Banner giua trang

Chúa nhật 3 TN A. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 17/01/2017 07:15 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Bài Đọc I và Tin Mừng nêu bật chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật tuần nầy: Chính ở Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại, mà Đức Giê-su chọn để công bố giáo huấn của Ngài.
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN

 
Bài Đọc I và Tin Mừng nêu bật chủ đề Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật tuần nầy: Chính ở Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại, mà Đức Giê-su chọn để công bố giáo huấn của Ngài.
 
Is 8: 23; 9: 3
 
Ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo với dân Ga-li-lê bất hạnh, nạn nhân của chính sách cai trị hà khắc của đế quốc Át-sua vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, rằng sẽ đến ngày một ánh sáng huy hoàng rực rỡ sẽ chiếu sáng trên họ.
 
Mt 4: 12-23
 
Trong Tin Mừng, thánh Mát-thêu trích dẫn bản văn của vị ngôn sứ nầy để chứng tỏ rằng chính nơi Đức Giê-su mà Kinh Thánh được ứng nghiệm: Đức Giê-su đã chọn Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê làm cứ điểm truyền giáo của Ngài. Ở đó, Ngài đã  kêu gọi các môn đệ đầu tiên của Ngài, họ là những ngư phủ.
 
1Cr 1: 10-13, 17
 
Ở giữa hai bài đọc nầy, là “thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho Giáo Đoàn Cô-rin-tô”. Trước nạn bè phái, thánh nhân khẩn khoản kêu mời các tín hữu hãy hiệp nhất với nhau. Nếu đoạn trích thư nầy không cho thấy bất kỳ mối liên hệ nào với hai Bài Đọc trên, thì nó nói lên nỗi bận lòng lớn lao của Giáo Hội là kêu mời mọi tín hữu hãy cầu nguyện cho các Kitô hữu trên thế giới được hiệp nhất với nhau. Thánh Phao-lô công bố tính bất khả phân của Đức Kitô.
 
BÀI ĐỌC I (Is 9: 1-4)
 
Bài Đọc thứ nhất được trích từ một trong ba sấm ngôn vĩ đại của ngôn sứ I-sai-a đệ nhất về sự sinh hạ của một Hài Nhi, tên biểu tượng của con trẻ là “Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” được gặp thấy trong các chương 7 đến chương 12, các chương nầy hình thành nên một tuyển tập được gọi là “sách về Đấng Em-ma-nu-en”.
 
Sấm ngôn thứ nhất (7: 10-14) loan báo sự sinh hạ của một Hài Nhi, sấm ngôn thứ hai (8: 23b-9: 6) mô tả vài nét đặc trưng của triều đại Hài Nhi nầy, và sấm ngôn thứ ba (11: 1-9) bày tỏ triều đại của Hài Nhi là triều đại của những ân ban siêu nhiên, và là kỷ nguyên của hòa bình và cứu độ.
 
Đoạn văn hôm nay là phần thứ nhất của sấm ngôn thứ hai, nói về sự tương phản giữa cảnh đời gian truân tăm tối trong hiện tại và những viễn cảnh huy hoàng tươi sáng trong tương lai.
 
1. Cảnh đời tăm tối trong hiện tại:
 
Về phương diện lịch sử, nguyên thủy vùng Ga-li-lê được chia cho hai bộ tộc Dơ-vu-lun và Nép-ta-li, khi dân It-ra-en vào Đất Hứa. Nhưng hai bộ tộc nầy không bao giờ thành công trong việc đánh đuổi dân bản địa Ca-na-an nên ngay từ đầu dân cư Ga-li-lê đã là dân tạp chủng. Về phương diện địa lý, tên Ga-li-lê, đến từ tiếng Híp-ri Ga-lil có nghĩa vòng tròn, sở dĩ có tên gọi như vậy vì ngoại vi của nó tiếp giáp với các quốc gia ngoại bang, vì thế, không thể tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi văn hóa và tư tưởng dân ngoại bao quanh, trái với miền Giu-đê. Hơn nữa, những con đường lớn của thế giới đều đi ngang qua miền Ga-li-lê trong khi xa tít về phía Nam, miền Giu-đê thu mình vào một góc, cô lập, khép kín như câu thành ngữ : “Giu-đê không có đường đi đâu hết, còn Ga-li-lê đi khắp nơi”. Vì thế không lạ gì miền Ga-li-lê đã trở thành miếng mồi xâm lăng của các dân ngoại vùng chung quanh và các đế quốc hùng mạnh thay nhau cai trị vùng nầy.
 
