Banner giua trang

Chúa nhật Phục Sinh. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ hai - 21/03/2016 20:22 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật Phục Sinh tập trung vào biến cố Phục Sinh của Đức Giê-su, vì thế, bỏ qua Bài Đọc Cựu Ước quen thuộc để nhường chỗ cho Tân Ước. Sau khi Đức Giê-su đã hoàn tất Kinh Thánh, Giáo Hội không còn lý do gì ...
CHÚA NHẬT PHỤC SINH

 
      Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật Phục Sinh tập trung vào biến cố Phục Sinh của Đức Giê-su, vì thế, bỏ qua Bài Đọc Cựu Ước quen thuộc để nhường chỗ cho Tân Ước. Sau khi Đức Giê-su đã hoàn tất Kinh Thánh, Giáo Hội không còn lý do gì quan tâm đến những bản văn tiên báo. Khởi đi từ Phục Sinh cho đến lễ Ngũ Tuần, Bài Đọc I được trích dẫn từ sách Công Vụ Tông Đồ. Đây là một truyền thống xa xưa lên đến tận thế kỷ thứ tư.
 
      Cv 10: 34a, 37-43
 
      Đoạn sách Công Vụ nhắc chúng ta biết rằng đức tin của chúng ta vào Đức Ki-tô Phục Sinh dựa trên lời chứng của các Tông Đồ. Chính lời chứng của thánh Phê-rô, vị lãnh đạo của Giáo Hội, được nêu bật  trong đoạn sách Công Vụ nầy.
 
      Cl 3: 1-4
 
      Đoạn trích thư gởi tín hữu Cô-lô-xê dẫn đưa chúng ta vào trung tâm mầu nhiệm Phục Sinh, mở ra cho chúng ta những chiều kích thần học của biến cố này.
 
      Ga 20: 1-9
 
      Sau cùng, Tin Mừng tường thuật cho chúng ta một câu chuyện sống động nhất và chính xác nhất về cuộc khám phá ngôi mộ trống, khởi điểm đức tin của các Tông Đồ vào biến cố Phục Sinh.
 
BÀI ĐỌC I (Cv 10: 34a, 37-43)
 
Sách Công Vụ được giới thiệu như phần tiếp theo của Tin Mừng Thứ Ba: cùng một tác giả: thánh Lu-ca, và cùng một người nhận: ông Thê-ô-phi-lô, một Ki-tô hữu trí thức thuộc tầng lớp thượng lưu, nhưng cũng có thể là một nhân vật hư cấu biểu tượng “người Chúa yêu” mà bất kỳ tên người Ki-tô hữu nào được điền vào đây.
 
Thánh Lu-ca mang nỗi bận lòng của một sử gia: “tra cứu đầu đuôi mọi sự”. Trong sách Tin Mừng của mình, thánh ký đã quan tâm đến cuộc đời thơ ấu của Đức Giê-su; trong sách Công Vụ Tông Đồ, thánh ký tường thuật cuộc đời thơ ấu của Giáo Hội. Trong phần thứ nhất của sách Công Vụ Tông Đồ, thánh Lu-ca nêu bật nhân cách của thánh Phê-rô, trong phần thứ hai là dung mạo của thánh Phao-lô.
 
 Thánh Lu-ca nhiều lần nhấn mạnh các Tông Đồ đã mạnh mẽ làm chứng về biến cố Phục Sinh như thế nào. Diễn từ của thánh Phê-rô tại nhà ông Co-nê-li-ô, viên đại đội trưởng người Rô-ma, cung cấp một ví dụ. Đó là lý do chọn lựa đoạn trích nầy vào Chúa Nhật Phục Sinh nầy.
 
1. Cuộc kinh lý mục vụ của thánh Phê-rô:
 
Vị lãnh đạo Giáo Hội đang thực hiện một cuộc “kinh lý mục vụ”. Sau cuộc bách hại giáng xuống cộng đoàn Ki-tô hữu Giê-ru-sa-lem non trẻ vào năm 36 (năm mà thánh Tê-pha-nô được phúc tử đạo), thời kỳ lắng dịu đã xảy đến. Thánh Phê-rô lợi dụng thời kỳ tạm yên nầy để viếng thăm những giáo đoàn vừa mới được thành lập. Sách Công Vụ nói với chúng ta, “thánh Phê-rô rảo khắp nơi” (Cv 9: 32). Chính như vậy thánh nhân đến miền duyên hải mà vừa mới đây “phó tế” Phi-líp-phê đã mang Tin Mừng đến đó.
 
