Banner giua trang

Chúa nhật 7 TN A. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 14/02/2017 22:33 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi con cái Thiên Chúa phải nên thánh thiện như Cha của họ, là Đấng Thánh ngự trên trời. Sự hoàn thiện gặp thấy đỉnh cao của nó ở nơi luật yêu thương.
CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

 
Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi con cái Thiên Chúa phải nên thánh thiện như Cha của họ, là Đấng Thánh ngự trên trời. Sự hoàn thiện gặp thấy đỉnh cao của nó ở nơi luật yêu thương.
 
Lv 19: 1-2, 17-18
 
Bài Đọc I được trích từ sách Lê-vi, chính xác hơn từ phần được gọi “Luật Thánh Thiện” ở đó Đức Chúa đòi hỏi dân Ngài: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh” và “Ngươi hãy yêu đồng loại như yêu chính mình”.
 
1Cr 3: 16-23
 
Thánh Phao-lô nhắc nhở cho các tín hữu Cô-rin-tô rằng mọi người Ki-tô hữu là “Đền Thờ Thiên Chúa” vì họ được Chúa Thánh Thần ở cùng; họ không thuộc về sự khôn ngoan đời này nhưng sự khôn ngoan Thiên Chúa, vì họ thuộc về Đức Ki-tô và Đức Ki-tô lại thuộc về Thiên Chúa.
 
Mt 5: 38-48
 
Bản văn Tin Mừng Mát-thêu là phần tiếp theo của diễn từ Đức Giê-su về luật mới: “Anh em đã nghe Luật dạy… Còn Thầy, Thầy bảo anh em…”.
 
BÀI ĐỌC I (Lv 19: 1-2, 17-18)
 
Sách Lê-vi là quyển sách thứ ba trong năm quyển sách của bộ “Ngũ Thư”: sách Sáng Thế, sách Xuất Hành, sách Lê-vi, sách Dân Số và sách Đệ Nhị Luật. Năm sách này hình thành nên Lề Luật và nguồn cảm hứng của chúng, theo truyền thống, lên đến tận ông Mô-sê, nhà lập pháp vĩ đại của dân Ít-ra-en.
 
Sách này là cẩm nang chủ yếu dành cho các thầy tư tế hay các thầy lê-vi, vì thế sách được gọi là sách Lê-vi vì những người này đều thuộc về bộ tộc Lê-vi. Bộ tộc này có một quy chế đặc thù; họ không sở hữu đất đai và được dành riêng cho những chức vụ thánh. Xưa kia, cả hai thuật ngữ: tư tế và lê-vi là một. Sau này, danh xưng tư tế được dành cho những ai thực hiện những chức năng chính thức trong Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, trong khi các thầy lê-vi đảm nhận những công việc thứ yếu.
 
Sách Lê-vi được trình bày như một bộ sưu tập các huấn thị nghi thức và các nguyên tắc luân lý thuộc nguồn gốc và niên biểu khác nhau, thường rất xa xưa, với một ý tưởng chủ đạo: hình thành nên lương tâm luân lý của một dân tộc kề cận với sự thánh thiện của Thiên Chúa của mình. Công trình biên soạn chung cuộc thì rất muộn thời: đầu thế kỷ thứ năm trước Công Nguyên, tức là sau thời kỳ hồi hương trở về và công việc tái thiết Đền Thờ thứ hai, tuy nhiên công việc sưu tập các bản văn và các truyền thống đã là một công trình dài lâu, khởi sự rất sớm, chắc hẳn ngay từ cuối thời quân chủ (đầu thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên).
 
Bản văn của chúng ta được trích từ chương 19, chương này góp phần hình thành nên một tổng thể được gọi “Luật về sự Thánh Thiện” (ch 17-26).
 
