Banner giua trang

Chúa nhật 4 Mùa Chay. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 01/03/2016 08:18 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Theo truyền thống phụng vụ, Chúa Nhật IV Mùa Chay là Chúa Nhật của niềm vui. Chúa Nhật này đặt một thời gian tạm nghỉ trong thời kỳ chay tịnh và tham dự trước niềm hân hoan của biến cố Phục Sinh.
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

 
Theo truyền thống phụng vụ, Chúa Nhật IV Mùa Chay là Chúa Nhật của niềm vui. Chúa Nhật này đặt một thời gian tạm nghỉ trong thời kỳ chay tịnh và tham dự trước niềm hân hoan của biến cố Phục Sinh.
 
Gs 5: 9-12
 
Hãy vui lên vì Thiên Chúa đã giữ lời hứa. Dân Do thái đã tiến vào Đất Hứa và cử hành lễ Vượt Qua ở đây. Một kỷ nguyên mới bắt đầu đối với họ.
 
2Cr 5: 17-21
 
Hãy vui lên vì nhờ Đức Ki-tô, con người đã đạt được ơn hòa giải với Thiên Chúa; nhờ đó người Ki-tô hữu trở nên những con người được đổi mới.
 
Lc 15: 1-3, 11-32
 
Hãy vui lên với Chúa Cha, Đấng đón tiếp đứa con hoang đàng trở về trong niềm vui vỡ tràn.
 
BÀI ĐỌC I (Gs 5: 9-12)
 
Sách Giô-suê, sách được đặt nhan đề theo tên nhân vật chính của sách, kể việc dân Do thái vào đất hứa và chinh phục dần dần miền đất này của dân bản địa Ca-na-an.
 
1. Bối cảnh:
 
Sách Đệ Nhị Luật đã được hoàn tất trên chuyện tích về cái chết của ông Mô-sê, sách Giô-suê tường thuật các biến cố tiếp theo sau. Ông Mô-sê đã trao phó sự nghiệp của mình cho ông Giô-suê tiếp nối. Thời kỳ hoang địa được tiếp nối với thời kỳ chinh phục. Thời nô lệ bên Ai-cập và thời túng thiếu trong hoang địa được tiếp nối với kỷ nguyên của cuộc đời tự do và an cư lạc nghiệp. Lịch sử đã sang trang. Việc dân Do thái vào xứ sở Ca-na-an được định vị vào cuối thế kỷ thứ mười ba trước Công Nguyên. Cuộc chinh phục thật sự chỉ được hoàn tất dưới triều đại vua Đa-vít, hai thế kỷ sau đó.
 
Chuyện tích này được viết theo thể loại “sử thi”, bao gồm những yếu tố kỳ diệu. Ngoài ra, lịch sử của dân Ít-ra-en là lịch sử của dân Thiên Chúa, một kỳ tích lịch sử thường được nối kết với một kỳ tích phụng vụ. Sự kiện này hiển hiện rất rõ nét trong chuyện tích chúng ta đọc hôm nay.
 
2. Lễ Vượt Qua ở Ghin-gan:
 
Dân Do thái đã vượt qua sông Gio-đan vào lúc nước sông dâng cao. Vì thế, họ không thể vượt qua sông nếu Thiên Chúa đã không can thiệp bằng cách ngăn dòng nước thành chỗ khô cạn cho dân băng qua (Gs 3: 14-17). Như thế, tái diễn lại phép lạ Biển Đỏ (Xh 14: 21-22). Rõ ràng tác giả đã muốn đối chiếu cuộc xuất hành ra khỏi đất Ai-cập và cuộc xuất hành ra khỏi hoang địa; cuộc vượt qua sông Gio-đan họa lại cuộc vượt qua Biển Đỏ; lễ Vượt Qua tiến vào Đất Hứa đối xứng với lễ Vượt Qua giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập.
 
