Banner giua trang

Chúa nhật 4 PS C. Chúa Chiên Lành. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 12/04/2016 07:19 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Chiều kích Giáo Hội của dụ ngôn thì rõ ràng. Những người Ki-tô hữu là đoàn chiên, họ gặp thấy ở nơi Đức Ki-tô ơn cứu độ của mình và sự sống thần linh phong phú. Qua Ngài, họ hiệp nhất dứt khoát vĩnh viễn với Chúa Cha.
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH (“CHÚA CHIÊN LÀNH”)

 
Trong cả ba năm phụng vụ, Chúa Nhật IV Phục Sinh là Chúa Nhật “Chúa Chiên Lành”.
 
Cv 13: 14, 43-52
 
Người Mục Tử Nhân Lành mở rộng ràn chiên để đón nhận tất cả những ai lắng nghe lời Ngài. Bản văn Công Vụ được trích dân hôm nay đưa ra lời đề nghị như thế. Khi thi hành công việc truyền giáo ở An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, thánh Phao-lô và ông Ba-na-ba công bố ơn cứu độ phổ quát cho muôn người.
 
Kh 7: 9, 14b-17
 
Người Mục Tử Nhân Lành ban cho đàn chiên của mình sự sống đời đời. Thị kiến mà sách Khải Huyền mô tả chính xác là thị kiến về đoàn người được tuyển chọn đông đảo khôn kể xiết đứng chầu quanh ngai Thiên Chúa. Con Chiên đang ngự ở giữa họ “sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”.
 
Ga 10: 27-30
 
Đây là phần cuối cùng của dụ ngôn Người Mục Tử Nhân Lành. Ở đây, Đức Giê-su khẳng định mình là vị Mục Tử Thiên Chúa, liên đới với đàn chiên của Ngài. Chính Ngài cho họ được sống và sống dồi dào trong sự hiệp nhất mật thiết với Chúa Cha. 
 
BÀI ĐỌC I (Cv 13: 14, 43-52)
 
Phần thứ nhất sách Công Vụ Tông đồ (ch. 1-12), mà chúng ta đã đọc nhiều đoạn trích dẫn trong nhiều Chúa Nhật trước, nêu bật dung mạo Tông Đồ Phê-rô. Trong phần này, thánh Phê-rô loan báo Tin Mừng chủ yếu cho dân Ít-ra-en, ngoại trừ viên đại đội trưởng Rô-ma, ông Co-nê-li-ô và gia quyến của ông, những người Ki-tô hữu đầu tiên được chấp nhận vào Giáo Hội qua phép Rửa chứ không qua phép cắt bì.
 
Phần thứ hai sách Công Vụ Tông Đồ (ch. 13-28) nêu bật dung mạo thánh Phao-lô, thánh nhân thực hiện sự đột phá lớn lao trong công việc rao giảng Tin Mừng cho thế giới lương dân. Bản văn chúng ta đọc hôm nay được trích dẫn từ bài trình thuật về cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất của thánh Phao-lô. Bản văn này chứa đựng lời tuyên ngôn nổi tiếng của thánh Phao-lô: trước việc dân Ít-ra-en từ khước, thánh nhân quyết định quay về lương dân (13: 46-47).
 
1.Ông Ba-na-ba:
 
Trong những năm tháng khó khăn sau cuộc hoán cải của mình, thánh Phao-lô may mắn gặp được ông Ba-na-ba. Ông vốn xuất thân từ đảo Síp nhưng đã đến định cư lập nghiệp ở Giê-ru-sa-lem. Khi trở thành Ki-tô hữu, ông đã bán hết sản nghiệp của mình và đặt dưới chân các Tông Đồ. Tên thật của ông là Giô-xếp, nhưng người ta đặt cho ông biệt danh Ba-na-ba, nghĩa là “con của sự an ủi”. Quả thật, ông xứng đáng với biệt danh này trong cách hành xử của ông đối với thánh Phao-lô. Khi thánh Phao-lô lần đầu tiên đến Giê-ru-sa-lem sau biến cố trên đường Đa-mát, kẻ bách hại đạo trước đây được tiếp đón với thái độ dè dặt. Ông Ba-na-ba biết nhận ra cuộc hoán cải chân thành của thánh Phao-lô và đứng ra bảo lãnh cho thánh nhân trước các Tông Đồ.
 
