Banner giua trang

Chúa nhật 28 TN C. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 04/10/2016 20:48 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay nêu lên cho chúng ta một bài học: Con đường niềm tin là con đường của tâm tình cảm tạ và tri ân. Con đường này rộng mở cho hết mọi người.
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

 
Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay nêu lên cho chúng ta một bài học: Con đường niềm tin là con đường của tâm tình cảm tạ và tri ân. Con đường này rộng mở cho hết mọi người.
 
2V 5: 14-17
 
Sách Các Vua quyển thứ hai thuật lại chuyện một quan đại thần ngoại bang, kẻ thù của dân Ít-ra-en, ông Na-a-man xứ Xy-ri-a, được chữa lành bệnh phong hủi, nhờ sự can thiệp của ngôn sứ Ê-li-sa. Ông Na-a-man nhận ra hành động của Thiên Chúa Ít-ra-en và bày tỏ tấm lòng cảm tạ tri ân bằng lời tuyên xưng đức tin của mình.
 
2Tm 2: 8-13
 
Trong những lời tâm huyết gởi cho người môn đệ thân mến của mình, là ông Ti-mô-thê, thánh Phao-lô nhắc nhở ông rằng đức tin được đặt trên sự kiện vững chắc: cuộc Phục Sinh của Chúa Giê-su. Những ai chia sẻ đau khổ và cái chết của Chúa Ki-tô, sẽ được sống lại với Ngài.
 
Lc 17: 11-19
 
Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giê-su chữa lành mười người phong hủi. Chỉ một người duy nhất, một người Sa-ma-ri, trở lại bày tỏ tấm lòng cảm tạ tri ân. Tâm tình cảm tạ tri ân này mở ra cho anh con đường đức tin và cứu độ.
 
BÀI ĐỌC I (2V 5: 14-17)
 
Hai sách Các Vua ghi lại các triều đại của mười chín vị vua Ít-ra-en (vương quốc miền Bắc) và của hai mươi vị vua Giu-đa (vương quốc miền Nam). Hai sách này cũng dành một vai trò quan trọng cho các vị ngôn sứ như Ê-li-a, Ê-li-sa và I-sai-a.
 
Hai cuốn sách này chứa đựng một số lượng những giai thoại vừa mang tính lịch sử vừa có tính dân gian. Giai thoại về việc chữa lành bệnh phong hủi của quan đại thần Na-a-man xứ Xy-ri-a không phải là không có cơ sở lịch sử. Công trình biên soạn sau cùng của hai tác phẩm này được đặt vào niên biểu cuối thế kỷ thứ sáu, nhưng những chứng liệu và truyền thống cổ xưa lại được nhà biên soạn sử dụng. Tên Na-a-man được chứng thực trong những bản văn ngoài Kinh Thánh.
 
1. Quan đại thần Na-a-man xứ Xy-ri-a:
 
Ngôn sứ Ê-li-sa là môn đệ truyền chân của ngôn sứ Ê-li-a. Tiếp tục sứ vụ của thầy mình, ngôn sứ Ê-li-sa thi hành sứ vụ của mình ở vương quốc miền Bắc, kinh đô là Sa-ma-ri, vào giữa thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên.
 
Ông Na-a-man là tướng chỉ huy quân đội của vua A-ram (miền Đa-mát). Danh tánh của vị vua này chưa được xác định. Vị tướng này đã lừng danh trong cuộc chiến thắng quân đội Ít-ra-en. Nhưng ông mắc phải chứng bệnh phong hủi.
 
2. Cuộc vận động của quan đại thần Na-a-man:
 
Đoạn trích hôm nay chỉ nói đến tình tiết chính yếu về việc quan đại thần của vua A-ram được chữa lành. Tuy nhiên, những chi tiết trước đó rất ý nhị không thể bỏ qua. Trong những cuộc xuất chinh vào đất Ít-ra-en, quân đội A-ram đã bắt đưa về nhiều tù nhân. Vì thế, bà vợ của quan đại thần Na-a-man có một tớ gái người Ít-ra-en giúp việc. Người tớ gái này gợi ý với bà chủ: “Ôi, phải chi ông chủ con được giáp mặt vị ngôn sứ ở Sa-ma-ri, thì chắc ngôn sứ sẽ chữa ông khỏi bệnh phong hủi” (5: 3).
 