Tuy nhiên, nhiều yếu tố cổ xưa chứng thực nền tảng lịch sử của câu chuyện. Về phương diện truyền thống, lễ Vượt Qua ở Ghin-gan được kể ra trong văn chương Do thái; tuy nhiên, việc cử hành lễ Vượt Qua được xác định vào ngày mười bốn trong tháng là phần thêm vào sau khi lịch phụng vụ được quy định. Ghin-gan được định vị không xa thành Giê-ri-cô. Địa danh Ghin-gan theo tiếng Híp-ri có nghĩa “vòng tròn”. Truyền thống nối kết địa danh này với cử chỉ của ông Gio-suê: để tưởng niệm mãi mãi cuộc tiến vào Đất Hứa, ông Gio-suê truyền lệnh dựng mười hai tảng đá thành một vòng tròn, đại diện mười hai chi tộc của dân Ít-ra-en (Gs 4: 1-9). Vào thiên niên kỷ thứ hai, người ta vẫn còn ở trong nền văn minh đồ đá. Miền Pa-lét-tin còn lưu lại nhiều dấu vết của nơi cúng tế được dựng bởi những tảng đá.
 
3. Một giai đoạn mới:
 
“Hôm sau lễ Vượt Qua, họ đã dùng thổ sản trong xứ, tức là bánh không men và hạt lúa rang”. Đây là lần đầu tiên kể ra mối liên hệ giữa lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, hai ngày lễ tự nguồn gốc vốn biệt phân. Nhưng nhà biên soạn không nhằm nhấn mạnh mối liên hệ này; khi kể thêm “hạt lúa rang”, ông muốn đọc giả lưu ý đến lương thực được thay đổi tận căn, điều này đối với dân Do thái đánh dấu việc tiến vào Đất Hứa, vì miền Giê-ri-cô vốn nổi tiếng về thổ sản của mình, nhờ thời tiết thuận hòa.
 
“Không còn man-na nữa”. Man-na, thức ăn rất đạm bạc giúp dân Do thái sống còn trong hoang địa, từ nay không còn cần thiết nữa. Dân Do thái đã đặt chân lên xứ sở của các tổ phụ, mà lòng nhân ái của Đức Chúa đã cho họ trở lại khi “cất khỏi họ cái ô nhục của người Ai-cập”. Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta về đứa con hoang đàng. Chán ngấy cơm thừa canh cặn, cậu trở về nhà cha, ở đó cậu nhận được mọi ân huệ đổi đời của cậu; vì thế, cậu cũng được “cất khỏi cái ô nhục” của quá khứ.
 
BÀI ĐỌC II (2Cr 5: 17-21)
 
Giáo Đoàn Cô-rin-tô, mà thánh Phao-lô đã sáng lập vào những năm 50-52, bị chao đảo bởi nhiều cuộc khủng hoảng giữa những năm 54 và 57. Do những khủng hoảng này mà thánh Phao-lô đã viết ít nhất bốn bức thơ gởi tín hữu Cô-rin-tô này. Thư thứ nhất và thư thứ ba đã bị thất lạc; bức thư mà chúng ta gọi “thư thứ nhất”, thực ra, là thư thứ hai và bức thư mà chúng ta gọi “thư thứ hai”, thực ra, là thư thứ tư. Thư thứ hai này gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô được viết trong tâm trạng bình an; nhưng để hiệu chính mọi việc và trả lời dứt khoát cho những công kích mà thánh nhân đã là đối tượng, thánh Phao-lô buộc phải biện minh sứ vụ của mình mà ngài nâng lên cho đến mức định nghĩa sứ vụ của mình là sứ vụ Tông Đồ đích thật.
 
1. Tông Đồ và cộng tác viên của Chúa Ki-tô:
 
Tâm tình sâu kín nâng đỡ vị tông đồ: xác tín mình là cộng tác viên của Chúa Ki-tô, có sứ mạng “hòa giải” giữa Thiên Chúa và loài người, sứ mạng mà Đức Ki-tô đã thiết lập theo ý định của Chúa Cha. Vì chính ở nơi Chúa Cha mà công trình cứu độ loài người phải được quy hướng về, tức là một “cuộc tạo dựng mới”: “Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi”. Người Ki-tô hữu là một “thọ tạo mới”, vì họ đã được tha thứ mọi tội lỗi của mình.
 