1. Đức Chúa phán với ông Mô-sê:
 
Phần lớn các chương của sách Lê-vi đều bắt đầu: “Đức Chúa phán với ông Mô-sê”. Đối với dân Ít-ra-en, Lề Luật là cách diễn tả thánh ý của Thiên Chúa mà ông Mô-sê là người trung gian. Nhà biên soạn sách Lê-vi xây dựng hoạt cảnh, không chỉ trên núi Xi-nai, nhưng còn ở dưới chân núi, trước “Lều Hội Ngộ” nơi đặt Hòm Giao Ước. Đây không là hư cấu văn chương nhưng là ý hướng thần học: tất cả những khai triển Lề Luật chỉ là nối dài pháp luật đầu tiên và được định vị vào trong cùng một tinh thần; sự liên tục không bao giờ bị gián đoạn.
 
2. Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en:
 
Thật ra, Ít-ra-en là một cộng đồng trước khi là một quốc gia; họ là “dân Thiên Chúa” và căn tính của họ chỉ được diễn tả tròn đầy ở nơi cộng đoàn phụng vụ.
 
Mệnh lệnh này được ban cho ông Mô-sê để ông nói với toàn thể cộng đồng con cái Ít-ra-en chỉ được gặp thấy một lần trong sách Lê-vi: vào lúc tấn phong các tư tế. Xem ra nhà biên soạn đã muốn đối chiếu giữa hai cách thế đi vào trong mối hiệp thông với Thiên Chúa:
 
A-“Cách thế của các tư tế”:
 
Đối với sách Lê-vi, các tư tế là những người trung gian giữa con người và Thiên Chúa. Các sách Cựu Ước khác còn xem ngôn sứ hay vua là những người trung gian. Theo “sách Lê-vi”, phụng tự và chức tư tế cấu thành nên sự trung gian cốt yếu. Vào thời kỳ biên soạn sách Lê-vi chung cuộc, đã không còn vua và truyền thống ngôn sứ đang trên đường biến mất.
 
B-“cách thế của các tín hữu”:
 
Qua đức tin của mình và việc thực hành các quy tắc thánh thiện, các tín hữu cũng có thể đi vào trong mối thân tình của Thiên Chúa.
 
3. “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh”:
 
Điều răn này nhiều lần được lập lại trong sách Lê-vi, và lời dạy của Chúa Giê-su cũng âm vang điều răn này: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5: 48).
 
Sự thánh thiện của Thiên Chúa là ý tưởng chủ đạo của sách Lê-vi. Thiên Chúa được gọi là “thánh” không chỉ vì Ngài được ban cho phẩm chất luân lý cao nhất, nhưng để nhấm mạnh khoảng cách vô tận của Ngài với phàm nhân tội lỗi, tính cách bất khả đạt của Ngài, mầu nhiệm cao vời khôn ví của Ngài. Noi theo Thiên Chúa của mình, dân Ít-ra-en được mời gọi tách riêng ra khỏi các dân ngoại, tránh xa tội lỗi, thánh hóa chính mình. Những chỉ thị của Luật Thánh Thiện chỉ cho họ con đường.
 
Phần thứ hai của bản văn trích dẫn vài lời khuyên bảo luân lý, mà một trong số đó cấu thành một trong những đỉnh cao Cựu Ước: “Ngươi phải yêu thương đồng loại như yêu chính mình”.
 
4. “Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình”:
 
Nguyên tắc này, được đặt lại vào trong mạch văn của nó, không có tầm mức quy mô như Tân Ước sẽ ban cho nó.
 
“Đồng loại” là tất cả thành viên của dân Ít-ra-en. Toàn bộ đoạn văn liên quan đến những mối liên hệ xã hội ở bên trong cộng đồng. Chúng ta cũng gặp thấy những xưng hô khác như “người anh em”, “người đồng hương”. “Người anh em” trong câu: “Ngươi không được để lòng ghét người anh em”, chỉ một thành viên thuộc cùng giòng dõi, cùng bộ tộc. “Người đồng hương” trong câu “Ngươi phải mạnh dạn quở trách người đồng hương”, tức là một người Ít-ra-en. Vì thế, viễn cảnh bị thu hẹp lại ở nơi câu: “Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính mình”.
 