Sấm ngôn của I-sai-a ám chỉ đến số phận bi thảm giáng xuống trên dân cư của vương quốc phương Bắc trong cuộc xâm lăng của đế quốc Át-sua vào những năm 734-732 BC và cuối cùng hoàn toàn bị diệt vong vào năm sau đó, năm thủ đô là Sa-ma-ri bị chiếm và bị tàn phá: chinh phục, chiếm đóng, lưu đày một số lượng lớn dân cư, thay thế vào đó là những dân ngoại bang. Sự đàn áp tàn bạo đến mức vị ngôn sứ mô tả rằng chỉ có sự can thiệp của Thiên Chúa vào triều đại của vị Vua Mê-si-a mới có thể giải phóng con người được.
 
Quyền lực của đế quốc Át-sua sẽ ngự trị cho đến năm 612 trước Công Nguyên sau khi bị đế quốc Ba-by-lon xâm chiếm. Như vậy, sau thời kỳ phục dịch đế quốc Át-sua, dân Ít-ra-en sẽ nhận biết sự chiếm đóng của đế quốc Ba-by-lon. Họ sẽ gặp lại một cuộc sống thanh bình nhờ vào sự giải phóng của đế quốc Ba-tư. Dưới thời đô hộ của đế quốc Ba-tư, dân Ít-ra-en được hưởng một chính sách cai trị mềm dẻo, nhưng sự giải phóng nửa vời nầy không là điều vị ngôn sứ nghĩ đến: cái nhìn của ông còn đi xa hơn thế nhiều. Quả thật, khi nói về những biến cố đương thời của mình, vị ngôn sứ nói: “Trong thời gian đầu”, điều nầy ám chỉ đến hoàn cảnh hiện nay và mở ra một tương lai xa mà ông thoáng thấy. Vì thế niềm hưng phấn của ông trước ánh sáng rạng ngời trên miền Ga-li-lê được xem như lời sấm cốt yếu mang chiều kích thiên sai: sấm ngôn nầy, một trong những sấm ngôn giàu hình ảnh, loan báo Tin Mừng cứu độ và ơn gọi của dân Ga-li-lê, dân thụ hưởng vinh quang của Đức Chúa.
 
2. Những viễn cảnh huy hoàng tươi sáng trong tương lai:
 
Chính trong cảnh đời tăm tối không lối thoát trong hiện tại mà vị ngôn sứ loan báo những viễn cảnh huy hoàng tươi sáng trong tương lai. Cặp đối lập “ánh sáng / bóng tối” là chủ đề Kinh Thánh nổi tiếng chạy xuyên suốt toàn bộ lịch sử cứu độ, kể từ ngày Thiên Chúa tách ánh sáng ra khỏi bóng tối (St 1: 3-4), cho đến ngày chung cuộc, khi những ác nhân bị ném ra ngoài vào trong bóng tối hãi hùng. Qua toàn bộ lịch sử nầy, ơn cứu độ, niềm vui, đức tin, chung chung được diễn tả bằng hình ảnh ánh sáng. Ở đỉnh cao của tiến trình nầy, Đức Giê-su tự giới thiệu mình: “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống” (Ga 8: 12).
 
Trong thị kiến của vị ngôn sứ, ánh sáng biểu tượng niềm vui ơn cứu độ. Niềm vui nầy sẽ rạng ngời trên khắp miền Ga-li-lê và được mô tả bằng hình ảnh như niềm vui của nhà nông vào ngày thu hoạch mùa màng sau những gian lao vất vả của việc đồng áng, và như niềm vui của những lính chiến chia nhau những chiến lợi phẩm sau cuộc chiến gian khổ.
 
Nguyên do của niềm vui nầy chính là thời phục dịch sắp chấm dứt, kẻ hà hiếp sắp bị đánh bại. Khúc ca khải hoàn nầy được sánh ví như ngày chiến thắng quân Ma-đi-an (Tl 7: 1-25), một cuộc chiến thắng quá vẹn toàn, đạt được nhờ quân số quá nhỏ bé (300 chiến binh) đến nổi chiến công nầy không hề phai nhạt trong ký ức của dân chúng như tiêu biểu cho hành động của Thiên Chúa.
 