2. Thánh Phê-rô lần đầu tiên đến nhà một người ngoại giáo:
 
Trong khi thánh Phê-rô đang ở nhà tại Gia-phô thì một viên đại đội trưởng người Rô-ma đồn trú ở Xê-da-rê cách đó khoảng năm mươi cây số, sai người đến mời thánh nhân đến nhà ông. Viên đại đội trưởng là một cảm tình viên của Do thái giáo, trong số những người được gọi “những người kính sợ Thiên Chúa”. Sách Công Vụ nói với chúng ta ông là người đạo đức và rộng tay bố thí.
 
Thánh Phê-rô đến nhà ông. Đây là lần đầu tiên thánh nhân bước vào nhà một người không chịu phép cắt bì, bất chấp những cấm kỵ lâu đời. Lệnh cấm tiếp xúc với những người không chịu phép cắt bì không được phát biểu trong Lề Luật, lệnh cấm nầy phát xuất từ tập quán và lời giải thích của các kinh sư. Lý do đầu tiên chính là để tránh tất cả tiêm nhiễm ngoại giáo, nhưng dần dần lệnh cấm nầy phổ biến và tuân giữ nghiêm nhặt. Lần đầu tiên thánh nhân mang sứ điệp Tin Mừng đến một người lương dân và tất cả gia quyến của ông. Đây thực sự là một kinh nghiệm chấn động.
 
3. Bài diễn từ của thánh Phê-rô:
 
Bài diễn từ của thánh Phê-rô là một bản tóm tắt Tin Mừng, nhưng không cùng chung những điểm nhấn như những bài diễn từ mà thánh nhân đã công bố ở Giê-ru-sa-lem, ở đó thánh Tông Đồ đã minh chứng cho người Do thái thấy rằng Đức Giê-su đã thực hiện những lời hứa Kinh Thánh và Ngài là Đấng Mê-si-a. Ở Xê-da-rê, ngỏ lời với một cử tọa lương dân, thánh Phê-rô nhấn mạnh phẩm chất “chứng nhân” của mình: chính thánh nhân và các vị Tông Đồ khác đã là những “chứng nhân” về những hành động của của Đức Giê-su người Na-da-rét, “chứng nhân” về cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài, và nhất là “chứng nhân” về cuộc Phục Sinh của Ngài. Có một ít người được diễm phúc gặp gỡ Đức Giê-su Phục Sinh và sống thân mật với Ngài. Thánh nhân là một trong số những người “đã được cùng ăn cùng uống với Ngài sau khi Ngài đã từ cõi chết sống lại”. Đấng Phục Sinh đã ủy nhiệm họ làm chứng rằng Thiên Chúa đã đặt Ngài làm Thẩm Phán để xét xử cả người sống lẫn kẻ chết. Đối với những người có ý định gia nhập Hội Thánh và đón nhận phép Rửa, thánh nhân tế nhị nói thêm rằng vị Thẩm Phán nầy cũng là Đấng tha tội. Thánh nhân trích dẫn Kinh Thánh để nhấn mạnh rằng đó là lời loan báo của các ngôn sứ: “Phàm ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội”.
 
Giáo Hội đặt nền tảng đức tin của mình vào biến cố Phục Sinh dựa trên lời chứng của các Tông Đồ. Giáo Hội xem lời chứng nầy dứt khoát đến nổi Giáo Hội đã không bao giờ cảm thấy cần phải đặt biến cố Phục Sinh như một tín điều. Sự kiện hiển nhiên buộc phải nhận như thế; nền tảng quá vững chắc: những chứng nhân đã “thấy”“đã sống” với Đức Ki-tô phục sinh.
 
BÀI ĐỌC II (Cl 3: 1-4)
 
Thánh Phao-lô viết thư gởi các tín hữu Cô-lô-sê này trong khi bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-62. Trong đoạn trích thư này, thánh nhân đưa ra cho chúng ta chiều kích thần học về sự Phục Sinh một cách sâu xa.
 
