Banner giua trang

Lễ Chúa Kitô Vua. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ tư - 16/11/2016 18:30 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Vào Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ này, năm phụng vụ của Tin Mừng Lu-ca, Giáo Hội trích dẫn Tin Mừng Lu-ca để gợi lên dung mạo vương quyền của Đức Ki-tô.
LỄ CHÚA KI-TÔ VUA
 
Lễ Chúa Ki-tô Vua đã được Đức Pi-ô XI thiết lập, nhằm khẳng định niềm tin của Giáo Hội vào quyền tối thượng hoàn vũ của Chúa Ki-tô trên cá nhân, gia đình và xã hội. Trong Thông Điệp “Quas primas” được ban hành vào ngày 11 tháng 12 năm 1925, Đức Pi-ô XI lên án đặc biệt chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa này phủ nhận triệt để vương quyền của Chúa Ki-tô. Đức Giê-su không những là Thầy, là Anh, là Bạn mà còn là Vua của chúng ta nữa.  
 
2Sm 5: 1-3
 
Bài Đọc I gợi nhớ tổ tiên của Chúa Ki-tô là vua Đa-vít. Trước đó, Đa-vít đã được các chi tộc miền Nam tôn phong làm vua, bây giờ lại được các chi tộc miền Bắc tấn phong làm vua tại Khép-rôn. Như vậy, vua Đa-vít, tổ tiên của Đức Giê-su, đã thống nhất toàn thể dân Ít-ra-en và đã thiết lập vương quốc bình an thịnh trị. 
 
Cl 1: 12-20
 
Trong thư của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-lô-xê, chúng ta gặp thấy một bài thánh thi phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi, tôn vinh Chúa Ki-tô, Ngài là Chủ Tể của vũ trụ và là Thủ Lãnh của Giáo Hội. 
 
Lc 23: 35-43
 
Tin Mừng Lu-ca thuật lại tình tiết của người gian phi sám hối. Anh nhận ra ở nơi Đức Giê-su chịu đóng đinh là Người Công Chính thập toàn, Vua Thiên Quốc, Đấng đầy lòng thương xót, Ngài có quyền đưa các tội nhân vào trong Vương Quốc của Ngài.  
 
BÀI ĐỌC I (2Sm 5: 1-3)
 
Bản văn này đưa chúng ta trở lại bối cảnh của năm 1000 trước Công Nguyên. Trong thời gian dài, dân Ít-ra-en đã từ chối chọn cho mình một vị vua, vì cho rằng chỉ duy một mình Đức Chúa là vua của họ. 
 
1.Hoàn cảnh đòi buộc: 
 
Trong những giờ phút nguy kịch cần đến những hành động đúng lúc, các chi tộc chỉ định những vị đứng đầu tạm thời mà họ gọi các “Thủ Lãnh”. Nhưng trước mối nguy của quân Pha-lê-tinh càng lúc càng khẩn thiết và nghiêm trọng, toàn dân Ít-ra-en cảm thấy cần phải huy động mọi sức mạnh và phối hợp mọi thế lực. Ông Sa-mu-en, vị Thủ Lãnh cuối cùng đã xức dầu tấn phong vua Sa-un (vào năm 1030-1025 trước Công Nguyên). Nhưng vua Sa-un đã làm những điều trái mắt Đức Chúa. Ngôn sứ Sa-mu-en được Đức Chúa sai đi xức dầu tấn phong cậu bé Đa-vít, con trai út của ông Gie-sê, thay thế vua Sa-un. 
 
2.Đa-vít được tấn phong làm vua:
 
Kể từ khi còn ở dưới trướng của vua Sa-un, Đa-vít đã tỏ ra là một người có tài thao lược. Vả lại, tên “Đa-vít” có nghĩa “thủ lãnh”, “người chỉ huy”. Thuộc hạ của ông đã ca ngợi nhân cách của ông, lòng quảng đại của ông trong việc phân chia chiến lợi phẩm. Đồng thời, việc ông xuất thân từ làng Bết-lê-hem chiếm được cảm tình của các chi tộc miền Nam, họ đã tôn ông lên làm vua tại Khép-rôn (vào năm 1010 trước Công Nguyên).
 
Vào lúc đó, các chi tộc miền Bắc vẫn trung thành với nhà Sa-un. Nhưng những cuộc tránh chấp quyền hành và những cuộc trả thù đã dẫn đến việc ám sát vua Ít-bô-sét, con vua Sa-un. Vì thế, các chi tộc miền Bắc liên minh với vua Đa-vít. Đoạn trích hôm nay là chuyện tích về các chi tộc miền Bắc quy phục vua Đa-vít.
 