Tuy nhiên, khi tiếp tục đọc chương này, chúng ta gặp thấy ở câu 34: “Các ngươi phải đối xử với người ngoại kiều cư ngụ với các ngươi như với một người bản xứ, một người trong các ngươi; các ngươi phải yêu nó như chính mình”. Câu này triển khai luật yêu thương, chắc chắn còn trong những giới hạn của việc đồng hóa người ngoại kiều với một người Ít-ra-en, tuy nhiên luật yêu thương được mở rộng rồi. Chỉ thêm một bước nữa đạt đến tầm mức của tình yêu dành cho hết mọi người mà Chúa Giê-su sẽ dạy và Ngài còn đi xa hơn nữa cho đến huấn lệnh “Phải yêu kẻ thù”.
 
Đức Giê-su sẽ kết hợp điều răn yêu người này với điều răn mến Chúa. Điều răn mến Chúa này được gặp thấy trong một quyển sách khác của bộ “Ngũ Thư”, sách “Đệ Nhị Luật” (6: 5). Ngài ban cho hai điều răn này một tầm quan trọng như nhau và tóm gọn mọi Lề Luật vào trong hai điều răn này (Mt 22: 37-40; Mc 12: 29; Lc 10: 25-28). Ngài sẽ chứng mình hai điều răn này tương tự nhau khi đồng hóa mình với người đồng loại: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25: 40). 
 
Cựu Ước đã không hiệp nhất hai điều răn này và cũng không đồng hóa Thiên Chúa với người đồng loại. Chính Đức Ki-tô, vừa Thiên Chúa vừa con người, thực hiện sự ngang bằng này.
 
BÀI ĐỌC II (1Cr 3: 16-23)
 
Bản văn này mang đến một câu kết luận cho ba lập luận của thánh Phao-lô, chứng minh cho các tín hữu Cô-rin-tô thấy rằng việc họ phân chia thành những bè phái dựa trên một ý tưởng sai lầm về Giáo Hội, một quan niệm lầm lạc về sự khôn ngoan Ki-tô giáo, một sự ngộ nhận về vai trò của các vị rao giảng.
 
Thánh Phao-lô vừa mới khai triển điểm thứ ba này. Ngài đã so sánh công việc của các nhà rao giảng với công việc của những người kiến trúc sư: “Theo ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi, tôi đặt nền móng như một kiến trúc sư lành nghề, còn người khác thì xây trên nền móng đó…”. Như vậy mỗi người góp phần theo cách của mình vào việc xây dựng tòa nhà, tức là Đền Thờ Thiên Chúa, vì cộng đồng Ki-tô hữu không gì khác hơn một đền thánh ở đó Thiên Chúa ngự.
 
1.“Anh em là Đền Thờ Thiên Chúa:
 
Thánh Phao-lô dùng từ “naos”, từ này chỉ nơi cực thánh nhất, nơi Thiên Chúa ngự, nơi “ba lần thánh” của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
 
Hình ảnh này rất gần với hình ảnh “Thân Thể Đức Ki-tô”. Thánh nhân sử dụng cả hai hình ảnh này, lúc thì luân phiên, lúc thì liên kết với nhau. Khái niệm “Đền Thờ tinh thần” cắm rễ sâu trong lịch sử của dân Ít-ra-en. Đức Chúa đã hứa với dân Ngài “Ngài sẽ ở giữa họ nếu họ tuân giữ các lề luật của Ngài” (Lv 26: 3-11). Kinh nghiệm về thời lưu đày ở Ba-by-lon, xa Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, vả lại bị phá hủy, đã khích lệ tâm tình của các tín hữu rằng sự kiện Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài là một thực tại tinh thần. Trước đó, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã loan báo rằng thời sẽ đến, vào thời đó tôn giáo sẽ được trở nên nội tâm hơn, thời Lề Luật sẽ được ghi khắc trong tâm khảm. Sau cùng, Đức Giê-su công bố rằng “thân thể của Ngài” là Đền Thờ mới, mà giờ đã đến, “giờ những người thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật” (Ga 4: 23).
 
Lời khẳng định: “đền thờ ấy chính là anh em” được giải thích ngay liền sau đó: người Ki-tô hữu là “đền thờ của Thiên Chúa”“Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em”. Đây là chủ đề chính yếu của thần học thánh Phao-lô, đó là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần ở nơi mỗi người Ki-tô hữu: thần học này phù hợp với những lời hứa của Đức Giê-su và ơn thần khải của lễ Ngũ Tuần. Thánh nhân lập lại thần học này ở dưới một chút: “Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em” (1Cr 6: 19).
 