Như vậy, Ga-li-lê, miền đất dân ngoại, có ơn gọi chiếu giải ánh sáng của Thiên Chúa đến các dân ngoại. Sấm ngôn của vị ngôn sứ đã được ứng nghiệm bảy thế kỷ sau đó, khi Đức Giê-su công bố sứ điệp của Ngài ở miền Ga-li-lê dân ngoại nầy. Đó chính là điều mà Thánh Mát-thêu, vị Thánh ký bận lòng chứng minh con người và sứ mạng của Đức Giê-su đã được các ngôn sứ loan báo, không thể nào bỏ qua.
 
BÀI ĐỌC II (1 Cr 1: 10-13, 17)
 
Bài đọc thứ hai được trích từ “Thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô” giúp chúng ta nắm bắt những nguyên do sâu xa của cuộc khủng hoảng mà Giáo Đoàn non trẻ nầy gặp phải.
 
1. Vấn đề của Giáo Đoàn Cô-rin-tô: nạn bè phái (1 Cr 1: 11-12) .
 
Bốn phe phái đối đầu với nhau ở lòng Giáo Đoàn Cô-rin-tô:
 
- Phe theo thánh Phao-lô: thánh nhân cũng có vài ủng hộ viên trong cộng đoàn nầy.
 
- Phe theo ông A-pô-lô: nhờ vào sách Công Vụ 18: 24-28, chúng ta biết rằng ông A-pô-lô là một người Do thái quê ở A-lê-xan-ri-a, thủ đô của Do thái giáo hy lạp và một trong những thủ đô trí thức của thế giới vào thời đó. Nhờ có tài hùng biện và thông thạo Kinh Thánh, ông rao giảng rất thành công ở Ê-phê-sô. Từ đó, ông đã sang miền A-khai-a dùng tài hùng biện của mình mà phục vụ Giáo Hội. Thánh Phao-lô, khi từ biệt Cô-rin-tô, đã giao phó cho ông A-pô-lô giáo đoàn non trẻ nầy. Tuy nhiên, ông A-pô-lô đã không lưu lại lâu ở Cô-rin-tô, nhưng cũng để lại ở đây một ảnh hưởng mạnh mẻ. Chắc hẳn, tài hùng biện chói sáng của ông làm lu mờ đi cách rao giảng đơn sơ và bộc trực của thánh Phao-lô (x. 1Cr 2: 1, 3, 5). Kết quả là một sự chia rẽ giữa những người theo phe ông A-pô-lô và những người vẫn trung thành với thánh Phao-lô.
 
Việc nhắc đến ông A-pô-lô ở cuối thư gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô nầy cho phép chúng ta khẳng định rằng ông A-pô-lô không để cho sự thành công lôi cuốn mình và cương quyết tự xóa mình trước thánh Phao-lô cho đến khi hoàn cảnh được tái lập: “Còn về anh A-pô-lô, tôi đã tha thiết xin anh ấy đến thăm anh em cùng với các anh em khác. Nhưng lúc nầy anh ấy nhất định không chịu đi, anh ấy sẽ đi khi có dịp thuận tiện “ (1 Cr 16: 12).
 
- Phe theo thánh Phê-rô: có thể chính thánh Phê-rô, hay một trong những cộng sự viên thân cận của thánh nhân, đã đến Cô-rin-tô. Nhưng chúng ta cũng có thể nghĩ rằng những Kitô hữu gốc Do thái tìm kiếm nơi thánh Phê-rô một điểm tựa để bênh vực những lập trường duy Do thái của họ chống lại lập trường bao dung của thánh Phao lô đối với các dân ngoại (x. Gl 2: 1-14).
 
- Phe theo Đức Kitô: Có thể đó là những Kitô hữu vẫn ở trong chính lộ (x. 1Cr 1: 13) hay những người tự phụ là mình gắn bó với Đức Kitô mà không nhận uy quyền của bất kỳ vị Tông Đồ nào.
 
2. Câu trả lời của thánh Phao-lô (1 Cr 1: 10, 13, 17).
 
Đối diện với nạn bè phái, thánh Phao-lô kêu mời khẩn thiết đến sự hiệp nhất và trình bày giáo huấn về tính bất khả phân của Đức Giê-su: tính duy nhất của hy tế thập giá, phép rửa, và Tin Mừng.
 
A-Kêu mời khẩn thiết đến sự hiệp nhất:
 
Thánh Phao-lô kêu mời các tín hữu Cô-rin-tô hãy một lòng một ý với nhau. Lời mời gọi cương quyết, nồng nàn và khẩn thiết nầy được đặt ngay ở đầu, thậm chí trước khi viện dẫn hoàn cảnh của những chia rẽ. Như vậy thánh nhân tránh bắt đầu với những lời khiển trách. Thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê (Pl 2: 1-11) cho chúng ta lời giải thích lý do tại sao phải trở nên “một lòng một ý” với nhau.
 