Nhiều năm sau đó, ông Ba-na-ba được cử đến An-ti-ô-khi-a, thành phố lớn chịu ảnh hưởng văn hóa Hy-lạp, ở đó nhiều người Do thái cũng như lương dân theo đạo càng lúc càng đông (An-ti-ô-khi-a là thành phố đầu tiên có cộng đoàn Ki-tô hữu gốc lương dân). Trước công việc lớn lao, ông Ba-na-ba nảy sinh sáng kiến đi tìm thánh Phao-lô lúc này ở Tác-xô. Cả hai cùng làm việc ở An-ti-ô-khi-a trong vòng một năm, chắc chắn vào năm 43-44. Đoạn, được Thánh Thần đề xuất, cộng đoàn An-ti-ô-khi-a cử ông Ba-na-ba và thánh Phao-lô đi truyền giáo (Cv 13: 1-3).
 
Ông Ba-na-ba dẫn ông Phao-lô đến đảo Síp, quê quán của mình. Nhưng chẳng bao lâu sau vai trò của hai người đảo ngược. Thật là có ý nghĩa biết bao, sau cuộc truyền giáo ở đảo Síp, thánh Lu-ca không còn viết Sao-lô nhưng Phao-lô, và không còn đặt ngài ở hàng thứ hai; từ đây thánh Lu-ca viết “ông Phao-lô và ông Ba-na-ba”.
 
2.Thành An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a:
 
Từ đảo Síp, hai ông đáp tàu đến miền duyên hãi phía nam của miền Tiểu Á. Đoạn hai ông vượt đèo leo núi đến thành phố An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a ở độ cao 1200 mét. Để đến đó, hai ông phải băng qua đoạn đường 160 cây số, bằng cách vượt qua dảy núi Taurus, do bởi những con đường quanh co hiểm trở có nhiều khe suối, trong một miền đầy sào huyệt của quân trộm cướp. Chắc chắn thánh Phao-lô ám chỉ đến cuộc hành trình gian khổ này trong thư thứ hai gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, trong đó thánh nhân gợi lên mọi nỗi gian truân mà ngài đã kinh qua (2Cr 11: 26).
 
3.Cộng đồng Do thái:
 
Thành phố An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a là một trong những thủ phủ Rô-ma thuộc Á Châu và được hưởng quy chế thành phố tự do với những kiến trúc đô thị theo kiểu Rô-ma. Nằm trên trục giao thông, thành phố An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a đã có một nền thương mại phát triển thịnh vượng. Ở đây có một cộng đồng Do thái định cư lập nghiệp và có ảnh hưởng tôn giáo trên cư dân ở đây: có nhiều lương dân nhận ra Thiên Chúa Ít-ra-en là Thiên Chúa độc nhất, tôn kính Ngài, cầu nguyện với Ngài và tham dự vào những công việc từ thiện của cộng đồng; những người này được gọi “những người kính sợ Thiên Chúa”. Những lương dân này sẽ là đám thính giả đông đảo của thánh Phao-lô ở hội đường An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a này.
 