Thánh Phao-lô xúc động về sự cao cả của sứ mạng hòa giải này, nhờ đó mà các cộng tác viên của ngài và chính ngài trở thành những “sứ giả thay mặt Đức Ki-tô”. Thánh nhân lập lại cùng một diễn ngữ này trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô: “Anh em cũng hãy cầu nguyện cho tôi nữa, để khi tôi mở miệng nói, thì Thiên Chúa ban lời cho tôi, hầu tôi mạnh dạn loan báo mầu nhiệm của Tin Mừng; tôi là sứ giả của Tin Mừng này cả khi tôi đang bị xiềng xích” (Ep 6: 19-20).
 
2. Hãy hòa giải với Thiên Chúa:
 
“Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người”. Qua câu này, thánh Phao-lô nhấn mạnh rằng sáng kiến đến từ Thiên Chúa; nhưng con người phải đáp trả sáng kiến này, đó là mở lòng mình ra để đón tiếp lời đề nghị này. Cũng như người con hoang đàng quyết định trở về nhà cha, nhưng chính người cha đề xướng hòa giải với anh, tức là tha thứ cho anh.
 
Mầu nhiệm của Thiên Chúa là tình yêu của Ngài dành cho nhân loại được thể hiện ở nơi Đức Ki-tô, “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta”. Điều mà thánh Phao-lô muốn làm sáng tỏ, chính là một sự trao đổi hai phía: Đức Ki-tô tự đồng hóa mình một cách nào đó với tội nhân; còn tội nhân, nếu hòa giải, có thể dự phần vào sự thánh thiện của Thiên Chúa.
 
TIN MỪNG (Lc 15: 1-3, 11-32)
 
Dụ ngôn “Người cha nhân hậu” thuộc một tập hợp bao gồm ba dụ ngôn: con chiên lạc, đồng bạc bị đánh mất và Người cha nhân hậu, chúng hình thành nên câu trả lời của Đức Giê-su cho những người Pha-ri-sêu và các kinh sư, họ bất bình vì thấy Ngài đón tiếp niềm nở những người tội lỗi (Lc 15: 1-3).
 
Trước đây, Đức Giê-su đã gặp phải phản ứng bất bình như thế và đã trả lời ngắn gọn và đanh thép: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5: 31-32). Ở đây Đức Giê-su phát biểu ý kiến của mình theo cách khác, gợi hình và cụ thể: Ngài sánh ví thái độ của Ngài với thái độ của người chăn chiên, trèo non lặn suối, quyết tìm cho bằng được một con chiên lạc (15: 4-7); hoặc với thái độ của người đàn bà, thắp đèn quét nhà, moi móc mọi xó xỉnh quyết tìm cho kỳ được một đồng quan bị đánh mất (15: 8-10); hay còn với thái độ của một người cha mở tiệc ăn mừng vì “đứa con hoang đàng” trở về sau năm tháng phiêu bạt (Lc 15: 11-32). Hai dụ ngôn “Con chiên lạc”“Đồng bạc bị đánh mất”, thánh Lu-ca có chung với thánh Mát-thêu, chỉ duy dụ ngôn “Người cha nhân hậu” là riêng một mình của thánh Lu-ca. Dụ ngôn “Người cha nhân hậu” nổi tiếng nhất được dàn dựng thành hai bức tranh bộ đôi: bức tranh bộ đôi thứ nhất về người con hoang đàng và tấm lòng của người cha (15: 11-24) và bức tranh bộ đôi thứ hai về người con cả và tấm lòng của người cha (15: 25-32).
 
A-Đứa con hoang đàng với người cha (15: 11-24)
 
a-Đứa con hoang đàng:
 
Bức tranh về cách hành xử của người con thứ có chủ ý tô đậm cho thật đen. Cậu nài nỉ xin cha chia phần gia tài mà mình được hưởng, một thái độ như thế không bao giờ được xem là hiếu để cả. Rồi cậu bỏ nhà ra đi và hoang phí tất cả gia sản của mình vào một cuộc sống chơi bời trác táng; lúc đó cậu lâm vào cảnh túng thiếu đến mức đành phải chấp nhận làm tôi đến nỗi phải đi chăn heo, mà đối với người Do thái là những con vật ô uế, một nghề cấm kỵ. Như vậy cậu đã xuống cho đến tận cùng cảnh cùng khốn của mình, không chỉ về phương diện vật chất mà còn cả về phương diện phẩm giá: “Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho”.
 