Chính “nhân danh Đức Giê-su Kitô” mà các tín hữu Cô-rin-tô được mời gọi hiệp nhất với nhau, bởi vì những gì đụng chạm đến cộng đoàn là đụng chạm đến chính con người của Đức Kitô (Cv 9: 5). Như vậy, chia rẽ là phân chia chính Thân Thể Đức Kitô (x. 1Cr 12: 12t; Gl 3: 28).
 
B-Tính bất khả phân của Đức Kitô:
 
Sự sai lầm của các tín hữu Cô-rin-tô chính là đặt Tin Mừng trên cùng một bình diện với tất cả những khôn ngoan mà họ thường nghe các môn đệ của các triết gia nổi tiếng của họ như Platon, Aristote, Zénon… truyền bá. Đối diện với những trào lưu triết học nầy, người ta có thể tranh luận không dứt và quyết định theo phe nầy hay nhóm nọ (cf. 1Cr 3: 3-4). Tin Mừng thì hoàn toàn khác. Tiên vàn, đây là công bố một sự kiện: cái chết và sự sống lại của Đức Kitô. Đức tin không chỉ là một sự gắn bó với một giáo thuyết, nhưng còn là tận hiến chính bản thân mình cho con người của Đức Kitô. Người môn đệ loan báo Tin Mừng không gì khác hơn là một sứ đồ của Đức Kitô, vì thế, người môn đệ là môn đệ của Đức Kitô, chứ không là môn đệ của vị tông đồ nào. Người môn đệ ấy sống cuộc sống của Đức Kitô, chứ không cuộc sống của vị tông đồ nào. Người ấy được cứu độ nhờ cái chết và sự sống lại của Đức Kitô chứ không nhờ cái chết của bất cứ vị tông đồ nào. Người ấy đã được rửa tội nhân danh Đức Kitô, chứ không nhân danh một ai khác (Cv 2: 38; 8: 16; 10: 48; vân vân).
 
Để tránh triệt để sự ngộ nhận, lời dạy của thánh nhân được trình bày ngay tức khắc hoàn toàn khác với lời dạy của các triết gia hay các nhà hùng biện. Không cốt trình bày những lập luận có sức thuyết phục đối với tư tưởng nầy hay tư tưởng kia, nhưng chỉ cốt công bố mầu nhiệm của Đức Kitô chết trên Thập giá và sống lại. Vì thế, Tin Mừng không là đối tượng của sự chứng minh, nhưng ngỏ lời với đức tin.
 
Ngôn từ của thánh Phao-lô trong thư không còn là một nổ lực nhấn mạnh sự nối tiếp giữa những quan niệm ngoại giáo hy lạp như ở A-thê-na (Cv 17: 16-33), nhưng đúng hơn trình bày thẳng thắn sự điên rồ của Thập giá như sự khôn ngoan cao vời khôn sánh của Thiên Chúa tương phản với tất cả sự khôn ngoan của phàm nhân.
 
TIN MỪNG (Mt 4: 12-23)
 
Toàn bộ các chương 3 và 4 của Tin Mừng Mát-thêu được chia thành hai phần. Phần thứ nhất được phân định rõ ràng bởi “thể thức đóng khung” bằng việc lập lại lời kêu gọi khẩn thiết: “Anh em hãy sám hối, vì Triều đại Thiên Chúa đã đến gần” (3: 2 và 4: 17). Phần nầy, một mặt, xác định sứ vụ của Gio-an Tẩy giả (3: 1-4) với lời trích dẫn của Is 40: 3, và mặt khác, sứ vụ của Đức Giê-su (4: 12-17) với việc quy chiếu đến Is 8: 23-9: 1. Phần thứ hai đóng chức năng như vừa kết luận vừa chuyển tiếp, phần nầy bao gồm: thu nạp các môn đệ đầu tiên (4: 18-22) và tổng kết hoạt động Đức Giê-su (4: 23-25).
 
Đoạn văn được trích trong Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta suy niệm gồm có bốn phần: Hoàn cảnh khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở Ga-li-lê (4: 12-16), lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giê-su (4: 17), thu nạp các môn đệ đầu tiên (4: 18-22), và sứ vụ của Đức Kitô ở Ga-li-lê (4: 23).
 