3.Sấm ngôn về vua Mê-si-a: 
 
Như vậy vua Đa-vít trở thành vua của toàn dân Ít-ra-en và cai trị một dân thống nhất; “vua Đa-vít lập giao ước” với toàn thể các chi tộc Ít-ra-en. Vua đã chiếm Giê-ru-sa-lem và thiết lập thành này làm thủ đô. Đa-vít là vị vua đầu tiên của thành thánh, thành này sẽ là biểu tượng nơi cư ngụ của Đức Chúa ở cõi thế.
Các ngôn sứ sẽ nêu bật nhân vật Đa-vít và sẽ loan báo rằng từ nhà Đa-vít sẽ sinh hạ vua Mê-si-a mà vương quốc của Ngài sẽ là vương quốc bình an và công chính. 
 
BÀI ĐỌC II (Cl 1: 12-20)
 
Đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-lô-xê này chứa đựng một bài thánh thi tôn vinh Đức Ki-tô, Chủ Tể của vũ trụ và Thủ Lãnh của Giáo Hội. 
 
1.Bối cảnh:
 
Thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-xê được viết trong khi thánh nhân bị giam cầm ở Rô-ma vào khoảng những năm 61 và 63. Trong thời gian này, thánh Phao-lô đã suy nghĩ sâu xa về Chúa Ki-tô, trên cùng một mức độ như người ta gặp thấy trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-xô, thư này thuộc cùng một thời kỳ. Nhưng bài thánh thi, trung tâm phát triển đạo lý của thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-xê, xem ra là một bản văn phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi, cũng như bài thánh thi được trích dẫn trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê. Trong trường hợp thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-xê này, bài thánh thi là câu trả lời tốt nhất cho những biện luận sai lạc được phổ biến trong khắp các giáo đoàn miền Phygia. Thánh nhân đã được báo cho biết những biện luận sai lạc này: chúng giảm thiểu vai trò của Chúa Ki-tô trong công trình tạo dựng cũng như công trình cứu độ, vì quá đề cao những quyền năng trung gian, nhất là các thiên sứ. 
 
Đoạn trích hôm nay gồm có hai phần: phần dẫn nhập (1: 12-14) và bài thánh thi (1: 15-20).
 
2.Phần dẫn nhập (1: 12-14):
 
A-Vương Quốc của Thánh Tử:
 
Phần dẫn nhập mở đầu với việc chúc tụng Chúa Cha. Ở phần dẫn nhập này, chúng ta gặp thấy lần duy nhất trong Tân Ước diễn ngữ “vương quốc Thánh Tử chí ái”. Các tác giả Tin Mừng nói về Vương Quốc Thiên Chúa hay Nước Trời, chứ không Vương Quốc Thánh Tử. Thật ra, trước quan Phi-la-tô, Đức Giê-su đã công bố mình là vua và Nước của Ngài không thuộc về thế gian này (Ga 18: 36). Ở đây, rõ ràng thánh Phao-lô ca ngợi vương quốc của Thánh Tử.
 
B-Cảm tạ Chúa Cha:
 
Chính luôn luôn với Chúa Cha mà thánh nhân dâng lên lời nguyện cầu của mình; và cũng chính luôn luôn về Chúa Cha mà thánh nhân quy chiếu nguyên lý cứu độ. Lời cầu nguyện của Giáo Hội cũng sẽ theo cùng một chuyển động như thế: cầu nguyện là hành vi cảm tạ Thiên Chúa, vì Đức Ki-tô và nhờ Đức Ki-tô. 
 
Rõ ràng thánh nhân đang mời gọi các Ki-tô hữu gốc lương dân, chắc chắn họ chiếm đa số trong Giáo Đoàn Cô-lô-xê, hãy cảm tạ Thiên Chúa, Đấng “đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của các thánh trong cõi đầy ánh sáng”. Ơn cứu thoát vốn là gia nghiệp được dành riêng cho dân Ít-ra-en xưa, nay Thiên Chúa cho dân ngoại cũng được dự phần vào (x. Cl 1: 11-13). Họ được dự phần vào nhờ phép Thánh Tẩy, tức là lìa bỏ mọi quyền lực tối tăm mà bước vào “trong cõi đầy ánh sáng”. 
 
