Banner giua trang

Chúa nhật 3 Mùa Vọng A. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 06/12/2016 20:29 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Thánh Gioan là một người rất nhạy bén trước tội lỗi, ông không thể chịu đựng tội lỗi, ông đã can đảm tố cáo tội của tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pát, bất chấp hậu quả mà mình phải gánh chịu.
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG

 
Hằng năm vào Chúa Nhật III Mùa Vọng, Phụng Vụ Lời Chúa mời gọi người Ki tô hữu hãy vui lên vì đại lễ Giáng Sinh sắp đến gần rồi.
 
Is 35: 1-10
 
Bài Đọc I, trích sách I-sai-a, mô tả trước niềm hân hoan mà những người lưu đày tại Ba-by-lon cảm thấy giờ giải thoát của họ sắp đến. Cùng chung niềm vui với họ, thiên nhiên và sa mạc, nơi bước chân của họ đi qua, sẽ tưng bừng nở hoa.
 
Gc 5: 7-10
 
Trong Thư gởi cho các tín hữu đang phải chịu những thử thách trăm chiều, thánh Gia-cô-bê khuyên họ hãy kiên nhẫn, thậm chí hãy vui lên, “vì Chúa sắp đến rồi”.
 
Mt 11: 2-11
 
Tin Mừng thuật lại việc Gioan Tẩy Giả trong cảnh tù ngục đã sai các môn đệ của mình đến hỏi Chúa Giê-su có phải Ngài là Đấng Mê-si-a hay không. Chúa Giê-su đáp lại bằng cách nhấn mạnh rằng Tin Mừng được loan báo cho những người nghèo hèn và bất hạnh: người mù được thấy, người điếc được nghe, người phong hủi được chữa lành. Chúa Giê-su khai mạc triều đại tình yêu và tha thứ.
 
BÀI ĐỌC I (Is 35: 1-10)
 
Như chúng ta đã biết, tác phẩm I-sai-a không là tác phẩm của một tác giả, nhưng công trình sưu tập ba tác phẩm của ba tác giả thuộc ba thời kỳ khác nhau: trước hết, tác phẩm thứ nhất, từ chương 1 đến chương 39, là tác phẩm của chính vị ngôn sứ I-sai-a, vị ngôn sứ tiền lưu đày vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên; tiếp đó, tác phẩm thứ hai, từ chương 40 đến chương 55, là tác phẩm của một vị ngôn sứ thời lưu đày, biệt danh là ngôn sứ I-sai đệ nhị; sau cùng, tác phẩm thứ ba, từ chương 56 đến chương 66, là tác phẩm của vị ngôn sứ hậu lưu đày, biệt danh ngôn sứ I-sai-a đệ tam.
 
Tuy nhiên, chương 35 thì ngoại lệ: chương này có thời biểu muộn thời hơn và qua chủ đề và cung giọng của nó gần với tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị hơn, vị ngôn sứ thời lưu đày Ba-by-lon, ông an ủi đồng bào của ông và báo trước cho họ biết cuộc giải phóng gần kề (giữa năm 550 và 540 trước Công Nguyên). Chính xác đây là chủ đề của đoạn văn mà Phụng Vụ Chúa Nhật III Mùa Vọng mời gọi chúng ta suy gẫm hôm nay. Bị giam cầm gần một nữa thế kỷ đã qua ở Ba-by-lon, những người lưu đày cứ ngở rằng mình sẽ gởi nắm xương tàn ở đất khách quê người. Ấy vậy, vị ngôn sứ loan tin rằng Đức Chúa sắp giải thoát họ và dẫn đưa họ trở về quê cha đất tổ.
 