Sau nhiều vận động ngoại giao, quan đại thần Na-a-man đến kinh đô Sa-ma-ri để mong được ngôn sứ Ê-li-sa chữa lành bệnh cho mình. Ngôn sứ Ê-li-sa không đích thân ra đón tiếp quan đại thần Na-a-man mà chỉ sai sứ giả đến nói với ông Na-a-man là đi tắm bảy lần trong sông Gio-đan thì ông sẽ được khỏi bệnh. Quan đại thần không ngờ cách tiếp đón và cách chữa trị như thế nên ông đã nổi giận và tức tối bỏ đi. Bấy giờ, các tôi tớ của ông khuyên ông cứ thử thi hành đều ngôn sứ chỉ dạy xem sao. Đại thần Na-a-man bình tâm lại, xuống tắm bảy lần trong dòng sông Gio-đan như lời ngôn sứ truyền và ông được lành sạch.
 
3. Niềm tin của quan đại thần Na-a-man:
 
Chính ở đây bắt đầu chuyện tích về việc ông Na-a-man được chữa lành mà chúng ta đọc hôm nay. Ở nơi chuyện tích này, tác giả đã biết nêu bật những yếu tố tinh thần. Quan đại thần Na-a-man nhận ra hành động của Thiên Chúa Ít-ra-en và tuyên xưng rằng: “Nay tôi biết rằng: trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Ít-ra-en”. Để tỏ lòng tôn kính và tạ ơn, ông muốn dâng những lễ vật cho vị ngôn sứ; nhưng vị ngôn sứ nhất quyết từ chối, bởi vì mình chỉ là người trung gian của Thiên Chúa. Chủ đích của vị ngôn sứ chính là hướng tất cả tâm tình cảm tạ và tri ân của quan đại thần Na-a-man về tác giả duy nhất, Đấng đã chữa lành ông, đó là Đức Chúa. Nước sông Gio-đan chỉ là yếu tố vật chất, yếu tố “bí tích”. Phải nói rằng Đức Chúa đón nhận tấm lòng thành tín và ban ân huệ cả cho những người ngoại bang lẫn cho con cái Ít-ra-en.
 
Quan đại thần Na-a-man không chỉ tuyên xưng đức tin của mình mà còn làm một cử chỉ thật ý nghĩa: ông xin được đem về quê hương của ông một số đất Ít-ra-en để xây dựng cho mình một bàn thờ dâng hy lễ kính Thiên Chúa duy nhất và chân thật. Dưới nhãn quang của ông, đất xứ sở ông không là thánh địa.

Chúng ta nên đọc quá khuôn khổ đoạn trích hôm nay, vì những chi tiết tiếp liền sau đó đáng được quan tâm: quan đại thần Na-a-man rất cẩn trọng: ông biết rằng khi trở về quê hương ông, vì những chức vụ ông đảm nhận, ông buộc phải tham dự vào những nghi thức tôn kính các vị thần linh của đất nước ông. Vì thế, ông ngỏ lời với ngôn sứ Ê-li-sa: “Xin Đức Chúa tha thứ điều ấy cho tôi tớ ngài”. Lúc đó, ngôn sứ Ê-li-sa, người của Thiên Chúa, cầu chúc cho ông một cách giản dị: “Ông đi bằng an”. Với câu chuyện này, chúng ta sống rồi trong bầu khí Tin Mừng.
 
BÀI ĐỌC II (2Tm 2: 8-13)
 
Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi cho người môn đệ, đồng thời cũng là cộng tác viên của thánh nhân, là ông Ti-mô-thê.
 