Đó là sự thánh thiện của cộng đồng Ki-tô hữu vừa trong toàn thể vừa trong mỗi một thành viên. Làm nứt rạn tòa nhà bởi tinh thần phe phái và những chia rẽ nội bộ, chính là phạm thánh.
 
2. Sự khôn ngoan đích thật:
 
Thánh Phao-lô nhắc lại sự đối lập giữa sự khôn ngoan thế gian và sự khôn ngoan Thiên Chúa, mà thánh nhân đã khai triển ở trên: “Thật thế, lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì có lời chép rằng: Ta sẽ hủy diệt sự khôn ngoan của kẻ khôn ngoan, và sẽ vứt bỏ sự thông thái của người thông thái” (1Cr 1: 18-19). Thánh nhân một lần nữa viện dẫn Kinh Thánh khi trích dẫn rất tự do sách Gióp tiếp đó một câu của Thánh Vịnh 94.
 
Trong nỗi chán chường thất vọng, đối mặt với những quyền lực sự ác, ông Gióp diễn tả niềm tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa, Đấng cất nhắc kẻ hèn mọn, đem lại niềm hy vọng cho người phiền muộn, phá vỡ mưu đồ của hạng tinh khôn, bắt kẻ khôn ngoan bằng chính những xảo kế của chúng và đi trước mưu toan của phường xảo quyệt (G 5: 11-13), mà thánh Phao-lô tóm tắt khi nói rằng “Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của nó”. Lời phê-phán thật nghiêm khắc: rõ ràng nhắm đến những tín hữu Cô-rin-tô tự cao tự đại.
 
Tv 94 cũng là lời kêu gọi cứu giúp của những người công chính chống lại phường vô đạo:
 
“Tư tưởng phàm nhân, Chúa đều biết cả:
thật chỉ như cơn gió thoảng ngoài!” (Tv 94: 11)
 
3. Những vị rao giảng của anh em là những người phục vụ mọi người:
 
Những chia rẽ của các tín hữu Cô-rin-tô đối với những vị rao giảng của họ chứng tỏ rằng họ không là những người khôn ngoan. Không ai được phép nói: “tôi thuộc về Phao-lô, hay A-pô-lô, hay Kê-pha”, vì có một sự đảo lộn: dù Phao-lô, A-pô-lô hay Kê-pha đều thuộc về anh em, họ là những người phục vụ cộng đồng Ki-tô hữu, họ hiến dâng bản thân mình cho mỗi người và cho mọi người.
 
4. Tất cả đều thuộc về anh em:
 
Thánh Phao-lô chuyển đổi ngạn ngữ Hy-lạp: “Tất cả đều thuộc hiền triết”, thường được các triết gia Khắc Kỷ lập lại. Hiền triết là người biết, hiểu, gắn bó với trật tự vũ trụ, vừa lý tính vừa thần linh. Người Ki-tô hữu cũng là người biết và còn biết hơn nữa, vì Đức Ki-tô đã mặc khải ý định của Thiên Chúa về nhân loại: người Ki-tô hữu cũng nắm giữ ý nghĩa “sự sống và sự chết, hiện tại hay tương lai”. Thánh Phao-lô thường ca ngợi sự hiểu biết cao cả này của người Ki-tô hữu: người Ki-tô hữu không phải cậy dựa vào con người nhưng phải đặt trọng tâm cuộc đời mình vào Đức Ki-tô.
 
TIN MỪNG (Mt 5: 38-48)
 
Bản văn Mát-thêu này tiếp nối bản văn Chúa Nhật trước. Đức Giê-su tiếp tục đối chiếu giữa những huấn lệnh Mô-sê và luật yêu thương mà Ngài thiết lập. Hai ví dụ mới được đưa ra để đối chiếu: luật “Mắt đền mắt, răng đền răng” và luật “Yêu thương đồng loại của mình”.
 