4.Sứ điệp mang tính lịch sử:
 
Vào một ngày sa-bát, trong hội đường, lời rao giảng đầu tiên của thánh Phao-lô gây nên lòng mộ mến của nhiều người Do thái cũng như nhiều lương dân kính sợ Thiên Chúa. Vào ngày sa-bát sau đó, những lương dân kính sợ Thiên Chúa này kéo theo một phần lớn dân thành vào trong hội đường để nghe thánh Phao-lô và ông Ba-na-ba thuyết giáo. Thấy thế, những người Do thái “sinh lòng ghen tức, họ nhục mạ và phản đối nhưng lời của thánh Phao-lô”. Đây là lần đầu tiên người Do thái chống đối thánh Phao-lô. Sẽ có những chống đối khác nữa. Từ lúc này, thánh Phao-lô nhận ra dấu hiệu nghiêm trọng này. Đây là lần đầu tiên thánh nhân nói đến sự từ khước của dân Do thái, mà hệ luận tất yếu là lương dân gia nhập Ki-tô giáo.

Thánh Phao-lô công bố chiều kích phổ quát của sứ điệp Tin Mừng khi nhắc nhớ giáo huấn của các ngôn sứ và áp dụng cho chính mình ơn gọi của Người Tôi Trung: “Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ đến tận cùng trái đất”. Khi nghe sứ điệp của thánh Phao-lô, “lương dân vui mừng suy tôn Lời Thiên Chúa và tất cả những ai đã được Thiên Chúa tiền định cho hưởng sự sống đời đời, đều tin theo”. Thánh Lu-ca sử dụng diễn ngữ xuất xứ từ văn chương kinh sư, theo đó người ta thường hay nói “được tiền định cho hưởng cuộc sống mai sau”. Diễn ngữ này không muốn nói đến số phận được tiền định, nhưng nhấn mạnh cuộc sống mai hậu này là ân ban của Thiên Chúa dành cho những ai tin vào Chúa Giê-su.
 
5.Thánh Phao-lô và ông Ba-na-ba bị trục xuất:
 
Chắc chắn, thánh Phao-lô và ông Ba-na-ba lưu lại ở An-ti-ô-khi-a nhiều tháng. Trong thuộc địa Rô-ma này, những người Do thái không có quyền điều hành; họ phải vận động những nhân vật trung gian: sách động những phụ nữ thượng lưu đã theo Do thái giáo, và những người có quyền thế trong thành, xúi dục họ trục xuất hai vị truyền giáo ra khỏi lãnh thổ của họ. Sau khi bị trục xuất, hai ông “liền giũ bụi chân”, cử chỉ nói lên đoạn tuyệt và quy trách nhiệm cho các đối thủ này. Thánh Lu-ca nhấn mạnh một lần nữa mối phúc của những người bị bách hại: “Còn các môn đệ được tràn đầy hoan lạc và ơn Thánh Thần”.
 
BÀI ĐỌC II (Kh 7: 9, 14b-17)
 
Chúng ta tiếp tục đọc sách Khải Huyền của thánh Gioan. Đoạn trích dẫn hôm nay rất phù hợp với Tin Mừng, trong đó Đức Giê-su công bố Ngài là Mục Tử đích thật. Thị kiến mô tả Con Chiên là Đức Ki-tô ở giữa những người được tuyển chọn như Người Mục Tử ân cần trao ban sự sống đời đời cho đoàn chiên của mình.

Chương 7 sách Khải Huyền chứa đựng hai thị kiến liên tiếp nhau: thị kiến thứ nhất về Giáo Hội chiến đấu, trong đó các Ki-tô hữu được đóng ấn ơn cứu độ trước khi đương đầu với những nỗi gian truân; thị kiến thứ hai là đối tượng của bản văn chúng ta.
 
1.Một đoàn người thật đông không tài nào đếm được:
 
Trong khi xuất thần, thánh Gioan được đưa lên trời ở đó diễn ra một phụng vụ vĩ đại tôn vinh Thiên Chúa và Con Chiên.
 