1. Bối cảnh:
 
Thánh Phao-lô, lúc đó đang bị giam cầm và biết rằng cái chết của mình sắp gần kề, gởi cho ông Ti-mô-thê những lời tâm huyết của mình. Trong đoạn trích tuần trước, thánh nhân đã khuyên người môn đệ của mình hãy can đảm và kiên vững; trong đoạn trích tuần này, thánh nhân kêu mời người môn đệ hãy cậy trông. Đức Giê-su đã chết và sống lại, vì thế những ai chia sẻ đau khổ và cái chết của Ngài, thì cũng được dự phần vào vinh quang Phục Sinh của Ngài.
 
Chúng ta có thể khảo sát những lời tâm huyết này trong bố cục của đoạn văn: phần mở và phần kết có cung giọng phụng vụ. Ngoài ra, phần cuối chắc chắn là một bài thánh thi về phép Rửa. Chúng ta cũng có thể khảo sát những lời tâm huyết này trong khía cạnh tín lý: biến cố Phục Sinh là trọng tâm giáo huấn của thánh nhân. Cuộc Tử Nạn cứu độ khai mở ánh sáng và vinh quang của biến cố Phục Sinh và đặt nền tảng đức cậy Ki-tô giáo. Nhưng chúng ta cũng có thể đọc đoạn trích này khi để cho mình thấm nhuần mối cảm xúc của một bức thư vĩnh biệt và nhận thức rõ nhân cách của một con người kề cận với cái chết.
 
2. Lòng nhiệt thành đối với ơn gọi:
 
Lời tâm huyết đầu tiên là lòng nhiệt thành của thánh Phao-lô đối với ơn gọi của ngài. Lời tâm huyết ấy hiện rõ trong tiếng kêu “Tin Mừng” mà thánh nhân không ngừng loan báo bằng cả mạng sống mình. Thánh nhân đã nhận lãnh một sứ mạng đặc biệt, chính vì sứ mạng ấy mà thánh nhân đã tận hiến trọn cuộc đời mình không một chút đắn đo suy tính hơn thiệt.
 
Ngoài ra, chúng ta đọc thấy ở đây tiềm ẩn kỷ niệm mà thánh nhân đã kinh qua trên đường đi Đa-mát: Đấng Phục Sinh đã tỏ mình ra cho thánh nhân. Thánh Phao-lô đã trở nên sứ giả của Đấng Phục Sinh, đúng hơn, chứng nhân của Đấng Phục Sinh: “Anh hãy nhớ đến Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã sống lại từ cõi chết, Đấng xuất thân từ dòng dõi Đa-vít”. Đây là tín điều đầu tiên, tín điều đặt nền tảng cho niềm cậy trông.
 
3. Giá trị của những đau khổ:
 
Biến cố Phục Sinh bắt nguồn từ cuộc Thương Khó và Tử Nạn. Thánh Phao-lô chịu đau khổ trong cảnh giam cầm, ở đó thánh nhân “còn phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi”, dụng ngữ “gian phi” này cũng là dụng ngữ chỉ những tên cướp bị đóng đinh với Đức Giê-su; nghĩa là thánh Phao-lô đã trở thành người đồng chịu đau khổ với Chúa Ki-tô. Thánh nhân cho rằng những đau khổ này ngang bằng giá trị với lời loan báo: “Lời Thiên Chúa không thể bị xiềng xích”. Như vậy, đối với thánh nhân, đau khổ là một cách thức khác để loan truyền ơn cứu độ, vì những gian nan thử thách mà thánh nhân phải chịu sinh nhiều ơn ích, như thánh nhân nói trong thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-xê: “Bấy giờ, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đúng mức, vì lợi ích cho thân thể Ngài là Hội Thánh” (Cl 1: 24). Đây thật là một bài học quý giá cho ông Ti-mô-thê, hiện nay ông cũng đang chịu trăm chiều gian nan thử thách.
 
4. Đức cậy Ki-tô giáo:
 
Đức cậy Ki-tô giáo là niềm hy vọng vào vinh quang đời đời. Thánh Phao-lô đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại điều này; nhưng vào lúc cái chết cận kề, thánh nhân nhắc lại điều đó khi áp dụng vào chính bản thân mình: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người”. Trước đây, thánh nhân đã khai triển tư tưởng này trong thư gởi các tín hữu Cô-lô-xê và trong thư gởi các tín hữu Rô-ma. Lúc đó, tư tưởng này mặc lấy cường độ bi thảm hơn: “Vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người” (Rm 8: 17).
 
