh em biết: Tin Mừng tôi loan báo không phải do loài người. Vì không ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho tôi Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô mặc khải” (1: 11-12). Thánh Phao-lô cũng viện dẫn các Tông Đồ trực tiếp của Đức Giê-su, các ngài cũng chứng nhận tính chính thống của Tin Mừng mà thánh nhân loan báo: “Vậy khi nhận ra ân huệ Thiên Chúa đã ban cho tôi, các ông Gia-cô-bê, Kê-pha và Gio-an, những người được coi là cột trụ, đã bắt tay tôi và ông Ba-na-ba để tỏ dấu hiệp thông: chúng tôi thì lo cho các dân ngoại, còn các vị ấy thì lo cho những người được cắt bì” (2: 9).
 
Trong đoạn Thư được Phụng Vụ trích dẫn hôm nay, thánh nhân đề cập đến mầu nhiệm Nhập Thể và hiệu quả mà mầu nhiệm này mang lại cho nhân loại.
 
1. Mầu nhiệm Nhập Thể nằm trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa:
 
Diễn ngữ: “Khi thời gian tới hầu viên mãn”, muốn nói rằng Thiên Chúa đã chuẩn bị dài lâu trong lịch sử dân Ngài cho biến cố Nhập Thể của Con Ngài để con người đủ khả năng đón nhận Tin Mừng Đức Giê-su loan báo và đón nhận dung mạo Thiên Chúa mà Đức Giê-su mặc khải.
 
2. Con Thiên Chúa làm người để con người trở nên con cái của Thiên Chúa:
 
Để cứu độ con người, Con Thiên Chúa đã thật sự chấp nhận kiếp sống phàm nhân, được sinh ra do một người phụ nữ, sống dưới Lề Luật và thật sự trở nên anh em của nhân loại, nhờ đó chúng ta trở thành đàn em của Ngài và là con cái Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”.
 
3. Ân ban được làm con cái của Thiên Chúa:
 
Qua bí tích Rửa Tội, chúng ta đã đón nhận Thần Khí của Chúa Ki-tô, nhờ đó chúng ta có thể trìu mến thân thưa với Thiên Chúa là Cha. Vì thế, đã là con cái Thiên Chúa, chúng ta không còn là những kẻ nô lệ, nhưng là những con người tự do và có quyền thừa kế.
 
TIN MỪNG (Lc 2: 16-21)
 
Đoạn Tin Mừng hôm nay, được trích từ “Tin Mừng về Thời Thơ Ấu của Chúa Giê-su” theo thánh Lu-ca, gồm có hai hoạt cảnh: “Các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi” (2: 16-20) và “Hài Nhi Giê-su chịu cắt bì và đặt tên” (2: 21)
 
1. Các mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi (2: 16-20)
 
Ngay khi được thiên sứ báo tin vui: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Ngài là Đấng Ki-tô Đức Chúa” và ban cho họ một dấu chỉ để nhận ra Ngài: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2: 10-12), các mục đồng cùng nhau lên đường ngay tức khắc. Thánh Lu-ca nêu bật thái độ tích cực của các mục đồng: Thiên Chúa đã cho một dấu chỉ, phải đi kiểm chứng tức khắc và cố tìm hiểu ý nghĩa dấu chỉ của Người. Thái độ của các mục đồng nói lên biết bao bài học. Vì thế, thánh ký đã tô điểm câu chuyện này với nhiều chi tiết long trọng: phản ứng của các mục đồng (2: 16-17, 20), phản ứng của những người nghe họ kể lại (2: 18) và cuối cùng là phản ứng của Đức Ma-ri-a (2: 19).
 