1. Lập luận của thánh Phao-lô:
 
Thánh Phao-lô là nhân chứng của Đức Ki-tô Phục Sinh. Đấng Phục Sinh đã nắm bắt thánh nhân trên đường Đa-mát, đã tỏ mình ra cho thánh nhân trong ánh sáng chói lòa, đã cho thánh nhân những lời dạy của Ngài và trao phó sứ mạng cho thánh nhân.
 
Lập luận của thánh Phao-lô xem ra có vẻ mâu thuẫn: trước hết, thánh nhân nói: “Anh em đã được phục sinh cùng với Đức Kitô”, đoạn tiếp đó: “Anh em đã chết cùng với Đức Kitô” (tức là chết cho tội lỗi). Thật ra, đây là một trong những phương thức của thánh Phao-lô: trước tiên thánh nhân đề cao thực tại tinh thần; từ đó, cho thấy những hậu quả “luân lý” đòi buộc cách ăn nếp ở của chúng ta; tiếp đến, những hậu quả “hữu thể”, tức là những hậu quả ghi dấu ấn trên bản thân của chúng ta.
 
2. Người Ki-tô hữu:
 
Như trường hợp ở đây. Thánh Phao-lô định nghĩa người Kitô hữu là người, nhờ bí tích Thánh Tẩy và cuộc sống bí tích, dự phần vào sự Phục Sinh của Đức Ki-tô, vì thế, họ được sống lại rồi. Trong thư gởi các tín hữu Ê-phê-xô, thánh nhân diễn tả thực tại nầy còn bạo dạn hơn nữa, khi thánh nhân dùng thì quá khứ: “Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Giê-su Ki-tô trên cõi trời” (Ep 2: 6).
 
Vì thế, từ hoàn cảnh tinh thần này của người Ki-tô hữu, thánh Phao-lô nhấn mạnh trước tiên những hậu quả luân lý: cần thiết phải nghĩ đến những gì thuộc thiên giới. Tiếp đó, thánh nhân nói đến những hậu quả hữu thể: được sống lại rồi, tức là đã chết cho tội lỗi, đó là được biến đổi tận bên trong. Bên ngoài không có gì thay đổi, nhưng một năng lực thần linh ẩn kín ở bên trong người Ki-tô hữu, mà ánh sáng rực rỡ của nó sẽ chỉ được tỏ rạng một cách viên mãn vào ngày chung cuộc. Ý tưởng rất thân thiết đối với thánh Phao-lô: sống theo Đức Ki-tô đảm bảo vinh quang tương lai của chúng ta, chúng ta chắc chắn có được những bảo chứng về vinh quang của chúng ta rồi.
 
TIN MỪNG (Ga 20: 1-9)
 
Niềm xác tín của các Tông Đồ vào biến cố Phục Sinh của Đức Ki-tô đặt nền tảng trên hai kinh nghiệm. Chúng ta có thể nói rằng niềm xác tín nầy đã hình thành nên hai giai đoạn. Trước hết, việc “phát hiện ngôi mộ trống” là mặc khải gây kinh ngạc đầu tiên, chúng ta dám nói kinh nghiệm về sự “trống rỗng”, kinh nghiệm nầy đã mở mắt của họ sáng ra và đã khai lòng mở trí của họ để hiểu Kinh Thánh. Tiếp đó, vào cũng một ngày hôm ấy, “những lần Đức Giê-su hiện ra” đem đến những bằng chứng khả giác về một người đang sống, tuy nhiên, các môn đệ không thể nào hiểu thấu được mầu nhiệm tôn vinh của Ngài. Nhưng thân xác của Đấng Phục Sinh rõ ràng là thân xác đã biến mất khỏi ngôi mộ, thân xác vẫn in dấu những vết thương tử nạn của Ngài. Vì thế, đây không là một bóng ma, cũng không thân xác giả mạo. Hai kinh nghiệm củng cố cho nhau, bổ túc lẫn nhau. Các Tông Đồ làm chứng về niềm xác tín tuyệt đối nầy cho đến phải hy sinh mạng sống của mình.
 
1. Ngày thứ nhất trong tuần:
 
Tin Mừng Gioan cho chúng ta một bài trình thuật sống động và chính xác về cuộc phát hiện ngôi mộ trống, bài trình thuật của một “chứng nhân nhãn tiền”. Như thường hằng trong Tin Mừng Gioan, những chi tiết mặc khải những ý nghĩa sâu xa.
 