1. Những viễn cảnh diệu kỳ:
 
Để từ Ba-by-lon trở về Giê-ru-sa-lem, những người lưu đày sẽ phải băng qua sa mạc Xy-ri. Đức Chúa sẽ thực hiện những điều kỳ diệu thuận tiện cho cuộc xuất hành mới này, vì “sắp tới ngày Thiên Chúa báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội”. Qua bài thi ca, theo văn phong phóng dụ, đầy những hình ảnh thi vị, vị ngôn sứ mô tả sa mạc không còn là vùng đất hoang vu khô cằn nắng cháy, nhưng tưng bừng nở hoa, rợp bóng mát của những cây cối tốt tươi như rừng Li-băng, và phản chiếu vẻ rực rỡ của núi Các-men và đồng bằng Sa-ron (đồng bằng Pa-lét-tin vốn nổi tiếng là phì nhiêu và nhiều hoa hồng tuyệt đẹp). Cuộc hồi hương trở về Thành Thánh quá phấn khởi đến mức người mù sẽ thấy được, người điếc sẽ nghe được, người câm sẽ kêu lên trong niềm vui vỡ òa.
 
2. Dấu chỉ của việc Thiên Chúa thứ tha:
 
Trước tiên, chúng ta nhận ra chủ đề Kinh Thánh về sự liên đới của thiên nhiên với vận mệnh con người. Mặt đất liên kết mình với niềm hoan hĩ của đoàn người hồi hương. Ngoài ra, những tật nguyền thể lý sẽ biến mất. Chúng ta biết rằng vào thời xa xưa này – thậm chí vào thời Chúa Giê-su (Ga 9: 1-3) – những tật nguyền thể lý được xem như những án phạt của tội lỗi. Nếu những người mù thấy lại ánh sáng, người điếc nghe được tiếng cười vui và người què nhảy nhót như nai, chắc chắn đây là cách diễn tả niềm hân hoan của những người lưu đày gặp lại quê cha đất tổ của mình, nhưng nguyên do còn sâu xa hơn: những tội lỗi của dân đã được Thiên Chúa tha thứ.
 
Thiên Chúa đã bày tỏ lòng xót thương: “Chính Người sẽ đến cứu chuộc anh em”. Ngài sẽ cứu chuộc dân Ngài như một người thân chuộc lại bà con họ hàng của mình lâm vào cảnh đời nô lệ vì nợ nần và đưa họ trở lại gia tộc của mình. Theo tập tục vào thời đó, ai không thể trả nợ bị người chủ nợ bắt làm nô lệ. Người thân gần nhất đứng ra chuộc lại mà ngôn ngữ Híp-ri gọi là “goèl”. Chính người này cũng đảm nhận trách nhiệm báo thù cho những oan ức mà người ấy phải chịu.
 
Bản văn này minh họa một khái niệm căn bản của Cựu Ước: mối liên hệ giữa ý tưởng Tạo Dựng và ý tưởng Cứu Chuộc. Chính vì Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo nên Ngài cũng là Đấng Cứu Chuộc, vì sự tha thứ tội lỗi là một công trình sáng tạo mới. Ở đây, trong đoạn văn này, mối liên hệ này rất minh nhiên. Thiên Chúa sáng tạo khi biến đổi sa mạc, Thiên Chúa sáng tạo khi phục hồi những kẻ tật nguyền. Chính sự tha thứ của Ngài là nguồn mạch của cuộc sáng tạo mới này, sự tha thứ của Ngài hoàn lại sự sống.
 
Cảnh tù đày ở Ba-by-lon (như cảnh đời nô lệ ở bên Ai-cập) là hình ảnh về cảnh đời nô lệ của tội lỗi. Cuộc giải phóng mà vị ngôn sứ loan báo tiên trưng cuộc giải phóng triệt để hơn, vĩnh viễn hơn, đó là cuộc giải phóng mà Đức Ki-tô mang đến, “việc chuộc lại” này mà chúng ta gọi “Ơn Cứu Chuộc”, không có nghĩa gì khác hơn là “tái tạo chúng ta”. Vào những ngày gần đến lễ Giáng Sinh, giọng nói của vị ngôn sứ vang lên qua nhiều thế kỷ: “Thiên Chúa đích thân ngự đến và sắp cứu chuộc chúng ta”.
 
BÀI ĐỌC II (Gc 5: 7-10)
 
Thánh Gia-cô-bê mời gọi các tín hữu hãy kiên nhẫn. Bản văn này có chủ ý đặt vào giữa hai thời điểm: những người lưu đày nóng lòng được trở về quê cha đất tổ (Bài Đọc I) và Gioan Tẩy Giả mong chờ Đấng Mê-si-a sớm thực hiện sứ mạng “thưởng công phạt tội” của Ngài (đoạn Tin Mừng hôm nay).
 