A- Phản ứng của các mục đồng (2: 16-17, 20)
 
Ngay khi được sứ thần báo tin, các mục đồng hối hả ra đi vì họ quá đổi vui mừng và nôn nóng mong gặp được Đấng Cứu Độ. Trước đây, thánh Lu-ca đã nhận xét rằng ngay sau biến cố Truyền Tin, Đức Mẹ cũng đã “vội vả ra đi” viếng thăm bà Ê-li-sa-bét (Lc 1: 39). Một tâm hồn đã cho Thiên Chúa bước vào cuộc đời mình thì hân hoan vui mừng vì Thiên Chúa đã viếng thăm mình và cuộc sống của mình đã được dung nạp một nguồn năng lực mới, như lời giải thích của thánh Giáo Phụ Am-rô-si-ô: “Không ai tìm kiếm Đức Ki-tô chỉ một nữa tấm lòng” (Expositio Evangelii sec. Lucam., in loc.).
 
Trong “Tin Mừng về Thơ Ấu của Chúa Giê-su”, thánh Lu-ca mô tả khung cảnh máng cỏ đến ba lần: lần thứ nhất, Đức Ma-ri-a “sinh con trai đầu lòng, lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ” (2: 7), lần thứ hai qua dấu chỉ mà sứ thần ban cho các mục đồng để nhận ra Ngài: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ”, (1: 10-12) và lần thứ ba, khi đến nơi, các mục đồng “gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. Những gì các mục đồng chứng kiến trong máng cỏ tương phản với phản ứng của họ vào lúc kết thúc hoạt cảnh này: “Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh chúc tụng Thiên Chúa” (1: 20).
 
Tương phản nầy tiên báo một tương phản khác: bên máng cỏ nầy được bao quanh bởi ánh sáng và lời hoan ca, ẩn hiện một bóng tối, bóng tối của núi Sọ; vì Ngôi Lời hóa thân làm người không phải là để một ngày kia bị tra tấn, bị nhục mạ, bị đóng đinh vào thập giá đó sao? Tuy nhiên, trong mạch văn, Đức Giê-su, Đấng Cứu Độ, tự đặt mình vào số những người nghèo, khiêm hạ và bé nhỏ này: dấu chỉ để nhận ra Ngài đó là “một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ”. Chiếc tã đầu đời để ủ ấm Ngài là chiếc khăn trùm đầu một nắng hai sương của Mẹ Ngài và chiếc nôi đầu đời để vỗ về giấc ngủ của Ngài là máng cỏ của bò lừa ăn, đó là dấu chỉ giúp cho những mục đồng nghèo khổ và bị khinh miệt này nhận ra được Đấng Cứu Thế đã đến: con trẻ sơ sinh này sẽ là Đấng sau này đón tiếp những kẻ tội lỗi và đồng bàn với họ (15: 2). Thiên Chúa đã ưu ái những người phận hèn bé mọn (x. Cn 3: 32).
 
Và sau khi đã kiểm chứng, các mục đồng “liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này” (2: 17). Họ là những chứng nhân đầu tiên về cuộc Giáng Sinh của Đấng Cứu Độ. “Các mục đồng không hài lòng tin vào biến cố hạnh phúc mà thiên sứ công bố cho họ và đầy kinh ngạc, họ đã chứng kiến tận mắt; họ đã bày tỏ niềm vui của mình không chỉ với Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se nhưng cho mọi người và, còn hơn nữa, họ cố gắng ghi khắc biến cố này trong tâm khảm của họ” (Photius, Ad Amphilochium, 155).
 
Ở nơi dáng dấp của các mục đồng, thành Lu-ca phác họa chân dung của những người Ki-tô hữu: “Họ liền hối hả ra đi”“vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt  thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (1: 20).
 
B- Phản ứng của những người nghe các mục động kể lại (2: 18)
 
Đấng Mê-si-a, được các ngôn sứ loan báo biết bao lần, được dân Ít-ra-en chờ đợi từ lâu lắm rồi, đã đi vào trong lịch sử con người một cách bất ngờ nhất và kín đáo nhất, vì thế, “nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên”. “Tại sao không kinh ngạc cho được, khi thấy trên cõi thế Đấng ở trên cõi trời, và đất và trời được hòa giải; khi thấy Hài Nhi khôn tả liên kết điều gì là trời – thần tính – và điều gì là đất – nhân tính – sáng tạo một giao ước kỳ diệu qua sự hiệp nhất này. Không chỉ họ kinh khiếp trước mầu nhiệm Nhập Thể, nhưng cũng trước lời chứng vĩ đại mà các mục đồng làm chứng, những người đã không thể bịa ra điều gì họ đã không nghe và công bố một cách hùng hồn sự thật” (Photius, Ad Amphilochium, 155).
 