Ngày sa-bát đã chấm dứt vào buổi chiều hôm qua, ngày thứ nhất trong tuần đã khởi sự, ngày thứ nhất nầy sẽ là Ngày Chúa Nhật của chúng ta, “Ngày của Chúa”, chính xác vì đó là ngày của biến cố Phục Sinh.
 
2. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la:
 
Thánh Gioan nói: “Sáng sớm, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ”. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la là một trong số các người phụ nữ đã cũng đi với Đức Giê-su và nhóm Mười Hai trong những cuộc hành trình truyền giáo của Ngài khắp miền Ga-li-lê (Lc 8: 1-3); “các bà đã chứng kiến” cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giê-su (Lc 23: 49); các bà cùng với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, kiên vững bên thập giá vào những giây phút sau cùng của Đức Giê-su (Ga 19: 25); và “các bà đã đế ý nhìn ngôi mộ và xem xác Ngài được đặt như thế nào” (Lc 23: 55). Bây giờ, sau ngày hưu lễ, các bà đi viếng mộ. Tin Mừng chỉ cho thấy rằng các bà đến mộ “lúc trời còn tối”: tình yêu và niềm tôn kính của bà thúc đẩy bước chân dạn dĩ của bà ra đi không trì hoãn để được ở bên cạnh thi thể của Chúa chúng ta.
 
Ở đây, thánh Gioan chỉ nêu đích danh bà Ma-ri-a Mác-đa-la; tuy nhiên, theo chính bản văn nói với chúng ta còn có các người phụ nữ khác cùng đi với bà, vì bà Ma-ri-a Mác-đa-la nói: “Chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (20: 2). Thật ra, thánh Mát-thêu nêu tên hai người phụ nữ: bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cùng tên là Ma-ri-a (Mt 28 : 1); còn thánh Mác-cô lại kể ra ba người phụ nữ: bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a, mẹ của ông Gia-cô-bê, và bà Sa-lô-mê (Mc 16 : 1), riêng thánh Lu-ca còn kể ra nhiều người phụ nữ hơn nữa (Lc 24 : 1). Nhưng trong số những người phụ nữ đó, bà Ma-ri-a Mác-đa-la luôn luôn được nêu đích danh đầu tiên.
 
Tại sao chỉ một mình bà Ma-ri-a Mác-đa-la được nêu đích danh ở đây? Chắc chắn vì trong số những thánh nữ trung tín này, kỷ niệm của bà nổi bật nhất (thánh Gioan biên soạn Tin Mừng của mình với một hồi tưởng nào đó). Bà là người được diễm phúc chứng kiến cuộc hiện ra đầu tiên trong số những lần hiện ra của Đấng Phục Sinh được các sách Tin Mừng tường thuật, và bà cũng là người đầu tiên được Đấng Phục Sinh sai đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các Tông Đồ; vì thế, chẳng lạ gì truyền thống Giáo Hội gọi bà là “Tông Đồ của các Tông Đồ”, theo kiểu nói tuyệt đối của người Do thái, nghĩa là bà là "người được sai đi tuyệt hảo".
 
3. Thánh Phê-rô và thánh Gioan:
 
Khi bà Ma-ri-a Mác-đa-la báo tin cho thánh Phê-rô và thánh Gioan, lúc đó, có thể cả hai ông đang tá túc dưới một mái nhà. Hai ông thường được nêu tên cùng nhau và hoạt động cùng nhau (Cv 3: 1-11; 4: 1-22). Cả hai ông đều đã là nhân chứng của cuộc Biến Hình, chắc chắn kinh nghiệm nầy giúp hai ông hiểu biến cố mà hai ông trải qua vào buổi sáng nầy.
 