Đoàn người được tuyển chọn thật đông không tài nào đếm được như hậu duệ mà Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Áp-ra-ham. Ơn cứu độ phổ quát được các ngôn sứ loan báo, được Con Chiên đạt được nhờ hiến dâng mạng sống mình “cho muôn người”, được đám đông “thuộc mọi nước, mọi dân, mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ” chứng thực. “Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá thiên tuế”: “Họ đứng”: dấu chỉ của sự sống và sự sống lại, “mình mặc áo trắng”: dấu chỉ của sự vô tội, và “tay cầm nhành lá thiên tuế”: dấu chỉ của sự khải hoàn.
 
2.Cơn thử thách lớn lao:
 
Một trong các Kỳ Mục giải thích: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao”. Theo từ ngữ của các sách khải huyền, “cuộc thử thách lớn lao” chỉ những nỗi gian truân của thời cánh chung. Trước đây, Đức Giê-su đã gợi lên điều này khi Ngài nói với các môn đệ: “khi ấy sẽ có cơn gian nan khốn khổ đến mức từ thuở khai thiên lập địa cho đến bây giờ chưa khi nào xảy ra, và sẽ không bao giờ xảy ra như vậy nữa” (Mt 24: 21).
 
Viễn cảnh của các sách khải huyền chủ yếu là cánh chung, nhưng được “lồng vào nhau” giữa hiện tại và tương lai. Các ngôn sứ nói về kỷ nguyên thiên sai theo cùng những từ ngữ như thế nào thì họ mô tả kỷ nguyên cánh chung theo cùng một cách thức như vậy. Sách Khải Huyền của thánh Gioan ngỏ lời với những người Ki-tô hữu bị bách hại đang đối mặt với cái chết vì đạo. Như chúng ta đã nói, sách này là một tác phẩm “được mã hóa”, theo đó ngôn từ hàm chứa hai cách đọc. Cuộc thử thách lớn lao ám chỉ đến cái chết khủng khiếp đang chờ đợi họ và những nhành lá thiên tuế mà họ đang cầm trong tay muốn nói cuộc khải hoàn của họ sắp đến gần: họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên vì họ đã dự phần vào cuộc Tử Nạn của Ngài bằng cách chấp nhận đổ máu mình để làm chứng cho Ngài.
 
3.Thờ phượng muôn đời:
 
“Họ đứng chầu trước ngai Thiên Chúa, đêm ngày thờ phượng trong Đền Thờ của Người”. Chương 7 sách Khải Huyền tham dự trước các chương 20-22, các chương này mô tả thành đô Giê-ru-sa-lem trên trời. Thế nên, trong thành đô Giê-ru-sa-lem mới, không còn có Đền Thờ “vì Đức Chúa, Thiên Chúa Toàn Năng, và Con Chiên là Đền Thờ của thành” (Kh 21: 22). Đây là một trong những phương thức của tác giả là dùng những biểu tượng Cựu Ước để diễn tả những thực tại mới: Đền Thờ là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài, dấu chỉ bất toàn này rồi sẽ biến mất. Từ đó, Thiên Chúa đích thân vĩnh viễn hiện diện giữa dân Ngài và họ chúc tụng Ngài luôn mãi.
 
4.Thiên Chúa ở cùng chúng ta:
 
Kinh Thánh được ứng nghiệm theo từng lời: con người được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa, Người chấm dứt mọi nỗi truân chuyên của họ: “Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì Con Chiên đang ngự giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”. Câu này rõ ràng trích dẫn gần như nguyên văn của Is 49: 10, nhưng thật đáng cho chúng ta lưu ý, tác giả sách Khải Huyền đã thay thế “Đấng” quy chiếu đến Đức Chúa trong bản văn Is 49: 10 bằng “Con Chiên” chỉ Đức Ki-tô. Con Chiên là nguồn gốc niềm hoan lạc của họ và Con Chiên này “sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh”.
 
Bản văn Khải Huyền này cũng được đọc lại vào ngày lễ Chư Thánh để nhắc nhớ niềm hy vọng lớn lao của người Ki-tô hữu.
 