1. Hoàn cảnh khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở Ga-li-lê (Mt 4: 12-16):
 
Dấu ấn của thánh Mát-thêu in đậm nét đặc biệt trong đoạn văn nầy, nếu chúng ta so sánh với những đoạn văn liên hệ của các tác giả Nhất Lãm khác.
 
Sau khi chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy giả (Mt 3: 13-17), đoạn chịu những chước cám dỗ trong sa-mạc (Mt 4: 1-11), và cuối cùng nghe tin “ông Gioan Tẩy giả đã bị nộp” (4: 12), Chúa Giê-su biết đã đến lúc Ngài phải bắt tay vào việc: nhiệm vụ dọn đường của Gio-an Tẩy giả đã hoàn tất, vai phụ rút lui vào hậu trường để nhường chỗ cho vai chính là Đức Giê-su. Thánh Mát-thêu cũng như thánh Mác-cô cũng sẽ dùng cùng một diễn ngữ “bị nộp” để nói về việc Đức Giê-su bị bắt. Như vậy, Gioan Tẩy giả loan báo về Đức Giê-su không chỉ bằng lời rao giảng, nhưng còn bằng cuộc sống nữa. Qua động từ: “bị nộp”, thánh ký muốn nói rằng số phận của ông Gioan Tẩy giả báo trước số phận tương tự đang chờ đợi Đức Giê-su.
 
Sự kiện Đức Giê-su lánh sang miền Ga-li-lê khi nghe tin ông Gioan Tẩy Giả bị nộp khiến chúng ta nghĩ rằng Đức Giê-su không còn cảm thấy an toàn ở miền Giu-đê. Tuy nhiên, vị vua đã tống giam Gioan Tẩy Giả là tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pát lúc đó cai trị xứ Ga-li-lê. Dường như lý do sâu xa của việc Đức Giê-su chuyển dời miền đất hoạt động của mình sang miền Ga-li-lê được gặp thấy trong Tin Mừng Gioan: “Nhóm Pha-ri-sêu nghe tin Đức Giê-su thâu nạp và làm phép rửa cho nhiều môn đệ hơn ông Gio-an. Biết thế, Đức Giê-su bỏ miền Giu-đê mà trở lại miền Ga-li-lê”, trong khi thánh Lu-ca nói một cách đơn giản: “Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê” (Lc 4: 14).
 
Còn thánh Mát-thêu thì trình bày quyết định của Đức Giê-su bằng những từ ngữ như quyết định của thánh Giu-se khi quay trở về từ Ai-cập đến cư ngụ ở Na-da-rét: “Khi nghe tin Ác-khê-lao đã kế vị vua cha là Hê-rô-đê, cai trị miền Giu-đê, nên ông sợ không dám về đó… ông lánh qua miền Ga-li-lê… để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ” (Mt 2: 19-23). Cũng một cách thức như vậy trong bài trình thuật nầy: “Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê… để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a”. Việc kể tên hai địa danh xa xưa “Dơ-vu-lun và Nép-ta-li” rõ ràng dọn đường cho lời trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a. Hai địa hạt nầy chiếm lấy phần lớn miền Ga-li-lê, bị đế quốc Át-sua sát nhập, bị Hy lạp hóa vào thời đại cai trị của đế quốc Hy lạp, vì thế phần lớn là người ngoại bang đến định cư. Lời loan báo của ngôn sứ I-sai-a về cuộc giải thoát được thánh Mát-thêu thấy ứng nghiệm nơi sứ vụ của Đức Giê-su.
 
Đức Giê-su đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê. Thành Ca-phác-na-um được hưởng một hoàn cảnh ưu đãi, thành phố giáp ranh giới với ba nước: Pa-lét-tin, Phê-ni-xi và Xy-ri-a: thành phố nầy là một phần của miền Ga-li-lê được gọi là “miền đất của dân ngoại”. Đức Giê-su chọn thành phố nầy làm địa bàn hoạt động của Ngài. Dân bản địa chủ yếu là những ngư phủ, thợ thủ công và tiểu điền chủ. Thánh Lu-ca nói với chúng ta rằng dân Do thái ở miền Ga-li-lê không giàu có, thậm chí không thể tự lực xây dựng một hội đường, đành phải chấp nhận sự giúp đỡ tài chánh của một viên sĩ quan ngoại quốc (Lc 7: 5).
 