1. Luật “mắt đền mắt, răng đền răng”:
 
Chúa Giê-su trích dẫn luật Cựu Ước: “Anh em đã nghe Luật dạy: ‘Mắt đền mắt, răng đền răng’”, được phát biểu trong sách Xuất Hành (21: 24) và được lập lại trong sách Lê-vi (24: 19-20). Vào thời Đức Ki-tô, luật này chỉ được áp dụng vào những trường hợp sát nhân: “mạng đền mạng”.
 
Vào thời đó, luật “Mắt đền mắt, răng đền răng” này đã giới hạn bạo lực. Chúng ta thử đọc lại bài ca thù hận ngút ngàn được trích trong sách Sáng Thế:
 
“Vì một vết thương, ta đã giết một người,
vì một chút sây sát, ta đã giết một đứa trẻ.
Ca-in sẽ được báo thù gấp bảy,
nhưng La-méc thì gấp bảy mươi bảy!” (St 4: 23-24).
 
Luật “Mắt đền mắt, răng đền răng” đưa ra những giới hạn chặt chẻ giữa sự xúc phạm và sự trả thù. Luật này chỉ có thể áp dụng vào những tấn công về phương diện thể lý; nhưng trong việc thực hành, luật này thường tỏ ra khó áp dụng. Vì thế, những đền bù thiệt hại bằng tiền bạc dần dần được thay thế, ngoại trừ trường hợp sát nhân.
 
Khi trích dẫn luật xưa, Đức Giê-su muốn nói rằng không còn “ăn miếng trả miếng” nữa. Dù biết rằng ước muốn trả thù vẫn sống động trong tâm trí con người, Đức Giê-su đòi hỏi người ta không được buông theo ước muốn này, đừng tìm cách trả thù. Thái độ từ chối trả thù trực tiếp này đã được các hiền nhân Cựu Ước phác họa rồi. Hiền nhân Si-rác khuyên:
 
“Kẻ báo thù sẽ chuốc lấy báo thù của Đức Chúa,
tội lỗi nó, Người xem xét từng ly.
…..
Hãy nhớ đến các điều răn
mà đừng oán hờn kẻ khác,
nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao
mà không chấp nhất điều lầm lỗi” (Hc 28: 1-7).
Sách Châm Ngôn khuyên:
“Bạn đừng nói: ‘Tôi sẽ báo thù!’
Hãy cậy trông Đức Chúa, Người sẽ cứu bạn” (Cn 20: 22).
 
Đức Giê-su còn đi xa hơn các hiền nhân này, khi dạy rằng “lấy thiện báo ác”, “lấy tình yêu đáp lại hận thù”. Ngài dùng những kiểu nói rất bắt mắt và mâu thuẫn để nhấn mạnh: “Nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để cướp lấy áo trong, thì hãy cho nó lấy cả áo ngoài”. Áo trong và áo ngoài là y phục chính yếu miền Cận Đông. Áo ngoài còn cần thiết hơn áo trong: đây là chăn mền mà người nghèo dùng để đắp trong đêm, vì thế luật cấm giữ lại áo ngoài qua đêm. Ở đây, Đức Giê-su đòi hỏi một hành vi đặc biệt có ý nghĩa.
 
Động từ được dùng trong câu: “Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm”, mang nét nghĩa đầu tiên là “trưng dụng phương tiện chuyên chở”, tiếp đó được mở rộng đến mọi công việc phục dịch. Xem ra chính nghĩa này phải giữ lại, bởi vì cốt là dặm đường phải đi. Người có quyền “trưng dụng” chắc hẳn là một binh lính hay quan chức Rô-ma. Quả thật, động từ này lại xuất hiện trong Tin Mừng Mát-thêu khi những người lính Rô-ma “trưng dụng” ông Si-mon thành Si-rê-nê vác đỡ thập giá với Đức Giê-su.