Để nhận ra Ngài trong mầu nhiệm tự hạ này, phải có một tâm hồn nghèo khó, lột bỏ hết mọi thiên kiến. Thánh Lu-ca là thánh ký về đức nghèo khó. Những mục đồng là những kẻ bị khinh bỉ và liệt ra ngoài lề xã hội, những kẻ mà các tiến sĩ Luật nghi ngờ về đời sống đạo hạnh của họ, vì nghề nghiệp của họ không cho phép họ tuân giữ ngày sa-bát và tham dự thường xuyên kinh nguyện trong các hội đường. Chính ở nơi những tín đồ không ngoan đạo này mà lời loan báo đầu tiên về Triều Đại Mê-si-a được gởi đến. Chúng ta nhận ra cách thức của Thiên Chúa. Đức Giê-su sẽ hớn hở vui mừng và ngợi khen Cha Ngài “vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10: 21).
 
C- Phản ứng của Đức Ma-ri-a (2: 19)
 
Đây là một trong những ghi nhận quý giá về nhân cách của Đức Ma-ri-a: “Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (2: 19). Qua lời ghi nhận này, thánh Lu-ca vén mở cho chúng ta một trong những nguồn của sách Tin Mừng mang tên thánh ký. Thánh Lu-ca đã tô điểm chuyện tích Giáng Sinh với nhiều chi tiết thần linh, nhưng khởi đi từ những sự kiện mà thánh sử đã gìn giữ từ chính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng, để cố hiểu hơn nữa mầu nhiệm của Con Mẹ.
 
Lời ghi nhận này, được lập lại đến hai lần: ở đây và ở 2: 51, nói với chúng ta nhiều điều về Đức Mẹ. Với thái độ cung kính, Mẹ chiếm ngắm những điều kỳ diệu được hiện thực ở nơi cuộc Giáng Trần của Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ. Mẹ đã gẫm suy chúng, chiêm ngắm chúng và cất giữ chúng vào trong cõi thinh lặng của tấm lòng Mẹ. Mẹ là Bậc Thầy đích thật của cầu nguyện: “Đức Ma-ri-a sử dụng cả ba năng lực quan trọng của con người. Đức Ma-ri-a ghi nhớ tất cả những gì đã nghe, đó là ký ức. Đức Ma-ri-a suy nghĩ về các điều đó, tức là dùng lý trí. Đức Ma-ri-a suy nghĩ trong lòng, tức là dùng tình cảm, vì xúc động. Ký ức, lý trí, tình cảm đều được dùng để ứng xử với những gì đã nghe” (“Nước Suối Giữa Sa Mạc”, 84).
 
Nếu chúng ta noi gương Mẹ, nếu chúng ta gìn giữ và suy đi nghĩ lại trong lòng mình điều gì mà Đức Giê-su nói với chúng ta và điều gì Ngài làm trong chúng ta, chúng ta thật sự bước trên đường thánh thiện Ki-tô giáo và chúng ta sẽ không bao giờ thiếu đạo lý của Ngài và ân sủng của Ngài. Cũng vậy, bằng việc chiêm niệm theo cách thức này về giáo huấn Đức Giê-su đã cho chúng ta, chúng ta sẽ đạt được một sự hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm của Đức Ki-tô như Giáo Huấn của Công Đồng Va-ti-can II: “Thánh Truyền do các Tông Đồ truyền lại được tiến triển trong Giáo Hội dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Thật vậy, các sự việc và lời nói truyền lại được hiểu biết thấu đáo hơn, nhờ sự chiêm ngắm và học hỏi của các tín hữu, những người đã ghi nhận các điều đó trong lòng (x. Lc 2: 19 và 51); nhờ sự thông hiểu những điều thiêng liêng họ cảm nghiệm được, hoặc nhờ những việc giảng dạy của những người lãnh nhận một đoàn sủng chắc chắn về chân lý, do việc kế vị trong chức Giám Mục. Nói cách khác, qua bao thế kỷ Giáo Hội luôn hướng tới sự viên mãn của chân lý Thiên Chúa, cho đến khi lời Chúa được hoàn tất nơi chính Giáo Hội” (Vatican II, Dei Verbum, 8).
 