1. Tác giả và tác phẩm:
 
Bức thư này được gán cho thánh Gia-cô-bê, anh em họ của Chúa Giê-su, vị lãnh tụ cộng đoàn Giê-ru-sa-lem tiên khởi, bị ném đá chết vào năm 62 sau Công Nguyên do sự xúi dục của vị thượng tế thời đó. Vì thế, thánh nhân không là thánh Gia-cô-bê Tông Đồ, anh của thánh Gioan, hai con của ông An-phê, được phúc tử đạo vào năm 44 sau Công Nguyên. Vả lại ngay từ đầu thư, thánh nhân tự giới thiệu mình không là Tông Đồ mà là: “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô”. Để phân biệt hai vị thánh trùng tên này, người ta gọi thánh Gia-cô-bê Tông Đồ là thánh Gia-cô-bê Tiền và thánh Gia-cô-bê, người anh em họ của Chúa Giê-su, là thánh Gia-cô-bê Hậu. Chính thánh Gia-cô-bê Hậu này mà, theo thánh Phao-lô, Chúa Giê-su hiện ra sau khi Ngài sống lại (1Cr 15: 6-7).
 
Thư này được gởi cho các cộng đoàn Ki tô hữu gốc Do thái, phân tán khắp thế giới La-Hy. Sống ở giữa những anh em Do thái vẫn một mực trung thành lề luật Mô-sê. Những người Ki tô hữu gốc Do thái này gặp phải biết bao khó khăn trong việc thực hành đức tin của mình và là đối tượng của những quấy nhiễu. Vì thế, ngay từ đầu thư thánh Gia-cô-bê an ủi họ: “Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn. Chớ gì anh em chứng tỏ lòng kiên nhẫn đó ra bằng những việc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không có chi đáng trách, không thiếu sót điều gì” (Gc 1: 2-4).
 
2. Vị Thẩm Phán đang đứng ở ngoài cửa:
 
Đoạn trích Thư chúng ta đọc hôm nay thuộc vào những lời khuyên bảo sau cùng của thánh nhân: thực hành đức kiên nhẫn trong thinh lặng, đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau, ngay cả những người bách hại mình; có như vậy, anh em mới “khỏi bị xét xử”, hàm ý quy chiếu đến lời của Chúa Giê-su: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha” (Lc 6: 37). Lý do được nêu lên: “Vì Chúa sắp đến gần rồi”. Thế hệ Ki-tô hữu đầu tiên đã sống trong niềm hy vọng này: “Vị Thẩm Phán đang đứng ngoài cửa”. Vào thời xưa, người ta xử án ở ngoài cổng thành. Ở đây, thánh Gia-cô-bê chuyển dời hình ảnh này sang lãnh vực tinh thần và muốn nói rằng vị Thẩm Phán đang đứng ngoài ngưỡng cửa nhà chúng ta, Ngài sẵn sàng bước vào (x. Mt 24: 33; Mc 13: 29). Thậm chí sách Khải Huyền lấy lại hình ảnh này, nhưng không còn trong viễn cảnh của ngày chung thẩm, mà là trong viễn cảnh của mối thân tình: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3: 20). Chúng ta có thể nói thêm mà không sợ ngược lại tư tưởng của tác giả: “Hãy kiên nhẫn, vì anh em không biết ngày nào giờ nào”. Chữ “kiên nhẫn”, theo nghĩa mạnh của từ, có nghĩa là biết chịu đựng những gian khổ như các ngôn sứ đã từng chịu.
 