Đoạn kết bằng văn xuôi có vần có điệu xem ra là một bài thánh thi thịnh hành trong Giáo Hội tiên khởi, chắc hẳn là lời tuyên xưng đức tin vào dịp lãnh nhận phép Rửa. Câu cuối cùng khai mở lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa: “Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình”.
 
TIN MỪNG (Lc 17: 11-19)
 
Câu chuyện chữa lành mười người phong hủi là nguồn riêng của Tin Mừng Lu-ca. Như thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô, thánh Lu-ca đã tường thuật rồi câu chuyện Chúa Giê-su chữa lành một người phong hủi vào lúc khởi đầu sứ vụ của Ngài (Lc 5: 14; Mt 8: 2-4; Mc 1: 40-41). Trong câu chuyện mới này, thánh Lu-ca mời gọi người đọc đừng chú ý đến số lượng những người phong hủi được chữa lành cho bằng thái độ của một người trong số họ, người Sa-ma-ri.
 
1. Chúa Giê-su ưu ái những người phong hủi:
 
Nhiều lần Chúa Giê-su bày tỏ tấm lòng ưu ái của Ngài đối với những người phong hủi. Ngài đã trả lời cho những sứ giả Gioan Tẩy Giả sai đến: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch…” (Lc 7: 22; Mt 11: 5). Với các môn đệ được Ngài sai đi thi hành sứ vụ, Ngài vạch ra như một chương trình: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh…” (Mt 10: 7-8).  Hơn bất kỳ bệnh nhân nào khác, bệnh nhân phong hủi này, được xem như thứ cặn bã xã hội, cần đến lòng xót thương của Đức Ki-tô. Họ bị xem như đồ ô uế, vì thế cấm mọi hình thức giao tiếp. Ấy vậy, Chúa Giê-su không ngừng công bố rằng sự ô uế không đến từ bên ngoài; chỉ những tư tưởng xấu phát xuất từ lòng con người mới gây nên ô uế đích thật.
 
2. Lộ trình lên Giê-ru-sa-lem:
 
Thánh Lu-ca nhắc lại rằng Chúa Giê-su đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem. Đây là lần thứ ba thánh nhân kể ra việc Chúa Giê-su nhất quyết lên Giê-ru-sa-lem như mục đích tối hậu sứ mạng của Ngài (9: 51; 13: 22; 17: 11). Dường như thay vì băng qua miền Sa-ma-ri để lên Giê-ru-sa-lem, thì Đức Giê-su lại rẽ qua hướng Đông, giữa Ga-li-lê và Sa-ma-ri, đến thung lũng sông Gio-đan, xuống thành Giê-ri-cô, và từ đó đi lên Giê-ru-sa-lem. Vì thế, mười người phong hủi mới có thể gặp Ngài ở nơi hoang vắng này, vì họ không được vào bất cứ nơi nào có đông dân cư sinh sống. Tuy nhiên, thánh ký không định rõ lộ trình địa lý; chỉ lộ trình tinh thần mới là mối bận lòng của thánh ký. Từ tình tiết mà thánh nhân sắp thuật lại những bài học sẽ được rút ra.
 
3. Lời khẩn cầu của những người phong hủi:
 
Một nhóm mười người phong hủi đến gặp Đức Giê-su. Họ đứng cách xa như Luật quy định và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi!”. Việc kêu cứu Ngài bằng tên thì họa hiếm trong các sách Tin Mừng. Tại Tin Mừng Lu-ca việc gọi tên Ngài như vậy chỉ được gặp thấy ở nơi tiếng kêu cứu của người mù thành Giê-ri-cô (18: 38) và của người gian phí sám hối cùng chịu đóng đinh với Ngài (23: 42); nhưng trong sách Công Vụ, danh xưng này được dùng thường hơn, các Tông Đồ sẽ công bố: “Chính nhờ danh Giê-su mà ơn cứu độ được thực hiện”.
 