Trong cảnh bần cùng tận mức này, bị cái đói giày vò, cậu mới nghĩ đến việc trở về nhà cha mình. Lý do thúc đẩy cậu cất bước trở về chẳng có gì là cao thượng cả, chẳng qua chỉ vì tình thế bắt buộc thôi: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói!”. Để đạt được mục đích của mình, cậu sẵn sàng hạ mình thú tội và cầu xin cha tha thứ. Những điều cậu suy tính trong lòng chẳng qua chỉ là vụ lợi thôi, nhưng đây là bước khởi đầu của một cuộc hoán cải, một cuộc đổi đời, một cuộc trở về cùng cha mình.
 
Trong Thông Điệp của mình, Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II phân tích một cách tinh tế tiến trình này: “Bên dưới bề mặt của những lời nói, còn ẩn khuất bi kịch phẩm giá đã mất, ý thức về tư cách làm con đã hỏng...Khi hắn quyết định trở về nhà cha, xin cha nhận hắn không phải vì hắn có quyền làm con mà như một người làm công, thì bề ngoài xem ra hắn chỉ do nạn đói và cảnh cùng cực thúc đẩy mà hành động, dầu vậy lý do này lại được thâm nhập bởi ý thức về một sự mất mát sâu xa hơn: là một người làm thuê trong nhà của chính cha mình chắc chắn là điều rất nhục nhã và rất đáng xấu hổ. Tuy nhiên, người con hoang đàng sẵn sàng đón chịu điều nhục nhã và xấu hổ ấy, hắn nhận thấy rằng hắn không còn một quyền nào ngoài cái quyền là người làm thuê trong nhà cha hắn. Hắn lấy quyết định trong ý thức đầy đủ về những gì hắn đã đáng chịu và về những gì hắn còn có thể có quyền được theo các tiêu chuẩn của công bình. Cách suy luận kia chứng tỏ rằng, ở trong tâm thức người con hoang đàng, đã xuất hiện nhận thức về phẩm giá bị mất, về phẩm giá phát xuất từ tương quan giữa người con và cha mình. Và chính sau khi lấy quyết định kia mà hắn lên đường” ("Chúa Cha đầy lòng nhân hậu", trích từ bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, 2008, tr. 28-29).
 
b-Tấm lòng của người cha:
 
Tấm lòng của người cha được họa nên bằng những ý tứ rất súc tích. Thái độ của người cha đối với cậu con thứ này khiến chúng ta phải ngạc nhiên. Ông tôn trọng sự tự do của cậu và đáp ứng mọi yêu cầu của cậu, thậm chí khác với thái độ của người chăn chiên và người đàn bà nội trợ, ông không lặn lội đi tìm cậu. Chính thái độ vồn vả ân cần đón tiếp cậu khi cậu trở về mới là điều dụ ngôn này quan tâm.
 
“Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy”: Câu này cho thấy tấm lòng của ông. Từ khi đứa con ra đi khỏi nhà cha, ông hằng ngày tựa cửa mong ngóng đứa con trở về. Vì thế, khi thấy bóng dáng chưa định hình của đứa con từ xa, ông đã nhận ra cậu. Khi nhìn thấy bóng dáng thất thiểu của đứa con mình từ xa, ông “chạnh lòng thương” (động từ Hy ngữ này có một nghĩa rất mạnh: mối cảm xúc sâu xa dâng lên tận đáy lòng), và “chạy ra ôm cổ con và hôn lấy hôn để” (cách đón tiếp vồn vả khác thường này vượt quá khuôn phép uy nghiêm của một người cha mà tập tục Đông Phương quy định). Như vậy, vì tình cha, ông đã tha thứ cho cậu trước khi cậu ngỏ lời xin tha thứ.
 