3. Noi gương các ngôn sứ:
 
“Về sức chịu đựng và lòng kiên nhẫn, anh em hãy noi gương các ngôn sứ, là những vị đã nói nhân danh Chúa”. Theo truyền thống Do thái, đa số ngôn sứ đều là những người bị ngược đãi, bị bách hại và bị giết chết. Truyền thống nói rằng ngôn sứ I-sai-a bị xử tử, ngôn sứ Mi-kha bị lăng nhục, ngôn sứ Giê-rê-mi-a bị đánh đòn và bị tống giam vào tù, chưa nói đến biết bao ngôn sứ bị giết chết dưới triều đại vua A-kháp và vua Giô-a-kim, và cũng có thể dưới triều đại vua Ma-na-sê vô đạo. Lời khóc thương thành Giê-ru-sa-lem của Chúa Giê-su chứng thực sự kiện này: “Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được được sai đến cùng ngươi!” (Lc 13: 34). Trong Tin Mừng Mát-thêu, Mối Phúc sau cùng kết thúc với việc nêu lên những bách hại mà các ngôn sứ phải chịu: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sĩ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa… Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5: 11-12).
 
Rõ ràng thánh Gia-cô-bê thấm nhuần giáo huấn của các Mối Phúc Thật. Phúc thay những người nghèo và những người bị bách hại, được lập đi lập lại trong Thư của thánh nhân như một điệp khúc. Việc thánh nhân ám chỉ đến số phận của các ngôn sứ, dù rất ngắn, dẫn đưa chúng ta vào bản văn Tin Mừng: thánh Gioan Tẩy Giả bị tống giam vào ngục.
 
TIN MỪNG (Mt 11: 2-11)
 
Thánh Gioan Tẩy Giả đã bị Hê-rô-đê An-ti-pát tống giam vào ngục. Vị Tiền Hô đã can đảm tố cáo một nhân vật quyền cao chức trọng nhất trong xứ sở mà không một chút sợ hãi, vì vị tiểu vương này đã muốn lấy bà Hê-rô-đi-a, vợ của người anh mình là tiểu vương Phi-líp-phê. Như vậy, thánh nhân đã chịu bạo lực như Chúa Giê-su đã loan báo cho các môn đệ Ngài (10: 16-25).
 
1. Câu hỏi của thánh Gioan Tẩy Giả:
 
Thánh Gioan là một người rất nhạy bén trước tội lỗi, ông không thể chịu đựng tội lỗi, ông đã can đảm tố cáo tội của tiểu vương Hê-rô-đê An-ti-pát, bất chấp hậu quả mà mình phải gánh chịu. Chính thánh nhân đã loan báo rằng thời Chúa Giê-su, thời xét xử đã đến, thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt. Ấy vậy, trong khi đang bị giam trong tù, thánh nhân đã nghe các môn đệ của mình thuật lại rằng Đức Giê-su giao du với những kẻ tội lỗi, vào trong nhà của họ, đồng bàn với họ và tha thứ tội lỗi cho họ. Vì thế, thánh nhân đâm lòng ngờ vực về tính cách Mê-si-a của Chúa Giê-su, nên sai các môn đệ của mình đến hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn đợi ai khác?”.
 
2. Câu trả lời của Chúa Giê-su:
 
Chúa Giê-su trả lời bằng cách trích dẫn ba đoạn văn I-sai-a đều có hậu cảnh Mê-si-a: trước hết, Is 29: 17-18: người điếc được nghe, người mù được thấy; tiếp đó, Is 26: 19: người chết sống lại; sau cùng, Is 61: 1: loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
 
Câu trích dẫn sau cùng là rõ ràng nhất, vì được đặt lại vào trong mạch văn của nó, đoạn văn này hình thành nên một sứ điệp mà Chúa Giê-su nhắn gởi cho thánh Gioan Tẩy Giả. Quả thật, lời loan báo đầy đủ của I-sai-a như sau: “Thần Khí Đức Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn”. Vì thế, Chúa Giê-su đồng hóa mình với Đấng được Thiên Chúa xức dầu tấn phong, tức Đấng Mê-si-a. Tuy nhiên, Chúa Giê-su có chủ ý không trích dẫn lời loan báo tiếp liền ngay sau của vị ngôn sứ này: “băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân”. Việc bỏ rơi này cũng có ý nghĩa. Gioan Tẩy Giả không thể không hiểu: thánh nhân phải đảm nhận sự thử thách của mình.
 