TIN MỪNG (Ga 10: 27-30)
 
Vào Phụng Vụ Năm C này, chúng ta đọc phần thứ ba và phần sau cùng của dụ ngôn “Người Mục Tử Nhân Lành” theo Tin Mừng Gioan.
 
1.Bối cảnh:
 
Phần sau cùng này rõ ràng được tách riêng ra khỏi những khai triển trước đó: hoàn cảnh, thời gian, nơi chốn không như trước nữa. Quả thật, những câu 22-24 định vị dụ ngôn này vào trong bối cảnh của cuộc tranh luận giữa Đức Giê-su và những người Pha-ri-sêu: “Khi ấy, ở Giê-ru-sa-lem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đức Giê-su đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hành lang Sa-lô-mon. Người Do thái vây quanh Đức Giê-su và nói: ‘Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết’”.
 
Ấy vậy, vào lúc cử hành lễ Cung Hiến Đền Thờ, trong phụng vụ người ta đọc chương 34 của ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Trong chương 34 này, Thiên Chúa truyền lệnh cho vị ngôn sứ tuyên sấm hạch tội những mục tử chăn dắt Ít-ra-en, vì họ chỉ biết lo cho lợi ích của mình mà không quan tâm gì đến cảnh sống cùng khổ của đoàn chiên Người: “Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên còn lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên bị lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc” (Ed 34: 1-6). Vì thế, vị ngôn sứ loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đích thân chăm sóc đoàn chiên của Người: “Đức Chúa phán thế này: ‘Đây chính Ta sẽ chăm sóc chiên của Ta…Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi…Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó…” (Ed 34: 11-16).
 
Những người đối thoại với Đức Giê-su đã nghe nhắc lại sứ điệp của vị ngôn sứ. Để trả lời câu hỏi của họ: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Ki-tô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết”, Đức Giê-su tự đồng hóa mình với vị Mục Tử Thiên Chúa này mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã hứa. Lời công bố này khiến họ phẩn uất đến mức muốn ném đá Ngài như đoạn tiếp theo cho thấy.
 
2.“Chiên tôi thì nghe tiếng tôi”:
 
"Chiên Tôi thì nghe tiếng tôi": Đây là thái độ của các môn đệ Ngài. Đức Giê-su đối lập thái độ này với thái độ của những đối thủ Ngài. Trước đây, Ngài đã nói cho họ: “Ai thuộc về Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa nói; còn các ông, các ông không chịu nghe, vì các ông không thuộc về Thiên Chúa” (8: 47). Qua lời này, Đức Giê-su công bố một cách rõ ràng rằng Ngài là Ngôi Lời, Lời Thiên Chúa hiện thân.
 
3.“Tôi biết chúng và chúng theo tôi”:
 
Trước đây, Đức Giê-su đã khai triển sâu xa về sự hiểu biết hổ tương giữa người chăn chiên và đoàn chiên; động từ “biết” theo Kinh Thánh hàm chứa chuyển động của cả trí tuệ lẫn con tim; sự hiểu biết này dẫn đến niềm tin tưởng phó thác: “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”. Xuyên suốt Tin Mừng, động từ “theo” định nghĩa thái độ căn bản của người môn đệ, gắn bó với con người Đức Ki-tô.
 
4.“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời”:
 
Ở đây chúng ta chạm đến cao điểm của dụ ngôn, vang dội biến cố Phục Sinh. Đức Giê-su có thể thông truyền cho con người sự sống thần linh của Ngài vì Ngài sắp hiến dâng mạng sống mình cho đoàn chiên của Ngài: “Không bao giờ chúng phải diệt vong”. Không quyền lực nào có thể phân ly mối tương quan hiệp nhất giữa người chăn chiên và đoàn chiên, vì mối giây liên kết này được thiết lập trên sự hiệp nhất của Đức Giê-su với Cha Ngài: “Tôi và Chúa Cha là một”. Trong Tin Mừng Gioan, nhiều lần Đức Giê-su khẳng định một lòng một dạ giữa Ngài và Cha Ngài. Đây là mặc khải quan trọng và rõ ràng nhất về Thần Tính của Chúa Giê-su và mầu nhiệm sâu xa của Thiên Chúa. Đây cũng là câu trả lời cho bè A-ri-ô về việc chối bỏ Thần Tính của Đức Giê-su. Cũng dựa trên lời này, Công Đồng Ni-xê-a năm 325 tuyên tín: Chúa Cha và Chúa Con đồng bản tính.
 