Quả thật, trong câu chuyện, ông cắt ngang không để cho cậu nói hết những lời xưng thú và xin cha tha thứ, để tránh cho cậu đi đến tận cùng của sự nhục nhã, nhưng cũng để cho thấy lòng tha thứ vô điều kiện của ông đối với con mình. Còn tế nhị hơn nữa, ông không ngỏ lời trực tiếp với cậu, nhưng truyền lệnh cho các đầy tớ: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!”: áo đẹp nhất để thay thế bộ quần áo rách tả tơi của kẻ bần cùng, chiếc nhẫn xỏ vào tay để chỉ địa vị cao quý trong xã hội, đôi dép xỏ vào chân để chỉ cậu không còn là người làm thuê hay kẻ nô lệ nữa, bởi vì từ nay đứa con trở về không chỉ được phục hồi nhân phẩm của mình, nhưng cũng được kính trọng như xưa kia; lại còn tổ chức một bữa tiệc để cả nhà cùng chia sẻ niềm vui đoàn tụ. Lý do mà người cha đưa ra để vui mừng, đó là: “Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Đối với ông, việc con vắng mặt trong gia đình được xem như đã chết, nhưng nhất là sự tha thứ của ông làm cho người con trở thành một con người mới.
 
Tất cả mọi chú ý của câu chuyện đều hướng đến tình cha cao vời đầy xúc động này, chứ không tấm lòng hoán cải của đứa con hoang đàng. Dụ ngôn muốn minh họa thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Thiên Chúa yêu thương họ như người cha yêu thương đứa con của mình. Việc Chúa Giê-su mở rộng vòng tay đón tiếp những người tội lỗi là mặc khải tấm lòng yêu thương vô bờ của Chúa Cha. Dụ ngôn này chỉ cho thấy rằng Thiên Chúa đã đến gặp gỡ nhân loại để cứu thoát họ khỏi cảnh nô lệ của tội lỗi. Ơn tha thứ của Thiên Chúa phục hồi con người trong phẩm giá của mình. Ở nơi hậu cảnh của dụ ngôn này, người ta đọc thấy bí tích Hòa Giải của Thiên Chúa với con người.
 
B-Người con cả và người cha (15: 25-32)
 
a-Người con cả:
 
Thái độ của người con cả phản chiếu thái độ của những người Pha-ri-sêu và các kinh sư, họ đại diện cho những giá trị đạo đức của Cựu Ước, phân biệt rạch ròi đức công chính và tội lỗi. Lời trách cứ của người con cả ngỏ lời với cha cậu tương tự như sự bất bình của giai cấp lãnh đạo Do thái về cách hành xử của Chúa Giê-su đối với những người tội lỗi. Người con cả phẩn uất trách cứ cha mình: “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho con lấy được một con dê để con ăn mừng với bạn bè”. Rõ ràng, những lời trách cứ này minh họa sống động cung cách đạo đức của những người Pha-ri-sêu, họ tự hào tự phụ tuân giữ nghiêm nhặt Lề Luật, kiêu hãnh mình là người công chính mà khinh chê lên án những người khác. Chân dung của người con cả này là lời mời gọi vượt qua thái độ duy luật để mở rộng tấm lòng trước tình thương yêu.
 
b-Tấm lòng của người cha:
 
“Nhưng cha cậu năn nỉ”: Cách cư xử của ông đối với đứa con thứ hoang đàng như thế nào thì cách cư xử của ông đối với đứa con cả bất khoan dung. Vì đứa con cả giận dỗi không chịu tham dự niềm vui đoàn tụ, người cha ra ngồi bên cạnh cậu và năn nỉ cậu. Vả lại, ông nói với cậu bằng một cung giọng nhất mực trìu mến. Ông yêu thương hai đứa con mình như nhau; ông muốn giúp cậu khám phá chiều kích tình yêu này. Tình phụ tử không làm tổn thương đến sự công bình nhưng vượt quá sự công bình.
 
Để đáp lại lời trách cứ của cậu: “Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh”, người cha trả lời: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha” như một lời nhắc khéo cho cậu hiểu điều mà ông cần là “tình cha con” chứ không phải là “nghĩa chủ tớ”. Để đáp lại lời trách cứ của cậu về một con dê con để ăn mừng với chúng bạn chỉ là niềm ước mơ, người cha trả lời: “Tất cả những gì của cha đều là của con”. Để đáp lại thái độ dứt tình đoạn nghĩa của cậu đối với người em hoang đàng: “Còn thằng con của ông đó, sau khi đã nuốt hết của cải của ông với bọn điếm, nay trở về, thì ông lại giết bê béo ăn mừng”, người cha từ tốn trả lời: “Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”.
 