Vì thế, Công Đồng Va-ti-can II đã ca ngợi Đức Ma-ri-a vừa là Mẹ Thiên Chúa vì Chúa Giê-su là Con của Mẹ, vừa là Mẹ của Nhiệm Thể của Ngài, tức là Giáo Hội: “Thật vậy, khi sứ thần truyền tin, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và trong thân xác, và đã trao ban Đấng là sự sống ấy cho thế gian, nên được công nhận và tôn kính là Mẹ thật của Thiên Chúa và của Đấng Cứu Thế… Nhưng vì thuộc dòng dõi A-đam, nên Mẹ cũng liên kết với tất cả mọi người cần được cứu độ, hơn nữa, Mẹ ‘là Mẹ các chi thể (của Đức Ki-tô) vì đã cộng tác vào trong đức ái để sinh ra các tín hữu trong Giáo Hội là những chi thể của Đầu. Vì thế, Mẹ cũng được chào kính như chi thể trổi vượt và độc đáo nhất của Giáo Hội, như mẫu gương và gương sáng nổi bật cho Giáo Hội về đức tin và đức ái, và Giáo Hội Công Giáo, được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, tôn kính Mẹ với tình con thảo như người Mẹ rất dấu yêu” (LG 53).
 
2. Chúa Giê-su chịu cắt bì và đặt tên (2: 21)
 
Phép cắt bì là một nghi thức được Thiên Chúa thiết lập để xác định những ai thuộc về dân Chúa chọn. Người đã truyền lệnh cho ông Áp-ra-ham thiết định phép cắt bì như một dấu chỉ Giao Ước mà Người đã ký kết với ông và tất cả dòng dõi của ông (x. St 17: 10-14), khi quy định rằng con trẻ sẽ chịu phép cắt bì vào ngày thứ tám sau khi sinh. Nghi thức được thực hiện ở tại tư gia hay ở hội đường, kèm theo những kinh nguyện và việc đặt tên cho con trẻ. Vì đã chấp nhận kiếp sống của con người, Chúa Giê-su cũng sống dưới Lề Luật: “Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì” (2: 21). Với định chế Phép Rửa Ki-tô giáo, lệnh truyền cắt bì không còn được áp dụng nữa. Ở Công Đồng Giê-ru-sa-lem (x. Cv 15: 1tt.), các Tông Đồ dứt khoát công bố rằng những ai gia nhập Giáo Hội không cần phải chịu phép cắt bì. Thánh Phao-lô dạy cách minh nhiên rằng phép cắt bì không còn thích đáng trong bối cảnh của Giao Ước Mới được Đức Ki-tô thiết lập (Gl 5: 2tt.; 6: 12tt.; Cl 2: 11tt.).
 