Chiều kích Giáo Hội của dụ ngôn thì rõ ràng. Những người Ki-tô hữu là đoàn chiên, họ gặp thấy ở nơi Đức Ki-tô ơn cứu độ của mình và sự sống thần linh phong phú. Qua Ngài, họ hiệp nhất dứt khoát vĩnh viễn với Chúa Cha. Phải đọc lại chầm chậm dụ ngôn và để cho lòng mình thấm đẩm tâm tình trìu mến yêu thương của Thiên Chúa mà dụ ngôn này làm chứng. 
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 05/2018


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/5/2018 

- The Gospel calls us to live outside our comfort zone, because anyone who follows Jesus, loves the poor and the lowly.
Tin mừng mời gọi chúng ta sống khó nghèo, vì bất cứ ai theo Chúa Giêsu đều yêu mến người nghèo khổ và bé mọn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/5/2018 

- Love of God and love of neighbour should be the two cornerstones of our lives.
Tình yêu Chúa và tình yêu tha nhân là hai viên đá góc của đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/5/2018 

- Today we are united in prayer with our Catholic brothers and sisters in China, on the Feast of Our Lady Help of Christians of Sheshan.
Hôm nay chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện cho anh chị em Công giáo ở Trung Quốc, nhân ngày lễ kính Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu ở Sheshan.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/5/2018 

- A Church that loves the poor is always tuned to the God Channel. It never loses the Gospel signal.
Một Giáo Hội yêu thương người nghèo thì luôn được điều hướng trong kênh sóng của Thiên Chúa, không bao giờ lệch ra khỏi tần số của Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/5/2018 

- A Christian’s life should be invested in Jesus, and spent for others.
Đời sống của Kitô hữu cần được đầu tư nơi Đức Giêsu và chi ra cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/5/2018 

- God needs people who bring His forgiveness and His mercy into the world.
Thiên Chúa cần những con người mang đến cho thế giới sự tha thứ và lòng thương xót của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/5/2018 

- Holy Spirit, you who sustain the Church, come down upon us again, teach us unity, renew our hearts, and help us to love as Jesus taught us.
Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn dắt Giáo Hội, xin lại ngự xuống trên chúng con, dạy chúng con biết hiệp nhất, đổi mới tâm can và giúp chúng con biết yêu thương như Chúa Giêsu đã dạy.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/5/2018 

- Mary lived Jesus’ Beatitudes like no other: she is saintly among the saints, she shows us the way to holiness and accompanies us.
Mẹ Maria đã sống không có gì khác ngoài Tám Mối Phúc của Chúa Giêsu: Mẹ là Đấng thánh giữa các thánh, Mẹ chỉ cho chúng ta con đường nên thánh và đồng hành với chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/5/2018 

- There is no love without works of charity. Service towards our brothers and sisters springs from the heart that loves.
Không có tình yêu nào mà không đi kèm việc bác ái. Việc phục vụ anh chị em chúng ta nảy sinh từ trái tim yêu thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/5/2018 

- The Family is the hope of the future. Let us pray especially for families facing serious difficulties: may Our Lord assist them.
Gia đình là niềm hy vọng của tương lai. Chúng ta hãy cầu nguyện cách đặc biệt cho những gia đình đang gặp phải những khó khăn nghiêm trọng: xin Chúa nâng đỡ họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/5/2018 