Như vậy, dụ ngôn này trước đây thường được đặt nhan đề là “đứa con hoang đàng”, nhưng phải được gọi “tấm lòng nhân hậu của người cha” mới đúng, bởi vì nhân vật chính trong câu chuyện không phải là đứa con thứ hoang đàng cũng không phải người con cả bất khoan dung mà là tấm lòng nhân hậu của người cha. Phải nói rằng đứa con thứ hoang đàng cũng như người con cả bất khoan dung chẳng qua chỉ để thắp sáng tấm lòng nhân hậu của người cha mà thôi. Vì thế, câu chuyện này được đọc trong Mùa Chay Thánh này không chỉ mời gọi những tội nhân mà cả những người tự cho mình công chính cũng cần đến việc ăn năn sám hối, vì điều Thiên Chúa cần ở nơi mỗi người chúng ta là tấm lòng của người con đối với Cha trên trời của mình và tình nghĩa anh em trong tình yêu của Cha. 
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 05/2018


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/5/2018 

- A Christian’s life should be invested in Jesus, and spent for others.
Đời sống của Kitô hữu cần được đầu tư nơi Đức Giêsu và chi ra cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/5/2018 

- God needs people who bring His forgiveness and His mercy into the world.
Thiên Chúa cần những con người mang đến cho thế giới sự tha thứ và lòng thương xót của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/5/2018 

- Holy Spirit, you who sustain the Church, come down upon us again, teach us unity, renew our hearts, and help us to love as Jesus taught us.
Lạy Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn dắt Giáo Hội, xin lại ngự xuống trên chúng con, dạy chúng con biết hiệp nhất, đổi mới tâm can và giúp chúng con biết yêu thương như Chúa Giêsu đã dạy.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/5/2018 

- Mary lived Jesus’ Beatitudes like no other: she is saintly among the saints, she shows us the way to holiness and accompanies us.
Mẹ Maria đã sống không có gì khác ngoài Tám Mối Phúc của Chúa Giêsu: Mẹ là Đấng thánh giữa các thánh, Mẹ chỉ cho chúng ta con đường nên thánh và đồng hành với chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/5/2018 

- There is no love without works of charity. Service towards our brothers and sisters springs from the heart that loves.
Không có tình yêu nào mà không đi kèm việc bác ái. Việc phục vụ anh chị em chúng ta nảy sinh từ trái tim yêu thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/5/2018 

- The Family is the hope of the future. Let us pray especially for families facing serious difficulties: may Our Lord assist them.
Gia đình là niềm hy vọng của tương lai. Chúng ta hãy cầu nguyện cách đặc biệt cho những gia đình đang gặp phải những khó khăn nghiêm trọng: xin Chúa nâng đỡ họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/5/2018 

- There is no freedom greater than letting yourself be guided by the Holy Spirit and allowing Him to lead you wherever he wishes.
Không có sự tự do nào lớn hơn là để Chúa Thánh Thần hướng dẫn và để Ngài dẫn đưa ta đến bất cứ nơi đâu mà Ngài muốn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/5/2018 

- I invite communications professionals to promote a journalism of peace at the service of all people, especially those without a voice.
Tôi mời gọi các chuyên gia truyền thông thúc đẩy một nền báo chí vì hòa bình để phục vụ tất cả mọi người, nhất là những người không có tiếng nói.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/5/2018 

- Our Lady of Fatima, turn your gaze towards us, towards our families, our country, and the world.
Lạy Mẹ Fatima, xin đoái nhìn đến chúng con, gia đình chúng con, quê hương chúng con và toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/5/2018 

- Your response to Jesus cannot be conditioned by momentary calculations and convenience. It must be a life-long “yes”.
Sự đáp trả của bạn đối với Đức Giêsu không thể bị giới hạn bởi những tính toán và quy tắc nhất thời. Đó phải là lời thưa “xin vâng” suốt cuộc đời.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/5/2018 

- The Ascension of the Risen Jesus contains the promise that we too will participate in the fullness of life with God.
Đức Giêsu phục sinh lên trời chứa đựng lời hứa cho chúng ta được tham dự vào sự viên mãn của đời sống bên Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/5/2018 