Còn đối với tước vị “Thầy”, chung chung chỉ các môn đệ mới gọi Ngài như thế. Đây là một trường hợp hi hữu khi thánh Lu-ca đặt tước vị này trên môi miệng của những người phong hủi như lời tuyên xưng niềm tin của họ vào quyền năng cứu chữa của Chúa Giê-su.
 
4. Lệnh truyền của Đức Giê-su:
 
Đáp lại lời kêu cứu của họ, Chúa Giê-su truyền lệnh: “Hãy đi trình diện với các tư tế”. Theo tâm thức thời đó, mọi bệnh hoạn đều được cho là do tội lỗi. Bệnh phong hủi, vì ấn tượng ghê tởm mà bệnh gây nên nơi thân xác, lại càng chứng tỏ tình trạng tội lỗi bị Thiên Chúa giáng phạt (Đnl 28: 27-35); thế nên, việc lành bệnh thuộc lãnh vực tôn giáo và phải được các tư tế kiểm nghiệm và chứng nhận (Lv 14: 1-32). Vì thế, Chúa Giê-su mới ra lệnh cho mười người phong hủi: “Hãy đi trình diện với các tư tế”.
 
Nhưng các tư tế can dự chỉ để chứng thực là bệnh đã được lành và nhận hy lễ thanh tẩy; chỉ như thế người được lành bệnh mới có thể được tái nhập vào đời sống xã hội. Trước đây, trong trường hợp một người phong hủi, Chúa Giê-su đã ra lệnh cho người ấy đi trình diện tư tế chỉ sau khi đã chữa lành bệnh cho anh ta. Ở đây, Chúa Giê-su lại truyền cho mười người phong hủi đi trình diện tư tế trong khi họ chưa được lành bệnh. Xem ra Chúa Giê-su muốn thử thách đức tin của họ.
 
5. Một trong số họ quay trở lại, một người xứ Sa-ma-ri:
 
Tất cả giá trị của câu chuyện cốt ở nơi phần khai triển sau cùng này. “Đang khi đi thì họ đã được sạch”, chỉ một người quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. “Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giê-su”, đây là cử chỉ thờ lạy; và anh bày tỏ tấm lòng biết ơn đối với vị ân nhân đã thi ân giáng phúc cho mình.
 
Chỉ vào lúc này, thánh Lu-ca mới chỉ ra “anh ta lại là người Sa-ma-ri”. Người Do thái xem người Sa-ma-ri như tên ngoại bang đáng nguyền rủa, kẻ lạc giáo đáng khinh bĩ. Một lần nữa, chính qua cách hành xử của người Sa-ma-ri mà Chúa Giê-su đưa ra một bài học cho đám đông, cho những người Pha-ri-sêu, và cho tất cả môn đệ Ngài. Ơn cứu độ được dâng hiến cho người ngoại bang này vì đức tin ở nơi anh còn lớn hơn nơi chín người Do thái kia. Trước những đồng hương Na-da-rét cứng lòng tin của Ngài, Chúa Giê-su cũng đã trích dẫn cho họ hai mẫu gương của hai người ngoại bang, mà niềm tin của họ còn lớn hơn những đồng hương của Ngài: bà góa xứ Xa-rép-ta và ông Na-a-man, người phong hủi xứ Xy-ri-a (4: 25-27).
 
6. Đền Thờ đích thật: con người của Đức Giê-su:
 
“Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu?”. Chín người kia là những người Do thái, họ tiếp tục con đường lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem để chu toàn những nghi lễ thanh tẩy. Bản văn không nói điều này, nhưng lời Chúa Giê-su hàm chứa như vậy: “Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa?”.
 