- There is no freedom greater than letting yourself be guided by the Holy Spirit and allowing Him to lead you wherever he wishes.
Không có sự tự do nào lớn hơn là để Chúa Thánh Thần hướng dẫn và để Ngài dẫn đưa ta đến bất cứ nơi đâu mà Ngài muốn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/5/2018 

- I invite communications professionals to promote a journalism of peace at the service of all people, especially those without a voice.
Tôi mời gọi các chuyên gia truyền thông thúc đẩy một nền báo chí vì hòa bình để phục vụ tất cả mọi người, nhất là những người không có tiếng nói.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/5/2018 

- Our Lady of Fatima, turn your gaze towards us, towards our families, our country, and the world.
Lạy Mẹ Fatima, xin đoái nhìn đến chúng con, gia đình chúng con, quê hương chúng con và toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/5/2018 

- Your response to Jesus cannot be conditioned by momentary calculations and convenience. It must be a life-long “yes”.
Sự đáp trả của bạn đối với Đức Giêsu không thể bị giới hạn bởi những tính toán và quy tắc nhất thời. Đó phải là lời thưa “xin vâng” suốt cuộc đời.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/5/2018 

- The Ascension of the Risen Jesus contains the promise that we too will participate in the fullness of life with God.
Đức Giêsu phục sinh lên trời chứa đựng lời hứa cho chúng ta được tham dự vào sự viên mãn của đời sống bên Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/5/2018 

- We are Christians to the extent that we allow Jesus Christ to live in us.
Chúng ta chỉ là Kitô hữu khi chúng ta để Chúa Giêsu Kitô sống trong chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/5/2018 

- Our Lady Queen of the Rosary, pray that Jesus may have mercy on us sinners.
Lạy Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, xin cầu cùng Chúa Giêsu thương xót chúng con là những tội nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/5/2018 

- Convert our hearts, Lord, so that love may spread here on earth.
Lạy Chúa xin hãy hoán cải trái tim chúng con, để đức ái được triển nở trên toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/5/2018 

- How wonderful to be “envoys of hope”, simple and joyful messengers of the Easter acclamation.
Đẹp thay những “người mang hy vọng”, các sứ giả đơn sơ và vui vẻ của tán tụng ca Phục sinh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/5/2018 

- Joyfully performing works of charity for those who are suffering in mind and body, is the most authentic way to live the Gospel.
Vui vẻ thực hiện việc bác ái cho những ai đang đau khổ tinh thần và thể lý là phương thế xác thực nhất để sống Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/5/2018 

- In the Cross, Jesus showed us the greatness of His love and the power of His mercy.
Trên thập giá, Chúa Giêsu cho ta thấy sự cao cả của tình yêu Ngài và quyền năng của lòng thương xót của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/5/2018 

- Praying means being with God, experiencing God, loving God.
Cầu nguyện là ở với Chúa, cảm nghiệm Chúa, yêu mến Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/5/2018 

- Today, at the Sanctuary of Our Lady of Divine Love, as we recite the Rosary, we pray especially for peace in Syria and throughout the world. I invite you to pray the Rosary for peace during the entire month of May.
Hôm nay tại Đền thánh Đức Bà Tình Yêu Thiên Chúa, chúng ta lần chuỗi để cầu nguyện đặc biệt cho hòa bình Syria và cho toàn thế giới. Tôi mời gọi anh chị em lần chuỗi cầu nguyện cho hòa bình trong suốt tháng 5 này.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/4/2018 

- Do we really want peace? Then let’s ban all weapons so we don’t have to live in fear of war.
Chúng ta có thực sự mong muốn hòa bình? Vậy hãy từ bỏ vũ khí để không phải sống trong nỗi lo sợ chiến tranh.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 05/2018

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 81
  • Hôm nay: 10260
  • Tháng hiện tại: 443247
  • Tổng lượt truy cập: 22923568