Tên của Hài Nhi Giê-su có nghĩa “Đức Chúa cứu độ” hay “Đức Chúa là ơn cứu độ”, tức là, “Đấng Cứu Độ”. Tên này được ban cho Hài Nhi không như thành quả của bất cứ quyết định phàm nhân nào nhưng tuân theo lệnh truyền của Thiên Chúa mà sứ thần đã truyền đạt cho Đức Trinh Nữ và thánh Giu-se (x. Lc 1: 31; Mt 1: 21).
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 03/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/03/2017 

- Lent is a favourable season for deepening our spiritual life through fasting, prayer and almsgiving.
Mùa Chay là thời cơ thuận tiện để làm sâu sắc thêm đời sống thiêng liêng của chúng ta qua việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc từ thiện.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/03/2017 

- The word of God is alive and powerful, capable of bringing about the conversion of hearts.
Lời của Thiên Chúa là lời hằng sống và mãnh liệt, có khả năng thúc đẩy sự hoán cải trong tâm hồn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/03/2017 

- Let us remember our Christian brothers and sisters who are suffering persecution for their faith. May we be united with them.
Chúng ta hãy nhớ đến các anh chị em Kitô hữu của chúng ta đang bị bách hại vì đức tin. Chúng ta hãy hiệp nhất với họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/03/2017 

- Fasting is fruitful when accompanied by concrete expressions of love towards our neigbors, especially those in difficulty.
Việc ăn chay mang lại hoa trái khi kèm theo đó là những biểu hiện cụ thể tình yêu thương đối với người lân cận của chúng ta, đặc biệt những ai đang gặp khó khăn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/03/2017 

- May the certainty of faith be the engine of our lives.
Mong sao niềm xác tín trở thành động lực cho đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/03/2017 

- Even if we may be men and women of little faith, the Lord saves us. We must always have hope in the Lord!
Ngay cả khi chúng ta có đức tin non yếu, Chúa vẫn cứu chúng ta. Chúng ta hãy luôn đặt hy vọng vào Chúa!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/03/2017 

- It is vital that we sow the seeds of goodness in order to cultivate justice, foster accord, and sustain integration, without growing weary.
Chúng ta hãy cấp bách gieo vãi hạt giống điều thiện để vun trồng công lý, phát triển hòa giải, cổ vũ hội nhập, mà không biết mệt mỏi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/03/2017 

- May St Joseph, Spouse of Mary and Patron of the Universal Church, bless you and watch over you. And best wishes to fathers!
Nguyện xin Thánh Giuse, hôn phu của Mẹ Maria và là Đấng Bảo trợ của Giáo Hội Hoàn Vũ, chúc phúc và gìn giữ các bạn. Tôi gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến những người cha gia đình !

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/03/2017 

- I invite you not to build walls but bridges, to conquer evil with good, offence with forgiveness, to live in peace with everyone.
Tôi kêu mời các bạn xây những cây cầu thay vì những bức tường, lấy điều thiện chinh phục điều ác, tha thứ chinh phục lỗi lầm, để sống trong an hòa với mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/03/2017 

- Fasting means not only abstaining from food, but also from any unhealthy attachment, and especially sin.
Ăn chay không chỉ là kiêng thức ăn, nhưng còn phải lánh xa bất cứ điều gì không lành mạnh, đặc biệt là tội lỗi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/03/2017 

- The Church wishes to be close to each person with the love, compassion and consolation that come from Christ.
Giáo Hội mong ước gần gũi với mỗi người bằng tình yêu, lòng trắc ẩn và sự an ủi đến từ Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/03/2017 

- The word of God helps us to open our eyes to welcome and love life, especially when it is weak and vulnerable.
Lời Chúa giúp chúng ta mở mắt để đón nhận và yêu quý sự sống, đặc biệt khi đó là sinh linh yếu đuối và dễ bị tổn thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/03/2017 

- Let us pray for one another so that we may open our doors to the weak and poor.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để chúng ta biết mở cửa đón nhận người yếu đuối và nghèo khổ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/03/2017 

- May the Holy Spirit lead us on a true journey of conversion, so that we can rediscover the gift of God’s word.
Xin Chúa Thánh Linh dẫn dắt chúng ta trên con đường hoán cải đích thực, hầu chúng ta có thể tái khám phá ân ban của Lời Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/03/2017 