Luật truyền thống muốn rằng của bố thí và việc cho vay không lãi chỉ được dành cho những thành viên của đại gia đình Ít-ra-en, chứ không người ngoại kiều. Hơn nữa, năm sa-bát – cứ bảy năm một lần – bao gồm việc tha nợ nần. Những quy luật được thông qua ở bên trong cộng đồng. Khi công bố rằng “Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi”, Đức Giê-su muốn rằng những cử chỉ này phải ban cho hết mọi người, không phân biệt chủng tộc hay tôn giáo. Luật bác ái mà Đức Giê-su dạy không có giới hạn.
 
2. Yêu thương kẻ thù:
 
Lệnh truyền “Hãy yêu đồng loại” được gặp thấy trong sách Lê-vi, nhưng lệnh truyền “Hãy ghét kẻ thù” không được gặp thấy ở đâu trong sách Luật cả. Động từ “ghét” này chỉ cốt làm tương phản động từ “yêu thương”, theo một cặp đối lập rất đặc thù của ngôn ngữ sê-mít. Sự đối lập này được gặp thấy trong Luật Cộng Đồng Qum-ran: “Ngươi phải yêu thương con cái Ánh Sáng, nhưng ghét con cái Bóng Tối”. Dù sao đi nữa, cặp động từ đối lập này trình bày một tâm thức nào đó. Chúng ta đọc thấy trong sách Huấn Ca:
 
“Hãy cho người đạo hạnh, nhưng đừng giúp kẻ tội lỗi.
Hãy xử tốt với người khiêm tốn,
và đừng ủng hộ quân vô đạo,
hãy khước từ, đừng cung cấp bánh ăn cho nó…
Đừng bao giờ tin vào thù địch;
vì đồng tiền ten sét thế nào,
thì sự độc ác của nó cũng vậy” (Hc 12: 4-5, 10).
 
Quả thật, người Do thái ghét cay ghét đắng người Sa-ma-ri, khinh miệt người thu thuế, anh em đồng bào mặt dày mày dạn của mình cộng tác với quân chiếm đóng. Người Do thái chẳng bao giờ có những mối quan hệ bạn hữu với người ngoại giáo. Sách Lê-vi dạy yêu thương đồng loại của mình, nhưng quan niệm đồng loại bị hạn chế chỉ vuông tròn vào đồng bào của mình. Đức Giê-su mở rộng cho đến hết mọi người. Luật đức ái phải lật đổ những phân biệt đối xử như thế. Khuôn mẫu của tình yêu này là mẫu gương của Cha trên trời, Đấng ban cho hết mọi người, kẻ xấu cũng như người tốt, ơn mưa mốc chan hòa.
 
Vào thời thánh Mát-thêu ghi lại những lời này: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em”, chúng có một âm vang bi thảm. Đây là thời kỳ Hội Đường bách hại Giáo Hội tiên khởi không chút xót thương. Những Ki-tô hữu gốc Do thái mà thánh Mát-thêu ngỏ lời, phải chịu những phiền nhiễu thậm tệ về phía những đồng đạo trước đây của mình.
 
Nhưng những môn đệ Đức Ki-tô phải mở rộng lòng mình, không so đo tính toán. Đức Giê-su đòi hỏi họ đức tính anh hùng này và kêu gọi họ hãy nên hoàn thiện, thuật ngữ này nhắc nhớ “Luật Thánh Thiện” của sách Lê-vi, trong đó Đức Chúa phán: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh”; còn ở đây, Đức Giê-su truyền: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, là Đấng hoàn thiện”.
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 10/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/10/2017 

- It is the duty of the human family to help free every single person from poverty and hunger.
Gia đình nhân loại có nghĩa vụ giúp đỡ mỗi người thoát khỏi cảnh đói nghèo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/10/2017 

- Ensuring everyone’s right to food and nourishment is an imperative we cannot ignore. It is a right to which there are no exceptions!
Quyền được bảo đảm về lương thực thực phẩm là một đòi hỏi mà chúng ta không thể làm ngơ. Quyền đó không có ngoại lệ!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/10/2017 

- Along with the Saints, let the joy and beauty of living the Gospel shine through the witness of our lives.
Cùng với các Thánh, hãy để cho niềm vui và vẻ đẹp của Phúc Âm sống động qua lời chứng của cuộc sống của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/10/2017 