- We are Christians to the extent that we allow Jesus Christ to live in us.
Chúng ta chỉ là Kitô hữu khi chúng ta để Chúa Giêsu Kitô sống trong chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/5/2018 

- Our Lady Queen of the Rosary, pray that Jesus may have mercy on us sinners.
Lạy Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, xin cầu cùng Chúa Giêsu thương xót chúng con là những tội nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/5/2018 

- Convert our hearts, Lord, so that love may spread here on earth.
Lạy Chúa xin hãy hoán cải trái tim chúng con, để đức ái được triển nở trên toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/5/2018 

- How wonderful to be “envoys of hope”, simple and joyful messengers of the Easter acclamation.
Đẹp thay những “người mang hy vọng”, các sứ giả đơn sơ và vui vẻ của tán tụng ca Phục sinh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/5/2018 

- Joyfully performing works of charity for those who are suffering in mind and body, is the most authentic way to live the Gospel.
Vui vẻ thực hiện việc bác ái cho những ai đang đau khổ tinh thần và thể lý là phương thế xác thực nhất để sống Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/5/2018 

- In the Cross, Jesus showed us the greatness of His love and the power of His mercy.
Trên thập giá, Chúa Giêsu cho ta thấy sự cao cả của tình yêu Ngài và quyền năng của lòng thương xót của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/5/2018 

- Praying means being with God, experiencing God, loving God.
Cầu nguyện là ở với Chúa, cảm nghiệm Chúa, yêu mến Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/5/2018 

- Today, at the Sanctuary of Our Lady of Divine Love, as we recite the Rosary, we pray especially for peace in Syria and throughout the world. I invite you to pray the Rosary for peace during the entire month of May.
Hôm nay tại Đền thánh Đức Bà Tình Yêu Thiên Chúa, chúng ta lần chuỗi để cầu nguyện đặc biệt cho hòa bình Syria và cho toàn thế giới. Tôi mời gọi anh chị em lần chuỗi cầu nguyện cho hòa bình trong suốt tháng 5 này.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/4/2018 

- Do we really want peace? Then let’s ban all weapons so we don’t have to live in fear of war.
Chúng ta có thực sự mong muốn hòa bình? Vậy hãy từ bỏ vũ khí để không phải sống trong nỗi lo sợ chiến tranh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/4/2018 

- When we are open to God’s grace, even the impossible becomes possible.
Khi chúng ta mở lòng ra với Ơn Chúa, thì cái không thể sẽ trở thành có thể.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/4/2018 

- God alone can give us true happiness. It’s useless wasting time looking for it elsewhere: in wealth, pleasure, and power.
Chỉ mình Chúa mới ban cho chúng ta hạnh phúc đích thực. Thật hoài công nếu tìm kiếm hạnh phúc nơi những thứ khác: của cải, lạc thú và quyền lực.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/4/2018 

- Authentic Christians are not afraid of opening up to others, of sharing their living spaces and transforming them into places of solidarity.
Kitô hữu đích thực không ngại mở cửa cho tha nhân, chia sẻ nơi ở của mình và biến nơi đó thành nơi của tình liên đới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/4/2018 

- Life only fully makes sense when it is given as a gift. It becomes tasteless when it is lived for itself alone.
Sự sống chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi nó được trao ban. Nó trở nên vô vị khi chỉ được giữ cho riêng mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/4/2018 

- The Word of God is the lamp with which we look to the future: its light allows us to read the signs of the times.
Lời Chúa là đèn soi cho ta nhìn về tương lai: ánh sáng đó giúp chúng ta đọc được các dấu chỉ của thời đại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/4/2018 

- Let us follow the example of St Francis of Assisi and take care of our common Home.
Chúng ta hãy theo gương thánh Phanxicô thành Atxidi và chăm sóc cho Ngôi Nhà chung của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/4/2018 

- God calls each one of us, and each call is a gift that should fill us with joy.
Thiên Chúa kêu gọi mỗi người chúng ta, và mỗi lời mời gọi là một ân ban tràn đầy niềm vui.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/4/2018 

- When we are full of self-importance, we leave no space for God. So let us ask the Lord for a conversion of heart.
Khi lòng đầy cái tôi, thì Thiên Chúa không có chỗ. Hãy cầu xin Chúa hoán cải con tim của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/4/2018 