- Lent is the favourable season for renewing our encounter with Christ, living in his word, in the sacraments and in our neighbour.
Mùa Chay là mùa thuận tiện để làm mới lại sự gặp gỡ với Đức Kitô, để sống trong lời Ngài, trong các bí tích và người lân cận của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/03/2017 

- The road from love to hate is easy. The one from hate to love is more difficult, but brings peace.
Con đường từ yêu đến ghét thì dễ dàng. Con đường từ ghét đến yêu thì khó khăn hơn nhiều, nhưng nó mang lại sự an bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/03/2017 

- Let us strive to fast during Lent with a smile, rather than a long face.
Trong mùa Chay chúng ta hãy cố gắng ăn chay với nụ cười chứ không phải với khuôn mặt nhăn nhó.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/03/2017 

- I ask, please, for your prayers for me and my collaborators, who until Friday will be on retreat.
Xin các bạn vui lòng cầu nguyện cho tôi và các cộng sự của tôi sẽ dự tuần tĩnh tâm cho đến thứ Sáu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/03/2017 

- Jesus is the faithful friend who never abandons us. Even when we sin, he patiently awaits our return.
Đức Giêsu là người bạn thủy chung không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Kể cả khi chúng ta phạm tội, Ngài kiên nhẫn chờ đợi chúng ta quay về.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/03/2017 

- Lent urgently calls us to conversion. We are called to return to God with all our heart.
Mùa Chay khẩn thiết mời gọi chúng ta hoán cải. Chúng ta được mời gọi trở về với Thiên Chúa bằng tất cả con tim.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/03/2017 

- God is always faithful and never stops for a moment loving us, following our steps, and running after us when we have strayed from him.
Thiên Chúa luôn trung tín và không ngừng yêu thương ta, không ngừng theo bước chân ta và chạy theo ta khi ta lạc lối khỏi Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/03/2017 

- Lent is a new beginning, a path leading to the certain goal of Easter, Christ’s victory over death.
Mùa Chay là một cuộc khởi đầu mới, con đường dẫn đến mục tiêu xác định là Lễ Phục Sinh, sự chiến thắng của Đức Kitô trên cái chết.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/02/2017 

- Prayer is the key that opens God’s merciful heart.
Cầu nguyện là chìa khóa mở trái tim đầy lòng thương xót của Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/02/2017 

- When the journey is uncertain and you fall, God, rich in mercy, will extend his hand to pick you up.
Khi hành trình cuộc đời bị bấp bênh và bạn bị vấp ngã, Thiên Chúa giàu lòng thương xót sẽ giang tay đỡ bạn đứng lên.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/02/2017 

- I invite you to persevere in prayer, so that Jesus’ wish may be fulfilled: “that they may all be one”.
Tôi mời gọi các bạn kiên trì cầu nguyện ngõ hầu ao ước của Đức Giêsu trở thành hiện thực: “Xin cho tất cả chúng nên một”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/02/2017 

- Proclaiming to all the love and tenderness of Jesus, we become apostles of the joy of the Gospel. And joy is contagious!
Khi loan báo cho mọi người tình yêu và sự trìu mến của Thiên Chúa, chúng ta trở thành những tông đồ của niềm vui Tin Mừng. Và niềm vui thì dễ lây lan lắm!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/02/2017 

- The Christian heart is always full of joy. Always. Joy received as a gift and kept in order to be shared with everyone.
Trái tim người Kitô hữu luôn tràn ngập niềm vui. Luôn luôn! Niềm vui được lãnh nhận như là một quà tặng và được gìn giữ để chia sẻ với tất cả mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/02/2017 

- Do not underestimate the value of example, for it is more powerful than a thousand words, a thousand “likes”, retweets or YouTube videos.
Đừng coi thường giá trị của làm gương sáng, vì điều đó có sức mạnh hơn cả ngàn lời nói, ngàn “like”, retweets hay videos Youtube.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 03/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 53
  • Khách viếng thăm: 51
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 4801
  • Tháng hiện tại: 297874
  • Tổng lượt truy cập: 16522911