Những ám chỉ Kinh Thánh này nhắc nhở cho vị Tiền Hô rằng kỷ nguyên Mê-si-a phải được thiết lập, nhưng không bằng bạo lực mà bằng những ân phúc, Kinh Thánh đã thấy trước cách thức hành động này của Đấng Mê-si-a. Qua đó, Chúa Giê-su công bố rằng mùa thu hoạch, nghĩa là ngày Thiên Chúa thưởng công báo oán, chưa đến. Nhiều vị thánh đã kinh qua những giai đoạn nghi nan ngờ vực, đêm tăm tối của đức tin. Hơn nữa, cuộc đời của Gioan Tẩy Giả báo trước nhiều điểm cuộc đời của Chúa Ki-tô. Chúa Giê-su cũng đã cảm thấy chơ vơ cô quạnh trong viễn cảnh của cuộc khổ nạn sắp đến. Thánh Thần, Đấng đã hằng nâng đỡ Ngài, dường như đã bỏ rơi mình.
 
3. Chúa Giê-su ca ngợi thánh Gioan Tẩy Giả:
 
Sau khi các môn đệ của Gioan ra đi, Chúa Giê-su ngỏ lời với đám đông, Ngài hết lời ca ngợi thánh Gioan Tẩy Giả. Đức Giê-su ca ngợi đức công minh chính trực của thánh nhân: không khuất phục trước bạo quyền khác với cậy sậy ngã nghiêng uốn mình nương theo chiều gió và cách sống khổ hạnh của thánh nhân trong hoang địa ngược lại với những người mặc gấm vóc lụa trong dinh thự nguy nga tráng lệ. Chính qua cung cách sống của mình, thánh nhân hiện thân một vị ngôn sứ, tức là người nói nhân danh Thiên Chúa, thế vì Thiên Chúa. Hơn nữa, thánh nhân còn cao trọng hơn các ngôn sứ trước ông, bởi vì các ngôn sứ chỉ loan báo Đấng Mê-si-a, trong khi thánh Gioan không chỉ loan báo mà còn đích thân gặp gỡ Đấng Mê-si-a và chỉ cho người ta thấy Đấng Mê-si-a nữa.
 
4. Sự trổi vượt của thời Tân Ước so với thời Cựu Ước:
 
Bất ngờ cung giọng thay đổi, Chúa Giê-su công bố những lời gây bối rối cho người nghe: “Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời con cao trọng hơn ông”. Ở đây, Chúa Giê-su không nhắm đến công đức cho bằng hai thời kỳ, thời Cựu Ước và thời Tân Ước, và những người được dự phần vào hai thời kỳ ấy. Chúa Giê-su khai mạc thời kỳ Tân Ước, tức là thời kỳ thực hiện và kiện toàn những gì thời kỳ Cựu Ước loan báo và chuẩn bị. Như vậy, thời kỳ Tân Ước trổi vượt hơn thời kỳ Cưu Ước mà thánh Gioan, một trong các ngôn sứ, vẫn thuộc vào thời kỳ Cựu Ước này. Lúc đó, phản đề nhắm đến hai trật tự vĩ đại: cái vĩ đại của Gioan Tẩy Giả, ông không chỉ là một trong các ngôn sứ nhưng còn là vị Tiền Hô của Đấng Mê-si-a, và cái vĩ đại khôn sánh của những những người thuộc về thời Tân Ước, thời Đấng Mê-si-a, như sau này Chúa Giê-su nói rõ với các môn đệ Ngài: “Còn anh em, mắt anh em thật có phúc, vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe. Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Mt 13: 16-17).
 
Trong một bối cảnh khác, Chúa Giê-su sử dụng lập luận tương tự: trong đám đông có một phụ nữ lên tiếng: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm!”, Chúa Giê-su đáp lại: “Phúc thay kẻ lắng nghe và thực thi lời Thiên Chúa” (Lc 11: 27-28). Chúa Giê-su không muốn giảm thiểu sự cao cả của Mẹ Ngài một chút nào, rõ ràng Mẹ Ngài là mẫu gương của những ai lắng nghe và thực thi lời Thiên Chúa, nhưng nhằm mở rộng “mối phúc này” cho hết mọi người. Ở đây cũng vậy, Chúa Giê-su không tìm cách giảm thiểu Gioan Tẩy Giả, nhưng nhằm đảm bảo với thính giả của Ngài: Nước Thiên Chúa không chỉ được dành riêng cho các ngôn sứ, nhưng cho hết mọi người; ai cũng đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa mà Ngài khai mạc.  
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 04/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/04/2017 