- God does not disappoint! He has placed hope in our hearts so that it can blossom and bear fruit.
Thiên Chúa không hề thất vọng! Ngài đã đặt vào con tim chúng ta niềm hy vọng để nó nẩy mầm và sinh hoa trái.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/10/2017 

- The search for peace is an open-ended task, a responsibility that never ends and that demands the commitment of everyone.
Việc tìm kiếm hòa bình là một nhiệm vụ mở, một trách nhiệm không có hồi kết và đòi hỏi sự cam kết của mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/9/2017 

- I have chosen this theme for World Communications Day 2018: “The truth will set you free” (Jn 8:32). Fake news and journalism for peace.
Tôi chọn chủ đề này cho Ngày Thế giới Truyền Thông: “Sự thật sẽ giải thoát bạn” (Gio 8, 32). Những tin giả và làm báo chí vì hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/9/2017 

- Encountering Jesus can give a decisive direction to our life, filling it with meaning.
Gặp gỡ Đức Giêsu có thể mang lại bước ngoặt quyết định cho cuộc đời chúng ta, làm cho cuộc đời chúng ta có ý nghĩa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/9/2017 

- Let us share without fear the journey of migrants and refugees. #ShareJourney
Chúng ta đừng sợ hãi khi chia sẻ hành trình của người nhập cư và người tị nạn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/9/2017 

- Let us work together to find concrete solutions to help the poor, refugees, victims of modern forms of slavery, in order to promote peace.
Chúng ta hãy cùng nhau làm việc nhằm tìm kiếm giải pháp cụ thể để giúp đỡ người nghèo, người tị nạn, các nạn nhân nô lệ kiểu mới và thúc đẩy hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/9/2017 

- Let us find the courage to purify our hearts by removing the rocks and thorns which choke the Word of God.
Chúng ta hãy can đảm thanh tẩy con tim, gỡ bỏ những tảng đá và gai nhọn bóp nghẹt Lời Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/9/2017 

- Global action is needed in order to reduce pollution and at the same time promote development in poorer countries.
Cần hành động trên bình diện toàn cầu nhằm giải quyết cùng lúc giảm thiểu nạn ô nhiễm và sự phát triển của các nước nghèo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/9/2017 

- I encourage world leaders to set aside partisan and ideological interests and seek together the common good of all humanity.
Tôi khuyến khích các nhà lãnh đạo trên thế giới gạt lợi ích đảng phái và ý thức hệ sang một bên và cùng nhau tìm kiếm lợi ích chung của toàn thể nhân loại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/9/2017 

- Dear Colombian brothers and sisters, thank you! I have met so many people who have touched my heart. You have done me a world of good!
Xin cám ơn anh chị em Colombia! Tôi đã gặp rất nhiều người làm tôi xúc động. Anh chị em đã mang lại cho tôi điều tuyệt vời!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/9/2017 

- To “take the first step” is, above all, to go out and meet others with Christ the Lord.
“Đi bước trước”, trước hết là ra đi gặp gỡ tha nhân cùng với Đức Kitô, Chúa chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/9/2017 

- Charity helps us to know the truth and truth calls for acts of kindness.
Đức ái giúp chúng ta hiểu biết chân lý, và chân lý đòi hỏi thực thi điều thiện.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/9/2017 

- Our contagious joy must be our first testimony to the closeness and love of God.
Niềm vui lây lan của chúng ta phải là chứng tá cho sự gần gũi và tình yêu thương của Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/9/2017 

- Today there are many who hunger for God, who hunger for dignity. As Christians, we must help them to be satiated by God.
Ngày nay, nhiều người khao khát Chúa, khao khát phẩm giá con người. Là người Kitô hữu, chúng ta phải giúp họ được thỏa mãn trong Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/9/2017 

- Truth is an inseparable companion of justice and mercy.
Sự thật là người đồng hành không thể tách rời của công lý và lòng thương xót.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/9/2017 

- Reconciliation is consolidated by the contribution of all. It enables us to build the future and makes hope grow.
Hòa giải được củng cố bằng sự đóng góp của tất cả mọi người. Nó cho chúng ta xây dựng tương lai và làm triển nở niềm hy vọng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/9/2017 