Tôn vinh Thiên Chúa chính là ngỏ lời với Đức Giê-su. Từ nay chính qua con người của Ngài mà người ta đến với Chúa Cha. Đền Thờ đích thật không còn là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem hay Đền Thờ Ga-ri-dim. Chúa Giê-su đã loan báo điều này cho người phụ nữ xứ Sa-ma-ri: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không ở trên núi này (Đền Thờ Ga-ri-dim) hay tại Giê-ru-sa-lem… (Ga 4: 21), Và Ngài cũng đã công bố: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội trong ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2: 19). Thánh Gioan giải thích: “Nhưng Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người” (Ga 2: 21).

Người Sa-ma-ri nhận ra ở nơi Đức Giê-su chính là Thiên Chúa hiện thân. Với người Sa-ma-ri này và chỉ một mình anh, Chúa Giê-su không chỉ chữa lành thân xác của anh, nhưng Ngài còn ban cho anh ơn cứu độ: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. Đức Giê-su đến để cứu thoát con người khỏi chứng bệnh phong hủi của tội lỗi.  
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 05/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/05/2017 

- We are called to live not as one without others, above or against others, but with and for others.
Chúng ta được mời gọi để sống không phải bất cần tha nhân, đứng trên hay đối nghịch tha nhân, mà là sống với và sống cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/05/2017 

- Mary teaches us to place our hope in God even when all seems without meaning, even when He seems hidden.
Mẹ Maria dạy chúng ta đặt hy vọng vào Thiên Chúa kể cả khi mọi thứ dường như vô nghĩa, kể cả khi Thiên Chúa dường như ẩn mặt.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/05/2017 

- Peace must be built on justice, on integral human development, on respect for human rights, on the protection of creation.
Hòa bình phải được xây dựng dựa trên công lý, phát triển con người toàn diện, tôn trọng các quyền con người, bảo vệ tạo vật.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/05/2017 

- Let us seek to always hold high the “tone” of our life, remembering the goal and glory for which we exist, work, struggle and suffer.
Chúng ta hãy tìm cách nâng cao “tầm mức” của đời sống chúng ta, bằng cách ghi nhớ mục tiêu và vinh quang của lý do chúng ta hiện hữu, làm việc, đấu tranh và chịu đựng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/05/2017 

- God makes His most beautiful flowers grow among the driest stones.
Thiên Chúa tạo nên những bông hoa đẹp nhất của Ngài trên vùng đá sỏi khô cằn nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/05/2017 

- Our hope is the Lord Jesus whom we recognize as living and present in us and in our brothers and sisters.
Niềm hy vọng của chúng ta là Đức Giêsu mà chúng ta biết rằng đang sống, đang hiện diện nơi chúng ta và nơi anh chị em chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/05/2017 

- Jesus asks to be looked in the eye, to be acknowledged, to be loved.
Chúa Giêsu muốn ta nhìn Ngài, thừa nhận Ngài, yêu Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/05/2017 

- Let us ask for the grace to follow Jesus faithfully, not in words but in deeds, and to have the patience to carry our own cross.
Chúng ta hãy cầu xin ơn trung thành bước theo Chúa Giêsu, không phải bằng lời nói mà bằng việc làm, và ơn kiên trì vác lấy thập giá riêng của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/05/2017 

- Let us all ask for the gift to understand God’s word.
Chúng ta hãy cùng cầu nguyện, xin ơn giúp chúng ta hiểu được Lời Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/05/2017 

- Fatima is more than anything this mantle of Light where we take refuge when we ask the Virgin Mary: “show unto us Jesus”.
Hơn cả mọi thứ, Fatima là tấm áo choàng chói sáng che chở chúng ta khi chúng ta kêu cầu Đức Trinh Nữ Maria: “Xin hãy chỉ Chúa Giêsu cho chúng con”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/05/2017 

- Whenever we look to Mary, we come to believe once again in the revolutionary nature of love and tenderness.
Mỗi khi nhìn lên Mẹ Maria, chúng ta lại tin tưởng vào bản chất cách mạng của tình yêu và sự dịu dàng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/05/2017 