Thánh Phê-rô lớn tuổi hơn, vì thế thánh nhân không thể chạy theo kịp sức trẻ của thánh Gioan. Thánh Gioan đến mộ trước nhưng chỉ đứng bên ngoài mà liếc nhìn vào bên trong ngôi mộ. Để tỏ lòng kính trọng người lớn tuổi, thánh Gioan đứng đợi và nhường cho thánh Phê-rô vào mộ trước tiên. Ở nơi sự kiện này, thánh ký hàm ý rằng thánh Gioan nhận ra quyền lãnh đạo của thánh Phê-rô. Thật ra, theo Tin Mừng Gioan, quyền lãnh đạo của thánh Phê-rô đối với các Tông Đồ và toàn thể Giáo Hội sẽ được công bố chỉ sau khi Đấng Phục Sinh gặp gỡ các ông bên bờ hồ Ti-bê-ri-a vào bữa ăn mà chính Ngài đã dọn sẵn cho các ông trong sương mờ sáng sớm (Ga 21: 15-17), tuy nhiên đã được hàm chứa rồi ở nơi cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Chúa Giê-su và thánh Phê-rô khi Ngài long trọng đổi tên: “Anh là Si-mon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kê-pha, tức là Phê-rô” (Ga 1: 42) và ở nơi sự kiện trước ngôi mộ này.
 
Như vậy, cả hai người đều cùng thấy hiện trường. Chi tiết này có một tầm quan trọng đặc biệt, vì đối với luật Do thái, một sự kiện chỉ được chứng thực nếu có tối thiểu hai nhân chứng. Trước đây, Đức Giê-su đã nhắc lại điều nầy cho những người Biệt Phái: “Trong Lề Luật của các ông, có chép rằng lời chứng của hai người là chứng thật” (Ga 8: 17). Ngoài ra, theo luật, lời chứng của những người phụ nữ thì không có giá trị.
 
4. Những băng vải và khăn che đầu được cuốn lại và xếp riêng một nơi.
 
Một mặt, hai ông không chỉ chứng kiến ngôi mộ trống, nhưng còn thấy những băng vải liệm và khăn che đầu được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Cảnh tượng này được lập lại đến hai lần (20: 5 và 6-7) đánh động sâu xa hai vị Tông Đồ. Nếu thi thể bị đánh cắp, băng vải liệm và khăn che đầu có lẽ đã bị vất bừa bãi rồi. Thế mà, tất cả đều được xếp gọn gàng ngăn nắp. Mặt khác, làm thế nào không nghĩ đến việc La-da-rô được sống lại bước ra khỏi mồ, “chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (Ga 11: 44)? Đức Giê-su hoàn toàn tự do, không còn bị những băng vải liệm buộc chặt thân thể của Ngài, biểu tượng xích xiềng của tử thần. Như vậy, La-da-rô dù được sống lại nhưng vẫn còn nằm trong vòng cương tỏa của tử thần nên rồi sẽ phải chết một lần nữa, trong khi tử thần từ nay không có quyền hành gì trên Chúa Giê-su nữa: Ngài đã vĩnh viễn đánh bại tử thần. Chắc chắn, thánh Gioan đã hiểu dấu chỉ nầy và xao động đến mức thánh nhân đã phải thốt lên: “Tôi đã thấy và đã tin”. Rõ ràng lời tuyên xưng này diễn đạt quá trình từ “thấy” đến “gắn bó trọn vẹn” với Đấng Phục Sinh.
 
Ánh sáng niềm tin bừng lên trong lòng “người môn đệ Chúa yêu” nầy trước ngôi mộ trống cùng với những băng vải liệm và khăn che đầu được cuốn lại gọn gàng và xếp riêng ra một nơi. Dù trước đây niềm tin của thánh nhân đã bị chao đảo trước những biến cố đau thương của Thầy, tình yêu của thánh nhân đã không hề suy giảm như thánh nhân đã cho thấy khi bước theo từng bước chân của Thầy lên đến tận đỉnh đồi Sọ và chứng kiến giây phút đau thương sau cùng của Thầy. Chính độ nhạy bén của tình yêu này giờ đây dẫn đưa thánh nhân đến niềm tin vào sự Phục Sinh của Thầy ngay tức khắc. Cũng chính độ nhạy bén của tình yêu này mà vài ngày sau đó cũng chính thánh nhân sẽ là người đầu tiên nhận ra Thầy mình trên bờ hồ Ti-bê-ri-a trong sương mờ buổi sớm (21: 4, 7). Người môn đệ được yêu và đang yêu này chỉ thấy cái tối thiểu, tuy nhiên lại tin cái tối đa. Độ nhạy bén của con tim hỗ trợ cho thánh nhân rất nhiều để hiểu biết con người và sự vật. Quả thật, nhà tư tưởng Pascal đã nói: “Con tim có lý lẽ của nó mà lý trí không sao hiểu được”.
 