- Let’s promote friendship and respect between men and women of different religious traditions in order to build a world of peace.
Chúng ta hãy thúc đẩy tình hữu nghị và sự tôn trọng giữa những con người của các truyền thống tôn giáo khác nhau nhằm xây dựng một thế giới hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/04/2017 

- He died, He was buried, He rose and He appeared. Jesus is alive! This is the heart of the Christian message.
Ngài đã chết, Ngài đã được khâm liệm, Ngài đã sống lại và Ngài đã hiện ra: Đức Giêsu là Đấng Hằng Sống! Đó là tâm điểm của sứ điệp Kitô giáo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/04/2017 

- If we had God’s Word always in our heart, no temptation could separate us from God.
Nếu Lời Chúa luôn ở trong con tim chúng ta thì không cám dỗ nào có thể làm chúng ta xa rời Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/04/2017 

- Let us pray for the grace to never grow tired of drawing from the well of the Father’s mercy and bringing it to the world.
Chúng ta hãy cầu xin ơn Chúa cho chúng ta đừng bao giờ mỏi mệt múc lấy lòng thương xót của Chúa Cha và mang đến cho thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/04/2017 

- God’s mercy is forever; it never ends, it never runs out, it never gives up when faced with closed doors, and it never tires.
Lòng thương xót Chúa tồn tại đến muôn đời: nó không có kết thúc, không khô cạn, không bỏ cuộc trước những tâm hồn khép kín, và không bao giờ biết mệt mỏi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/04/2017 

- Lord, bring healing to our lives, that we may protect the world and not prey on it, that we may sow beauty, not pollution and destruction.
Lạy Chúa, xin cứu chữa chúng con, để chúng con trở thành người bảo vệ thay vì hủy hoại thế giới, trở thành người vun trồng vẻ đẹp thay vì làm ô nhiễm và tàn phá.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/04/2017 

- When we have reached the lowest point of our misery and our weakness, the Risen Christ gives us the strength to rise again.
Khi chúng ta rơi vào tận cùng nỗi thống khổ và yếu nhược, Đức Kitô phục sinh ban cho ta sức mạnh để lại chỗi dậy.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/04/2017 

- During this week of Easter it would do us good every day to read a passage from the Gospel which speaks of the Resurrection of Christ.
Từ khi Đức Kitô phục sinh, chúng ta có thể nhìn mọi biến cố của đời sống chúng ta bằng con mắt mới và trái tim mới, ngay cả biến cố bi quan nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/04/2017 

- Let us meditate with wonder and gratitude on the great mystery of the Lord’s Resurrection.
Chúng ta hãy chiêm ngắm mầu nhiệm phục sinh vĩ đại của Chúa với niềm ngợi khen và tri ân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/04/2017 

- During this week of Easter it would do us good every day to read a passage from the Gospel which speaks of the Resurrection of Christ.
Trong tuần Phục sinh này, thật có ích cho chúng ta khi mỗi ngày đọc một đoạn Tin Mừng nói về sự sống lại của Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/04/2017 

- Yes, we are sure of it: Christ indeed from death is risen!
Vâng, chúng tôi xác thực điều này: Đức Kitô đã thực sự sống lại từ cõi chết!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/04/2017 

- Happy Easter! May you bring to all the joy and hope of the Risen Christ!
Mừng Chúa Phục Sinh! Ước mong anh chị em mang niềm vui và niềm hy vọng của Đức Kitô Phục Sinh đến cho tất cả mọi người!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/04/2017 

- Today is the celebration of our hope, the celebration of this truth: nothing and no one will ever be able to separate us from God’s love.
Hôm nay là lễ mừng niềm hy vọng của chúng ta, là sự biểu dương sự thật này: Không gì và không ai có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/04/2017 