- Dear young people, do not be afraid of the future! Dare to dream big! Keep joy alive, a sign of a young heart that has encountered the Lord.
Hỡi các bạn trẻ, đừng sợ tương lai! Hãy nuôi mộng lớn! Hãy giữ niềm vui sống động, dấu chỉ một con tim trẻ trung đã gặp được Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/9/2017 

- I encourage you to entrust yourselves to the Lord, who is the only one who helps and inspires us to contribute to reconciliation and peace.
Tôi cổ vũ các bạn hãy phó mình cho Chúa, Đấng duy nhất có thể nâng đỡ chúng ta và truyền cảm hứng để chúng ta đóng góp cho hòa giải và hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/9/2017 

- Dear Friends, please pray for me and all of Colombia, where I will be travelling for a journey dedicated to reconciliation and peace.
Các bạn thân mến, xin hãy cầu nguyện cho tôi và toàn dân Colombia, nơi tôi sẽ thăm viếng vì mục tiêu hòa giải và hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/9/2017 

- Like Mother Teresa, may we open up opportunities of joy and hope for the many who are discouraged and need understanding and tenderness.
Noi gương Mẹ Têrêxa, chúng ta hãy mở ra những cơ hội của niềm vui mừng và hy vọng cho nhiều người đang thất vọng và đang cần sự thấu hiểu và tình thương mến.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/9/2017 

- Jesus is present in so many of our brothers and sisters who suffer today like He did.
Chúa Giêsu đang hiện diện trong những anh chị em chúng ta hôm nay đang phải chịu khổ nạn như Ngài đã trải qua.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/9/2017 

- It is much more important to realize how much God loves us, than how much we ourselves love Him.
Điều rất quan trọng là hiểu được Chúa yêu chúng ta dường nào hơn là chúng ta yêu Chúa bao nhiêu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/9/2017 

- Jesus is always there with an open heart. He throws open the mercy that he has in his heart. He forgives, embraces, and understands.
Chúa Giêsu luôn ở đó với con tim rộng mở. Ngài tuôn ra lòng thương xót mà Ngài có trong tim mình. Ngài thứ tha, ôm ấp và thấu hiểu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/9/2017 

- Lord, teach us to contemplate you in the beauty of creation and reawaken our gratitude and sense of responsibility.
Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết chiêm ngắm Ngài trong vẻ đẹp của tạo vật, và đánh thức lại lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 31/8/2017 

- If you pay attention to the heart, you will find you are close to the Lord and to others.
Nếu bạn lắng nghe tiếng con tim, bạn sẽ thấy bạn đang gần gũi Chúa và tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/8/2017 

- The Gospel invites us to answer first and foremost to God who loves us and saves us, recognising Him in our neighbour.
Tin mừng mời gọi chúng ta tiên vàn đáp lại tiếng Chúa, Đấng yêu thương và cứu chuộc chúng ta, bằng cách nhận ra Ngài nơi người lân cận.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/8/2017 

- “You made us unto Yourself, and our heart is restless until it rests in you”. (St Augustine’s “Confessions”)
“Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa” (Thánh Augustinô, “Tự Thú”).

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/8/2017 

- Today how many mothers shed tears, like St Monica, so that their children will return to Christ! Do not lose hope in God’s grace!
Ngày nay biết bao bà mẹ đã khóc như thánh Monica để con cái mình quay về với Đức Kitô. Đừng đánh mất niềm hy vọng nơi ân sủng Chúa!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/8/2017 

- May the Virgin Mary obtain for us the grace to be enlivened by the Holy Spirit, so we can witness to Christ with evangelical honesty.
Xin Đức Trinh nữ Maria ban cho chúng ta ơn Chúa Thánh Thần tác động mạnh mẽ để làm chứng cho Đức Kitô bằng sự công chính của Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/8/2017 

- Being men and women of the Church means being men and women of commUNI0N.
Là người của Giáo Hội có nghĩa là người của sự hiệp thông.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ





HIỆP THÔNG THÁNG 10/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 65
  • Hôm nay: 15641
  • Tháng hiện tại: 262445
  • Tổng lượt truy cập: 19601764