Quả thật, kiểu nói: “Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại” hình thành nên trọng tâm của lời trích dẫn Is 8: 23-9: 1 và cũng của sứ mạng Đức Giê-su. Khi nói: “Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm mù mịt…” (4: 16), thánh ký ám chỉ đến tình trạng tinh thần của dân Do thái vào thời ông, trong những miền dân cư tạp chủng. Như vậy, thánh ký nêu bật Đức Giê-su muốn chia sẻ cùng một cảnh ngộ với dân Ngài, như Ngài đã làm trong suốt thời gian ẩn dật cũng như khi chịu phép rửa. Chính vì dân Ngài, Đức Giê-su được sai đi đến trước tiên với “những chiên lạc nhà Ít-ra-en” (Mt 10: 6; 15: 24), nhưng cũng gặp gỡ với dân ngoại, vì hoàn cảnh cụ thể của dân cư miền nầy đặt Ngài vào mối liên hệ với họ. Chính ở giữa “những kẻ đang ngồi trong bóng tối tử thần” nầy mà Đức Giê-su là “ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.
 
2. Lời rao giảng của Đức Giê-su (4: 17)
 
Lời rao giảng đầu tiên của Đức Giê-su (4: 17) lập lại y nguyên lời rao giảng của Gioan Tẩy giả (3: 2). Tuy nhiên sự mới mẽ được thánh ký chỉ ra ở đầu câu nầy: “Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu…”, diễn ngữ này chỉ gặp lại ở 16: 21: “Từ lúc đó, Đức Giê-su Ki-tô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải đi lên Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Như thế, lời công bố Triều Đại Thiên Chúa được ghi rồi trên con đường đau khổ.
 
Hơn nữa cũng một lời kêu gọi sám hối nhưng do bởi hai nhân vật với hai vai trò khác nhau: Gioan Tẩy giả, người có sứ mạng làm phép rửa trong nước để dọn lòng cho con người đón tiếp Đức Giê-su, Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần (Mt 3: 11). Vì thế, lời kêu gọi sám hối của Đức Giê-su trở nên khẩn thiết hơn, vì Triều Đại Thiên Chúa đã khởi sự ở nơi sự hiện diện của Ngài. Cõi vĩnh hằng đã xâm nhập vào thời gian, Triều đại Thiên Chúa đã xâm nhập vào trần gian; vì thế, điều quan trọng hơn cả là con người phải quay tầm tầm nhìn của mình khỏi hạ giới mà hướng về thượng giới, đổi hướng đi để tiến gần đến Ngài. Muốn thế thì phải nghe và theo Đức Giê-su.
 
3. Thu nạp các môn đệ đầu tiên (Mt 4: 18-22)
 
Lời rao giảng của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê được ghi nhận là đã gặp thấy lời đáp trả tích cực ở nơi bốn môn đệ đầu tiên. Bài trình thuật của thánh Mát-thêu về ơn gọi của các môn đệ đầu tiên rất gần với bài trình thuật của thánh Mác-cô (bài trình thuật Lu-ca thì hơi khác). Câu chuyện thật đột ngột: hai anh em ông Si-mon và ông An-rê đang thả lưới bắt cá, liền bỏ nghề nghiệp của mình mà cất bước theo Đức Giê-su. Còn hai anh em ông Gia-cô-bê và ông Gioan, sự đoạn tuyệt càng mãnh liệt hơn, họ không chỉ bỏ lại nghề nghiệp của mình, nhưng còn cả người cha mà họ có bổn phận phụng dưỡng nữa.
 
Khi nghe hay đọc đoạn Tin Mừng nầy, những cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi biết rằng việc tận hiến cho Đức Giê-su đã dẫn những môn đệ tiên khởi nầy đến tận đâu: Gia-cô-bê là vị tông đồ đầu tiên phải làm chứng bằng máu: thánh nhân bị hành hình vào năm 44, thánh Phê-rô bị đóng đinh ngược ở Rô-ma, có lẽ vào năm 67. Trước đây, chỉ vọn vẹn có ba từ: “Người bỏ Na-da-rét” gợi lên việc Đức Giê-su thoát ly gia đình, bạn bè, nghề nghiệp và làng quê thân yêu Ngài, giờ đây Ngài cũng sẽ đòi hỏi các môn đệ của Ngài một đoạn tuyệt như vậy.
 