- O Cross of Christ, teach us that the rising of the sun is more powerful than the darkness of night, and God’s eternal love wins always.
Hỡi thập giá Đức Kitô, xin dạy chúng tôi biết ánh bình minh mạnh hơn bóng đêm, và tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa luôn chiến thắng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/04/2017 

- It is good for us to break out of our set ways, because it is proper to the Heart of God to overflow with tenderness, with ever more to give.
Thật là tốt khi chúng ta thoát khỏi lề lối của bản thân, bởi vì đó là đặc trưng của trái tim Thiên Chúa tràn ngập lòng thương xót, tràn ngập, tuôn chảy tình thương của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/04/2017 

- While the mystery of evil is profound, the reality of God’s Love poured out through Jesus is infinite and victorious.
Trong lúc bí ẩn của sự dữ là vực sâu, thì hiện thực Tình Yêu Thiên Chúa tuôn đổ qua Đức Giêsu là vô biên và vinh thắng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/04/2017 

- Jesus comes to save us; we are called to choose his way: the way of service, of giving, of forgetfulness of ourselves.
Đức Giêsu đến cứu chúng ta; chúng ta được mời gọi chọn con đường của Ngài: Đường phục vụ, đường trao ban, đường quên mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/04/2017 

- During this Holy Week let us focus our gaze on Jesus and ask for the grace to better understand the mystery of his sacrifice for our sake.
Trong Tuần Thánh này chúng ta hãy hướng sự chú ý vào Chúa Giêsu và cầu xin ơn Chúa cho chúng ta thấu hiểu hơn mầu nhiệm hy tế của Ngài vì chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/04/2017 

- O Cross of Christ, inspire in us a desire for God, for goodness and for light.
Hỡi thập giá Đức Kitô, xin khơi dậy nơi chúng tôi niềm khao khát Thiên Chúa, khao khát điều tốt lành và ánh sáng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/04/2017 

- Dear young friends, don’t be afraid to say “yes” to Jesus with all your heart, to respond generously and to follow him!
Các bạn trẻ thân mến, đừng sợ nói “vâng” với Đức Giêsu bằng tất cả tâm can, để quảng đại đáp lại và bước theo Ngài!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/04/2017 

- Lent is a period of repentance aimed at enabling ourselves to rise with Christ, to renew our baptismal identity.
Mùa Chay là thời kỳ sám hối để chúng ta được sống lại với Đức Kitô, để làm mới lại căn tính bí tích rửa tội của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/04/2017 

- Hope helps believers to be open to the surprises God has in store for us.
Niềm hy vọng giúp người tín hữu cởi mở với những điều bất ngờ Chúa dành cho chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/04/2017 

- Let us follow in the footsteps of Christ, especially by dedicating ourselves to our brothers and sisters in need.
Chúng ta hãy theo dấu chân Đức Kitô, đặc biệt dấn thân phục vụ anh chị em đang cần giúp đỡ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/04/2017 

- Today is the International Day of Mine Awareness. Let us please renew the commitment for a world without mines!
Hôm nay là ngày Quốc Tế Phòng Chống Bom Mìn. Chúng ta hãy làm mới lại cam kết cho một thế giới không có bom mìn!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/04/2017 

- Lent is, by nature, a time of hope because it leads us to be born anew “of the spirit”, by the love of God.
Bản chất Mùa Chay là mùa của hy vọng vì đưa chúng ta đến cuộc tái sinh “thiêng liêng” bởi tình yêu của Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/04/2017 

- When the Holy Spirit abides in our hearts, it is he who makes us understand that the Lord is near and takes care of us.
Khi Chúa Thánh Thần cư ngụ trong trái tim chúng ta, Ngài sẽ cho chúng ta hiểu rằng có Chúa kề bên và chăm sóc chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/04/2017 

- Even in the hardest and most disturbing moments, the Lord’s mercy and goodness are greater than every thing.
Ngay cả trong những lúc khó khăn và rắc rối nhất, lòng thương xót và lòng nhân hậu của Thiên Chúa vẫn lớn hơn mọi thứ.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 04/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 121
  • Hôm nay: 1919
  • Tháng hiện tại: 337670
  • Tổng lượt truy cập: 16908184