- All it takes to encounter God is to acknowledge that we are needy. And the key to that encounter lies in humbling ourselves.
Để gặp Chúa, chỉ cần nhìn nhận chúng ta đang cần điều đó. Và chìa khóa để gặp gỡ là khiêm nhượng trong lòng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/4/2018 

- Today we recall the words of Don Tonino Bello: “Works of charity are not enough, unless those works are done with charity”.
Hôm nay tôi nhắc lại lời của Don Tonino Bello: “Làm việc bác ái thôi chưa đủ, mà cần làm các việc này với lòng bác ái”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/4/2018 

- Mercy opens the doors of the heart because it makes us feel like we are all children of one Father.
Lòng thương xót mở cánh cửa con tim vì nó cho chúng ta cảm thấy tất cả chúng ta là con cùng một Cha.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/4/2018 

- The Christian vocation means being a brother or sister to everyone, especially if they are poor, and even if they are an enemy.
Ơn gọi của người Kitô hữu là trở nên anh chị em của hết mọi người, nhất là những người nghèo khổ và kể cả kẻ thù.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/4/2018 

- God asks us little and gives us a lot. He asks us to open our hearts and to welcome Him and the most vulnerable of our brothers and sisters.
Thiên Chúa đòi chúng ta thì ít và ban cho chúng ta thì nhiều. Ngài đòi chúng ta mở rộng con tim để đón nhận Ngài và những anh chị em dễ bị thương tổn của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/4/2018 

- Those who protect children are on God’s side and triumph over those who oppress them. Let us free every child from every form of exploitation.
Ai bảo vệ trẻ em thì đứng về phía Thiên Chúa và đẩy lùi những kẻ áp bức chúng. Chúng ta hãy giải thoát mọi trẻ em khỏi mọi hình thức bóc lột.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/4/2018 

- While I continue to pray unceasingly for peace, and invite all people of good will to do the same, I renew my appeal to all those with political responsibilities to ensure that justice and peace prevail.
Khi tôi không ngừng cầu nguyện cho hòa bình, tôi mời gọi mọi người thiện chí cũng làm như vậy, một lần nữa tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo chính trị hãy đặt ưu tiên cho công lý và hòa bình.

Tin Mới

Đức Tổng giám mục Marek Zalewski, Tân Đại diện Toà thánh không thường trú tại Việt Nam
Thư ngỏ của tân BĐH GĐ CCS Huế vùng Huế-Quảng Trị
Mừng hồng ân linh mục: Gioan baotixita Lê Khoa Vi F1/HT65
ĐTC Phanxicô: Người mục tử không phí giờ vào những việc không đâu
Hạnh phúc gia đình giản dị qua bộ ký họa dễ thương [2]
Hạnh phúc gia đình giản dị qua bộ ký họa dễ thương [1]
Điều gì làm nên một nước Mỹ đặc biệt và khác biệt?
Đoạn văn trên một bia mộ vô danh khiến nhiều người cảm động suy ngẫm
Bức khảm trai sơn mài công giáo trở về Việt Nam sau gần 100 năm ‘lưu lạc’ ở Pháp
Nơi độc nhất Sài Gòn người ta nói chuyện với nhau toàn bằng giọng Huế
Lễ Hiện Xuống. Cuộc sáng tạo mới
Mừng hồng ân linh mục: FX Trần Phan Bảo Quốc và Phaolô Trần Phan Bảo Quyền F1/HT65
Cụ ông 69 tuổi cụt hai chân chinh phục đỉnh Everest
Sự kiện sửa đổi vài chữ trong Kinh Lạy Cha
‘Khủng hoảng niềm tin’ ở Việt Nam, đâu là gốc rễ?
Thông báo và xin hiệp thông cầu nguyện cho dòng Thánh Phaolo thành Chartres tại Hà Nội
Cưa cùn gặp gỗ trơ
Bí mật trong đôi giày của Kim Jong-un tại Hội nghị thượng đỉnh liên Triều
Đi tìm biểu trưng của Sài Gòn
Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông xã hội thứ 52 (2018)
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 05/2018

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 105
  • Hôm nay: 6341
  • Tháng hiện tại: 359496
  • Tổng lượt truy cập: 22839817