5. Theo lời Kinh Thánh.
 
Nhờ độ nhạy bén của con tim, người môn đệ Chúa yêu đạt đến niềm tin; tuy nhiên, ông cũng cần đến ánh sáng của lý trí: “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Ki-tô phải chỗi dậy từ cõi chết”. Lời này ám chỉ đến tiến trình các môn đệ hậu phục sinh giải thích biến cố Phục Sinh của Chúa Ki-tô nhờ ánh sáng Cựu Ước (Ga 2: 17, 22; 12: 16). Hơn nữa, Chúa Thánh Thần, Đấng khai lòng mở trí của họ để hiểu nội dung Kinh Thánh, chưa được ban cho (x. Ga 14: 26; Lc 24: 45).
 
Các bản văn Kinh Thánh lại hiện ra trong tâm trí hai ông. Người ta có thể phỏng đoán rằng họ nghĩ đến Thánh Vịnh 16, vì vài tuần sau đó, chính Thánh Vịnh nầy mà thánh Phê-rô sẽ trích dẫn cho đám đông ở Giê-ru-sa-lem để đưa ra những khẳng định của mình liên quan đến biến cố Phục Sinh (Cv 2 : 24-31). Quả thật, chúng ta đọc trong Thánh Vịnh 16 những hàng nầy : “Thân xác con cũng nghĩ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành để mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung nầy hư nát trong phần mộ”. Vì thế, truyền thống đã áp dụng Thánh Vịnh này vào Đấng Mê-si-a.
 
Như vậy, hai vị Tông Đồ rời khỏi ngôi mộ với hai niềm xác tín: trước hết, chứng thực những điều các ông đã chứng kiến; sau nữa, khẳng định những lời Kinh Thánh loan báo. 
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 05/2018


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/5/2018 

- The mystery of the Blessed Trinity invites us to live in commUNI0N with one another, in love and in sharing: certain that wherever there is love, there is God.
Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mời gọi chúng ta sống hiệp thông với nhau, trong tình yêu và chia sẻ: chắc chắn ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/5/2018 

- The Gospel calls us to live outside our comfort zone, because anyone who follows Jesus, loves the poor and the lowly.
Tin mừng mời gọi chúng ta sống khó nghèo, vì bất cứ ai theo Chúa Giêsu đều yêu mến người nghèo khổ và bé mọn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/5/2018 

- Love of God and love of neighbour should be the two cornerstones of our lives.
Tình yêu Chúa và tình yêu tha nhân là hai viên đá góc của đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/5/2018 

- Today we are united in prayer with our Catholic brothers and sisters in China, on the Feast of Our Lady Help of Christians of Sheshan.
Hôm nay chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện cho anh chị em Công giáo ở Trung Quốc, nhân ngày lễ kính Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu ở Sheshan.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/5/2018 

- A Church that loves the poor is always tuned to the God Channel. It never loses the Gospel signal.
Một Giáo Hội yêu thương người nghèo thì luôn được điều hướng trong kênh sóng của Thiên Chúa, không bao giờ lệch ra khỏi tần số của Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/5/2018 

- A Christian’s life should be invested in Jesus, and spent for others.
Đời sống của Kitô hữu cần được đầu tư nơi Đức Giêsu và chi ra cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/5/2018 

- God needs people who bring His forgiveness and His mercy into the world.
Thiên Chúa cần những con người mang đến cho thế giới sự tha thứ và lòng thương xót của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/5/2018 

- Holy Spirit, you who sustain the Church, come down upon us again, teach us unity, renew our hearts, and help us to love as Jesus taught us.
Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn dắt Giáo Hội, xin lại ngự xuống trên chúng con, dạy chúng con biết hiệp nhất, đổi mới tâm can và giúp chúng con biết yêu thương như Chúa Giêsu đã dạy.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/5/2018 

- Mary lived Jesus’ Beatitudes like no other: she is saintly among the saints, she shows us the way to holiness and accompanies us.
Mẹ Maria đã sống không có gì khác ngoài Tám Mối Phúc của Chúa Giêsu: Mẹ là Đấng thánh giữa các thánh, Mẹ chỉ cho chúng ta con đường nên thánh và đồng hành với chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/5/2018 

- There is no love without works of charity. Service towards our brothers and sisters springs from the heart that loves.
Không có tình yêu nào mà không đi kèm việc bác ái. Việc phục vụ anh chị em chúng ta nảy sinh từ trái tim yêu thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/5/2018 