Đoạn, thánh Phao-lô chuyển từ “anh em” sang “chúng ta”: “Người đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm”. Thánh nhân không tách mình ra khỏi cộng đoàn tín hữu. Không phải chính thánh nhân cũng đã được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được ánh sáng chói lòa của Đấng Phục Sinh quật ngã và chinh phục trên đường Đa-mát đấy sao?
 
C-Ơn Cứu Độ:
 
Sau cùng, lời ca ngợi cao cả nhất dâng lên Thiên Chúa: “Người đã đưa chúng ta vào vương quốc Thánh Tử chí ái; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi”. “Ơn cứu chuộc” không gì khác hơn là giải thoát khỏi cảnh đời nô lệ của tội lỗi, tức là ơn tha thứ tội lỗi, do sáng kiến của Chúa Cha, nhờ Thánh Tử.
 
Chúng ta lưu ý rằng ở đây thánh Phao-lô dùng thì quá khứ: “Người đã đưa chúng ta vào vương quốc Thánh Tử chí ái”. Đây là nét đặc trưng của các “thư trong tù” của thánh nhân. Ơn cứu độ là một thực tại đã được thực hiện rồi và đang thành tựu. Trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-xô, thánh nhân cũng nói như thế: “Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Giê-su Ki-tô trên cõi trời” (Ep 2: 6). Trong cảnh xiềng xích, thánh nhân đã chiêm ngắm mầu nhiệm; thánh nhân định lượng sự viên mãn của mầu nhiệm; thánh nhân chăm chú chiêm ngưỡng ơn cứu độ đã được thực hiện và đang đơm bông kết trái. Từ suy niệm, thánh nhân dẫn đưa chúng ta vào bài thánh thi tôn vinh Thánh Tử. 
 
3.Bài thánh thi (1: 15-20):
 
A-Quyền tối thượng của Đức Ki-tô trong công trình tạo dựng:
 
“Đức Giê-su Ki-tô là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, nắm quyền Trưởng Tử trên mọi loài thọ sinh, bởi chưng chính nhờ Người, Thiên Chúa đã tạo thành muôn vật trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình”. Những câu mở đầu này áp dụng cho Đức Ki-tô những từ ngữ ca ngợi tính ưu việt của Đức Khôn Ngoan, trong các bản văn trào lưu minh triết: “Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người” (Kn 7: 26). “Đức Chúa đã dựng nên ta như tác phẩm đầu tay của Người, trước mọi công trình của Người từ thời xa xưa nhất. Ta đã được tấn phong từ đời đời, từ nguyên thủy, trước khi có mặt đất… Đã có ta hiện diện khi Người thiết lập cõi trời… Khi người đặt nền móng cho đất, ta hiện diện bên Người như tay thợ cả…” (Cn 8: 22tt.).
 
“Chính nhờ Người, Thiên Chúa đã tạo thành muôn vật trên trời cũng dưới đất… Hết thảy đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người”, nghĩa là Đức Ki-tô vừa nguyên nhân tác thành vừa nguyên nhân cùng đích của vũ trụ. Thánh Gioan sẽ lấy lại những từ ngữ của thư gởi các tín hữu Cô-lô-xê này trong Tựa Ngôn của mình: “Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có chi tạo thành. Điều được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1: 3).
 
Chúng ta đừng nghĩ rằng viễn cảnh mang tính vũ trụ, nhưng mang tính thần học: Đức Ki-tô “thâu tóm” ở nơi Ngài toàn thể vũ trụ: “Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại và hiện hữu nhờ liên kết với Người”.
 
B-Quyền tối thượng của Đức Ki-tô trong trật tự siêu nhiên:
 
Nếu Đức Ki-tô là khởi nguyên công trình tạo dựng trong trật tự tự nhiên, thì Ngài không kém là khởi nguyên toàn bộ sự sống siêu nhiên. Ngài là đầu Giáo Hội, thân thể mầu nhiệm của Ngài. Ngài là “Trưởng Tử trên mọi loài thọ sinh” như thế nào, thì Ngài là người đầu tiên từ cõi chết sống lại như vậy, nghĩa là Ngài đã khai mạc sự sống vinh quang; Ngài là Chủ Tể đời sống mới này. Ngài là “khởi đầu và kết thúc, An-pha và Ô-mê-ga”, thánh Gioan sẽ nói trong sách Khải Huyền.
 
Chính Đức Ki-tô là tác giả của ơn cứu độ: “Nhờ máu Người đổ ra khi chết trên thập giá, Thiên Chúa đã làm hòa với mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời”. Song đối với sự hài hòa của vũ trụ là sự hài hòa của các tâm hồn mà việc tha thứ tội lỗi mang lại: sự bình an trong tâm hồn này là thành quả hy tế của Đức Ki-tô. 
 