Hai anh em Si-mon và An-rê cũng như hai anh em Gia-cô-bê và Gioan ở đây chưa được gọi là môn đệ. Đức Giê-su chỉ đòi hỏi họ đi theo Ngài, như ngôn sứ Ê-li-a đã làm như thế đối với Ê-li-sa (x. 1V 19: 20-21). Tuy nhiên, chúng ta có thể đọc thấy ở đây mối liên hệ của thầy với trò rồi, như trường hợp đối với các kinh sư, nhất là khi thêm vào “Tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá”, Đức Giê-su ngay tức khắc liên kết họ vào sứ mạng của Ngài. Bài diễn từ sai đi (ch, 10) và dụ ngôn chiếc lưới thả xuống biển (13: 47-50), cũng như cách thức Đức Giê-su cứu Phê-rô đang chìm xuống nước (14: 22-33) sẽ đem lại nền tảng vững chắc cho lời nói bí nhiệm nầy. Khi gọi những cộng tác viên đầu tiên của mình và mời gọi họ thoát ly khỏi môi trường gia đình và nghề nghiệp của họ, Ngài muốn nói với họ tầm mức biểu tượng sứ mạng của họ: tiếp nối sứ mạng của Ngài, đồng thời biến đổi hoàn cảnh phàm nhân của họ. Thánh Mát-thêu nhấn mạnh vừa sự nối tiếp lẫn sự đoạn tuyệt trong lời mời gọi theo Ngài.
 
4. Sứ vụ của Đức Giê-su ở Ga-li-lê (Mt 4: 23)
 
Sau khi đã mô tả ơn gọi của các môn đệ đầu tiên, thánh Mát-thêu lại tiếp tục trình bày sứ vụ của Đức Giê-su: “Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, loan báo Tin Mừng Nước Trời, và chữa dân chúng hết bệnh hoạn tật nguyền” (4: 23). Ở đây, chúng ta thấy ba khía cạnh sứ vụ của Đức Giê-su: giảng dạy - loan báo Tin Mừng Nước Trời - chữa lành. Chúng ta sẽ gặp lại đúng nguyên văn trình tự nầy ở 9: 35: “Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”, vào lúc kết thúc đơn vị lớn thứ nhất của sách Tin Mừng và trước “Bài giảng về sứ mạng truyền giáo” (10: 1-16).
 
Phạm vi hoạt động của Đức Giê-su được ghi nhận “khắp miền Ga-li-lê”. Ngài không tự giới hạn vào việc quy tụ một nhóm nhỏ môn đệ, một trường đào tạo, theo cách thức của các kinh sư, nhưng với tư cách một nhà giảng thuyết lưu động, Đức Giê-su muốn rằng sứ điệp của Ngài phải đến với tất cả mọi người và được lan truyền ra khắp nơi. 
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 08/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/8/2017 

- When we are feeling sad, when it feels like everything is going wrong, we should remember: “God loves me. God never abandons me”.
Khi chúng ta buồn sầu, khi mọi thứ có vẻ không như ý, chúng ta hãy nhớ rằng: “Chúa yêu ta, Chúa không bao giờ bỏ rơi ta”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/8/2017 

- May the Holy Spirit grant peace to the whole world and heal the wounds of war and terrorism.
Xin Chúa Thánh Thần ban hòa bình cho toàn thế giới và chữa lành những vết thương của chiến tranh và chủ nghĩa khủng bố.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/8/2017 

- We always need to rediscover God’s love and mercy in order to develop our relationship with Him.
Chúng ta luôn cần tái khám phá tình yêu và lòng thương xót Chúa để phát triển mối quan hệ của chúng ta với Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/8/2017 

- I pray for all the victims of the attacks of these days. May the blind violence of terrorism no longer find room to exist in this world!
Tôi cầu nguyện cho tất cả các nạn nhân của các cuộc tấn công trong những ngày này. Xin cho bạo lực mù quáng của chủ nghĩa khủng bố không còn chỗ đứng trên thế giới!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/8/2017 

- May nothing stop you from living and growing in your Heavenly Father’s friendship, and from witnessing to His infinite goodness and mercy.
Không gì có thể ngăn cản bạn sống, lớn lên trong tình thân hữu với Cha Trên Trời, và làm chứng cho lòng nhân từ vô biên và lòng thương xót của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/8/2017 

- Mary’s Assumption regards our future: it turns our gaze heavenward announcing the new heaven and new earth with Christ’s victory.
Mẹ lên trời liên quan đến tương lai chúng ta: hướng tầm mắt chúng ta nhìn về trời, loan báo trời mới đất mới với chiến thắng của Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/8/2017 