- Here in Fatima, I give praise to Christ, our peace, and I implore for the world concord among all peoples.
Nơi đây, Fatima, tôi dâng lời ngợi khen Đức Kitô, là nền hòa bình của chúng ta, và tôi khấng xin cho một thế giới hòa đồng giữa tất cả các dân tộc.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/05/2017 

- I ask everyone to join me as pilgrims of hope and peace: may your hands in prayer continue to support mine.
Xin tất cả các bạn nối vòng tay với tôi như những người hành hương của hy vọng và hòa bình: ước gì những bàn tay cầu nguyện của các bạn tiếp tục nâng đỡ bàn tay của tôi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/05/2017 

- With Mary, as a pilgrim of hope and peace I travel to Fatima tomorrow.Let us see in her that everything is God’s gift and He is our strength.
Với Mẹ Maria, ngày mai tôi đến Fatima như một người hành hương của hy vọng và hòa bình. Chúng ta hãy hướng về Mẹ để thấy mọi thứ là quà tặng của Thiên Chúa và Ngài là sức mạnh của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/05/2017 

- God is greater than nothingness, and a lit candle is enough to overcome the darkest of nights.
Thiên Chúa lớn hơn hư vô, và chỉ một ngọn nến sáng đủ xóa tan màn đêm tăm tối nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/05/2017 

- Everyone has something to give to society; no one is excluded from contributing to the good of all.
Mỗi người đều có một thứ gì đó để trao cho xã hội; không ai bị loại khỏi cơ hội đóng góp vào lợi ích của mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/05/2017 

- May Jesus, who vanquished the darkness of sin and death, grant peace to our days.
Nguyện xin Đức Giêsu, Đấng đã đánh bại bóng tối của tội lỗi và sự chết, ban hòa bình cho thời đại chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/05/2017 

- Let us be challenged by the words and actions of Jesus, and welcome his call to a life that is fully human, happy to spend itself in love.
Chúng ta hãy để mình bị thúc đẩy bởi những lời nói và hành động của Chúa Giêsu, đón nhận lời mời gọi của Ngài hướng đến đời sống nhân bản toàn vẹn, hạnh phúc hiến mình vì tình yêu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/05/2017 

- Rejoice! Hidden within your life is a seed of resurrection, an offer of life ready to be awakened!
Hãy vui lên! Ẩn dấu trong cuộc sống của bạn là một hạt giống của phục sinh, một quà tặng cho đời bạn đang đợi nẩy mầm!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/05/2017 

- In every age, the Risen Christ tirelessly seeks us, his brothers and sisters, wandering in the deserts of this world.
Qua bao năm tháng, Đức Kitô Phục sinh luôn miệt mài tìm kiếm chúng ta, là những anh chị em của Ngài đang lạc lối giữa sa mạc thế gian.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/05/2017 

- Let us allow ourselves to be surprised by the newness that Christ alone can give. May his tenderness and love guide our steps.
Chúng ta hãy để mình ngạc nhiên trước sự mới lạ mà chỉ Đức Kitô mới có thể ban cho. Nguyện xin sự dịu dàng và tình yêu của Ngài dẫn bước chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/05/2017 

- May our attitude be gentle and humble, attentive to caring for the poor.
Thái độ ứng xử của chúng ta phải nhẹ nhàng và khiêm tốn, sẳn sàng chăm sóc cho người nghèo khổ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/05/2017 

- Let’s work together to increase solidarity and sharing. Cooperation helps to build better and more peaceful societies.
Chúng ta hãy cùng nhau hoạt động để gia tăng tình đoàn kết và sự chia sẻ. Sự hợp tác giúp xây dựng một xã hội hòa bình và tốt đẹp hơn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/05/2017 

- May Saint Joseph give young people the ability to dream, to take risks for big tasks, the things that God dreams for us.
Nguyện xin Thánh Giuse giúp giới trẻ biết ước mơ, chấp nhận mạo hiễm vì những nhiệm vụ cao cả, đó là những điều mà Chúa mong ước nơi chúng ta.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 05/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 132
  • Khách viếng thăm: 129
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 22111
  • Tháng hiện tại: 375439
  • Tổng lượt truy cập: 17333195