Khi trích dẫn thánh thi ca ngợi tính ưu việt của Đức Ki-tô này, thánh Phao-lô đã thấy ở đây trước tiên một vũ khí chống lại những lời nói vớ vẩn của các triết gia Cô-lô-xê; nhưng đồng thời thánh nhân cũng đã gặp thấy ở đây diễn ngữ thần học, diễn tả sâu xa thần học của thánh nhân. Biến cố trên đường Đa-mát đã mặc khải cho thánh nhân tầm quan trọng hàng đầu của vai trò Đức Ki-tô. Con người Đức Ki-tô ngự trị trên quan điểm về ơn cứu độ, quan niệm về Giáo Hội, cũng như kinh nghiệm nội tâm của thánh nhân. Đức Ki-tô là tất cả trong mọi sự.
 
TIN MỪNG (Lc 23: 34-43)
 
Vào Chúa Nhật cuối cùng của Năm Phụng Vụ này, năm phụng vụ của Tin Mừng Lu-ca, Giáo Hội trích dẫn Tin Mừng Lu-ca để gợi lên dung mạo vương quyền của Đức Ki-tô. 
 
1.Bối cảnh:
 
Đức Giê-su bị đóng đinh, bị bêu xấu, đối tượng của những lời nhục mạ và chế nhạo. Ở đây, chúng ta có thể nhận ra Tv 22: 8: “Thấy con ai nấy cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mĩa mai”. Ở trên đầu Ngài, một tấm bảng ghi bản án: “Đây là vua người Do thái”. 
 
Thật ra, Tin Mừng Lu-ca bày tỏ thái độ thiện cảm của dân chúng đối với Đấng chịu đóng đinh. Họ không dự phần vào những lời nhục mạ; họ trầm ngâm đứng nhìn. Nhưng rồi một ánh sáng bất chợt lóe lên, những lời nói thốt lên trước khi mọi sự được hoàn tất. Đó là những lời nói phát xuất từ một trong hai tên gian phi chịu đóng đinh với Chúa Giê-su. Tình tiết này thuộc riêng thánh Lu-ca.
 
2.Lời khẩn nguyện của người gian phi sám hối:
 
Trong khi một trong hai tên gian phi cùng chịu đóng đinh với Ngài buông những lời phỉ báng mà hắn đã nghe các thủ lãnh Do thái nhục mạ Đức Giê-su, thì người gian phi kia mắng nó và công bố Ngài vô tội: ông này là người công chính, ông không làm điều gì xấu, ông không đáng phải chết như vậy; trái lại, chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm.
 
Ân sủng được ban ngay tức khắc cho người gian phi khiêm tốn này, anh xưng thú tội lỗi mà mình đã làm, và như thế mặc nhiên bày tỏ tâm tình sám hối của mình. Anh ta nhận ra Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a vương đế và lời cầu xin đầy tin tưởng của anh chứng tỏ anh tin chắc là mình được tha thứ: “Ông Giê-su ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. 
 
Thật hiếm khi Đức Giê-su được gọi đích danh như thế. Chắc chắn, ở đây có một ghi nhận mang tính thực tế: tiếng kêu của một tội nhân ngỏ lời với người cùng chịu chung cảnh cùng khốn với mình: “Xin nhớ đến tôi”. Đây là lời mở đầu kinh nguyện Do thái mà những người hấp hối ngỏ lời với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con”, “Xin nhớ đến giao ước của Ngài”, vân vân.
 
3.Lời đáp trả của Chúa Giê-su: 
 
Đức Giê-su trả lời anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Đây là lời khẳng định long trọng: “Tôi bảo thật anh” mà Lu-ca hiếm khi sử dụng. 
 
Tại Tin Mừng Lu-ca, “Hôm nay” là từ ngữ luôn luôn được kết nối với sự đăng quang của ơn cứu độ. Đó là “hôm nay” mà các thiên sứ đã loan báo ở Bết-lê-hem: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa” (2: 11); đó là “hôm nay” mà Chúa Cha đã công bố vào lúc Chúa Giê-su chịu phép rửa: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (3: 22); đó là “hôm nay” mà Chúa Giê-su đã tuyên bố ở hội đường Na-da-rét: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe” (4: 21), và cũng là “hôm nay” mà Ngài đã ngỏ lời với ông Da-kêu: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (19: 9).
 