- Dear young people, you are the hope of the Church. Do you dream about your future? Then take part in #synod18! https://t.co/XNDm29yp3s
Các bạn trẻ thân mến, các bạn là niềm hy vọng của Giáo hội. Bạn có ước mơ về tương lai của mình không? Nếu có hãy tham gia #synod18! https://t.co/XNDm29yp3s

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/8/2017 

- When something makes us suffer, let us listen to the voice of Jesus in our hearts: “Do not fear! Go ahead! I am with you!”.
Khi có điều gì đó làm chúng ta đau khổ, hãy lắng nghe tiếng Chúa Giêsu nói trong lòng chúng ta: “Đừng sợ! hãy tiến về phía trước! Ta ở với con!”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/8/2017 

- Jesus does not leave us alone because we are precious to Him.
Chúa Giêsu không để chúng ta đơn độc, vì chúng ta thật quý giá trước mặt Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/8/2017 

- In witnessing to the faith what counts is not success, but fidelity to Christ.
Trong việc làm chứng cho đức tin, giá trị không ở trong sự thành công mà là trong sự trung tín với Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/8/2017 

- Today we give glory to God for the work of Saint Dominic in the service of the Gospel which he preached with his words and his life.
Hôm nay chúng ta tạ ơn Chúa vì thánh Đôminicô đã dấn thân phục vụ Tin Mừng mà ngài đã rao giảng bằng lời nói và cuộc sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/8/2017 

- Forgiveness sets our hearts free and allows us to start anew. Forgiveness gives hope. Without forgiveness, the Church is not built up.
Tha thứ giải thoát con tim và giúp ta bắt đầu lại. Tha thứ mang lại niềm hy vọng. Không thể xây dựng Giáo Hội mà không tha thứ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/8/2017 

- Hope is the virtue of a heart that doesn't lock itself into darkness, that doesn't dwell on the past, but is able to see a tomorrow.
Niềm hy vọng là đức tính của một tâm hồn không tự giam mình trong bóng tối, trong quá khứ, nhưng của một tâm hồn biết nhìn về tương lai.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/8/2017 

- Other people are gifts to be received with respect, especially if they are weak and frail, because Christ comes to meet us in them.
Tha nhân là món quà cần trân trọng đón nhận, nhất là khi đó là những con người yếu đuối và dễ tổn thương, bởi vì qua họ Đức Kitô đến để gặp gỡ chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/8/2017 

- The Gospel is Good News filled with contagious joy, for it contains and offers new life.
Phúc Âm là Tin Mừng đầy niềm vui lan tỏa, vì nó chứa đựng và mang lại cuộc sống mới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/8/2017 

- We effectively do good when we do it without seeking reward and in the concrete situations of everyday life.
Chúng ta làm việc thiện cách hiệu quả khi chúng ta làm điều đó mà không tìm phần thưởng và thực hiện trong những tình huống cụ thể của đời sống hàng ngày.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/7/2017 

- When we need help, let us turn to the Father who always looks on us with love and never abandons us.
Khi cần trợ giúp, chúng ta hãy hướng lòng về Chúa Cha, Đấng luôn yêu thương đoái nhìn chúng ta và không bao giờ bỏ rơi chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/7/2017 

- We must overcome all forms of racism, of intolerance and of the instrumentalization of the human person.
Cần phải loại bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, phân biệt đối xử và biến con người thành công cụ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/7/2017 

- Let us be led by the Virgin Mary on the path that leads to the holy mountain that is Christ, where God and man meet.
Chúng ta hãy để Đức Trinh nữ Maria dẫn dắt trên con đường đến núi thánh là Đức Kitô, nơi đó Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/7/2017 

- Europe has a unique patrimony of ideals and spiritual values, one that deserves to be proposed again with passion and renewed vigour.
Châu Âu sở hữu một di sản độc nhất các giá trị tư tưởng và tâm linh đáng được khơi dậy với niềm đam mê và sức sống mới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/7/2017 

- I entrust sailors, fishermen, and all those in difficulty on the seas faraway from home, to the motherly protection of Mary, Star of the Sea.
Tôi phó thác các thủy thủ, ngư dân, và tất cả những ai xa nhà gian khổ trên biển khơi, dưới sự che chở hiền mẫu của Mẹ Sao Biển.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ





HIỆP THÔNG THÁNG 08/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 58
  • Hôm nay: 12773
  • Tháng hiện tại: 295356
  • Tổng lượt truy cập: 18722444