- The Family is the hope of the future. Let us pray especially for families facing serious difficulties: may Our Lord assist them.
Gia đình là niềm hy vọng của tương lai. Chúng ta hãy cầu nguyện cách đặc biệt cho những gia đình đang gặp phải những khó khăn nghiêm trọng: xin Chúa nâng đỡ họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/5/2018 

- There is no freedom greater than letting yourself be guided by the Holy Spirit and allowing Him to lead you wherever he wishes.
Không có sự tự do nào lớn hơn là để Chúa Thánh Thần hướng dẫn và để Ngài dẫn đưa ta đến bất cứ nơi đâu mà Ngài muốn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/5/2018 

- I invite communications professionals to promote a journalism of peace at the service of all people, especially those without a voice.
Tôi mời gọi các chuyên gia truyền thông thúc đẩy một nền báo chí vì hòa bình để phục vụ tất cả mọi người, nhất là những người không có tiếng nói.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/5/2018 

- Our Lady of Fatima, turn your gaze towards us, towards our families, our country, and the world.
Lạy Mẹ Fatima, xin đoái nhìn đến chúng con, gia đình chúng con, quê hương chúng con và toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/5/2018 

- Your response to Jesus cannot be conditioned by momentary calculations and convenience. It must be a life-long “yes”.
Sự đáp trả của bạn đối với Đức Giêsu không thể bị giới hạn bởi những tính toán và quy tắc nhất thời. Đó phải là lời thưa “xin vâng” suốt cuộc đời.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/5/2018 

- The Ascension of the Risen Jesus contains the promise that we too will participate in the fullness of life with God.
Đức Giêsu phục sinh lên trời chứa đựng lời hứa cho chúng ta được tham dự vào sự viên mãn của đời sống bên Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/5/2018 

- We are Christians to the extent that we allow Jesus Christ to live in us.
Chúng ta chỉ là Kitô hữu khi chúng ta để Chúa Giêsu Kitô sống trong chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/5/2018 

- Our Lady Queen of the Rosary, pray that Jesus may have mercy on us sinners.
Lạy Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, xin cầu cùng Chúa Giêsu thương xót chúng con là những tội nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/5/2018 

- Convert our hearts, Lord, so that love may spread here on earth.
Lạy Chúa xin hãy hoán cải trái tim chúng con, để đức ái được triển nở trên toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/5/2018 

- How wonderful to be “envoys of hope”, simple and joyful messengers of the Easter acclamation.
Đẹp thay những “người mang hy vọng”, các sứ giả đơn sơ và vui vẻ của tán tụng ca Phục sinh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/5/2018 

- Joyfully performing works of charity for those who are suffering in mind and body, is the most authentic way to live the Gospel.
Vui vẻ thực hiện việc bác ái cho những ai đang đau khổ tinh thần và thể lý là phương thế xác thực nhất để sống Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/5/2018 

- In the Cross, Jesus showed us the greatness of His love and the power of His mercy.
Trên thập giá, Chúa Giêsu cho ta thấy sự cao cả của tình yêu Ngài và quyền năng của lòng thương xót của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/5/2018 

- Praying means being with God, experiencing God, loving God.
Cầu nguyện là ở với Chúa, cảm nghiệm Chúa, yêu mến Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/5/2018 

- Today, at the Sanctuary of Our Lady of Divine Love, as we recite the Rosary, we pray especially for peace in Syria and throughout the world. I invite you to pray the Rosary for peace during the entire month of May.
Hôm nay tại Đền thánh Đức Bà Tình Yêu Thiên Chúa, chúng ta lần chuỗi để cầu nguyện đặc biệt cho hòa bình Syria và cho toàn thế giới. Tôi mời gọi anh chị em lần chuỗi cầu nguyện cho hòa bình trong suốt tháng 5 này.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/4/2018 

- Do we really want peace? Then let’s ban all weapons so we don’t have to live in fear of war.
Chúng ta có thực sự mong muốn hòa bình? Vậy hãy từ bỏ vũ khí để không phải sống trong nỗi lo sợ chiến tranh.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 05/2018

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 74
  • Hôm nay: 15511
  • Tháng hiện tại: 448498
  • Tổng lượt truy cập: 22928819