Kể từ thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, niềm tin vào sự sống lại vào ngày tận thế ló dạng, Thiên Đàng biểu tượng nơi ở mà những người công chính mong chờ sau khi qua đời. Thuật ngữ này luân phiên với diễn ngữ “trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham” mà Lu-ca nêu lên trong dụ ngôn ông phú hộ và anh La-da-rô khốn cùng. Anh La-da-rô qua đời, được vui hưởng niềm hoan lạc trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham (16: 23).
 
4. “Anh sẽ được ở với tôi”:
 
Trong lời khẩn nguyện khiêm tốn, người gian phi sám hối phó thác tương lai của mình vào Đức Giê-su. Tương lai này được tóm gọn vào lời của Chúa Giê-su, lời này định nghĩa đức cậy Ki-tô giáo: “Anh sẽ được ở với tôi”. Niềm hoan lạc của Nước Trời hoàn toàn được thu tóm ở nơi lời hứa này về cuộc sống thân mật với Chúa. 
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 01/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/01/2017 

- We invoke Christian unity because we invoke Christ. We want to live unity: we want to follow Christ and to live in His love.
Chúng tôi tha thiết kêu gọi sự hiệp nhất các Kitô hữu vì chúng tôi dựa vào Chúa Kitô. Chúng tôi muốn sống hiệp nhất: Chúng tôi muốn bước theo Chúa Kitô và sống trong tình yêu của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/01/2017 

- From the intimacy of our faith in Jesus Christ comes our need to be united in Him.
Sự khắng khít của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô khiến chúng ta cần phải liên kết với Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/01/2017 

- Peace is an “active virtue”, one that calls for the engagement and cooperation of each individual and society as a whole.
Hòa bình là một “đức tính năng động”, đòi hỏi sự dấn thân và hợp tác của mỗi cá nhân và toàn xã hội.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/01/2017 

- There can never be true peace as long as a single human being is violated in his or her personal identity.
Không bao giờ có thể đạt đến hòa bình đích thực chừng nào còn có người bị xâm phạm bản sắc cá biệt của mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/01/2017 

- May the Holy Family watch over all child migrants and accompany the vulnerable and the voiceless on their journey.
Nguyện xin Thánh Gia Thất che chở tất cả các trẻ em nhập cư và đồng hành với những trẻ dễ bị tổn thương và không có tiếng nói trên đường đời của chúng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/01/2017 

- Unscrupulous exploitation harms young girls and boys who are trafficked and enslaved. May God bless all those who set them free.
Việc bóc lột vô đạo đức đang xâm hại các trẻ em bị bán làm nô lệ. Xin Chúa chúc phúc cho tất cả những ai giải thoát cho chúng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/01/2017 

- Children forced to flee, especially if fleeing alone, are most defenceless and vulnerable. Let’s pray for them and help them.
Các trẻ em bị buộc phải chạy trốn, nhất là chạy trốn một mình, đều không được bảo vệ và dễ tổn thương nhất. Chúng ta hãy cầu nguyện cho chúng và giúp đỡ chúng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/01/2017 

- Young migrants, especially when unaccompanied, are especially defenceless. Let everyone offer them a helping hand.
Những người di dân trẻ, nhất là những người đơn độc, thường dễ bị tổn thương. Mỗi người chúng ta hãy chìa tay ra giúp đỡ họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/01/2017 

- Everyone can help bring about a culture of mercy, in which no one looks at another with indifference.
Mỗi người đều có thể đóng góp vào nền văn hóa của lòng thương xót, trong đó không một ai nhìn người khác cách dửng dưng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/01/2017 

- My hope is that our countries and their peoples may find increased opportunities to work together in building true peace.
Tôi hy vọng rằng đất nước chúng ta và người dân sống trong đó có thể tìm thấy cơ hội hợp tác với nhau để xây dựng hòa bình đích thực.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/01/2017 

- There can be no true peace if everyone claims always and exclusively his or her own rights, without caring for the good of others.
Không thể có nền hòa bình đích thực nếu mỗi người cứ luôn khư khư đòi hỏi quyền lợi của riêng mình mà không quan tâm đến lợi ích của người khác.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/01/2017 

- Let us entrust the new year to Mary, Mother of God, so that peace and mercy may grow throughout the world.
Chúng ta hãy phó thác năm mới nơi Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, ngỏ hầu nền hòa bình và lòng thương xót được triển nở trên toàn thế giới.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 01/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 105
  • Khách viếng thăm: 75
  • Máy chủ tìm kiếm: 30
  • Hôm nay: 7698
  • Tháng hiện tại: 183990
  • Tổng lượt truy cập: 15852714