Banner giua trang

Chúa nhật 28 TN C. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 04/10/2016 20:48 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay nêu lên cho chúng ta một bài học: Con đường niềm tin là con đường của tâm tình cảm tạ và tri ân. Con đường này rộng mở cho hết mọi người.
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

 
Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay nêu lên cho chúng ta một bài học: Con đường niềm tin là con đường của tâm tình cảm tạ và tri ân. Con đường này rộng mở cho hết mọi người.
 
2V 5: 14-17
 
Sách Các Vua quyển thứ hai thuật lại chuyện một quan đại thần ngoại bang, kẻ thù của dân Ít-ra-en, ông Na-a-man xứ Xy-ri-a, được chữa lành bệnh phong hủi, nhờ sự can thiệp của ngôn sứ Ê-li-sa. Ông Na-a-man nhận ra hành động của Thiên Chúa Ít-ra-en và bày tỏ tấm lòng cảm tạ tri ân bằng lời tuyên xưng đức tin của mình.
 
2Tm 2: 8-13
 
Trong những lời tâm huyết gởi cho người môn đệ thân mến của mình, là ông Ti-mô-thê, thánh Phao-lô nhắc nhở ông rằng đức tin được đặt trên sự kiện vững chắc: cuộc Phục Sinh của Chúa Giê-su. Những ai chia sẻ đau khổ và cái chết của Chúa Ki-tô, sẽ được sống lại với Ngài.
 
Lc 17: 11-19
 
Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giê-su chữa lành mười người phong hủi. Chỉ một người duy nhất, một người Sa-ma-ri, trở lại bày tỏ tấm lòng cảm tạ tri ân. Tâm tình cảm tạ tri ân này mở ra cho anh con đường đức tin và cứu độ.
 
BÀI ĐỌC I (2V 5: 14-17)
 
Hai sách Các Vua ghi lại các triều đại của mười chín vị vua Ít-ra-en (vương quốc miền Bắc) và của hai mươi vị vua Giu-đa (vương quốc miền Nam). Hai sách này cũng dành một vai trò quan trọng cho các vị ngôn sứ như Ê-li-a, Ê-li-sa và I-sai-a.
 
Hai cuốn sách này chứa đựng một số lượng những giai thoại vừa mang tính lịch sử vừa có tính dân gian. Giai thoại về việc chữa lành bệnh phong hủi của quan đại thần Na-a-man xứ Xy-ri-a không phải là không có cơ sở lịch sử. Công trình biên soạn sau cùng của hai tác phẩm này được đặt vào niên biểu cuối thế kỷ thứ sáu, nhưng những chứng liệu và truyền thống cổ xưa lại được nhà biên soạn sử dụng. Tên Na-a-man được chứng thực trong những bản văn ngoài Kinh Thánh.
 
1. Quan đại thần Na-a-man xứ Xy-ri-a:
 
Ngôn sứ Ê-li-sa là môn đệ truyền chân của ngôn sứ Ê-li-a. Tiếp tục sứ vụ của thầy mình, ngôn sứ Ê-li-sa thi hành sứ vụ của mình ở vương quốc miền Bắc, kinh đô là Sa-ma-ri, vào giữa thế kỷ thứ chín trước Công Nguyên.
 
Ông Na-a-man là tướng chỉ huy quân đội của vua A-ram (miền Đa-mát). Danh tánh của vị vua này chưa được xác định. Vị tướng này đã lừng danh trong cuộc chiến thắng quân đội Ít-ra-en. Nhưng ông mắc phải chứng bệnh phong hủi.
 
2. Cuộc vận động của quan đại thần Na-a-man:
 
Đoạn trích hôm nay chỉ nói đến tình tiết chính yếu về việc quan đại thần của vua A-ram được chữa lành. Tuy nhiên, những chi tiết trước đó rất ý nhị không thể bỏ qua. Trong những cuộc xuất chinh vào đất Ít-ra-en, quân đội A-ram đã bắt đưa về nhiều tù nhân. Vì thế, bà vợ của quan đại thần Na-a-man có một tớ gái người Ít-ra-en giúp việc. Người tớ gái này gợi ý với bà chủ: “Ôi, phải chi ông chủ con được giáp mặt vị ngôn sứ ở Sa-ma-ri, thì chắc ngôn sứ sẽ chữa ông khỏi bệnh phong hủi” (5: 3).
 
Sau nhiều vận động ngoại giao, quan đại thần Na-a-man đến kinh đô Sa-ma-ri để mong được ngôn sứ Ê-li-sa chữa lành bệnh cho mình. Ngôn sứ Ê-li-sa không đích thân ra đón tiếp quan đại thần Na-a-man mà chỉ sai sứ giả đến nói với ông Na-a-man là đi tắm bảy lần trong sông Gio-đan thì ông sẽ được khỏi bệnh. Quan đại thần không ngờ cách tiếp đón và cách chữa trị như thế nên ông đã nổi giận và tức tối bỏ đi. Bấy giờ, các tôi tớ của ông khuyên ông cứ thử thi hành đều ngôn sứ chỉ dạy xem sao. Đại thần Na-a-man bình tâm lại, xuống tắm bảy lần trong dòng sông Gio-đan như lời ngôn sứ truyền và ông được lành sạch.
 
3. Niềm tin của quan đại thần Na-a-man:
 
Chính ở đây bắt đầu chuyện tích về việc ông Na-a-man được chữa lành mà chúng ta đọc hôm nay. Ở nơi chuyện tích này, tác giả đã biết nêu bật những yếu tố tinh thần. Quan đại thần Na-a-man nhận ra hành động của Thiên Chúa Ít-ra-en và tuyên xưng rằng: “Nay tôi biết rằng: trên khắp mặt đất, không đâu có Thiên Chúa, ngoại trừ ở Ít-ra-en”. Để tỏ lòng tôn kính và tạ ơn, ông muốn dâng những lễ vật cho vị ngôn sứ; nhưng vị ngôn sứ nhất quyết từ chối, bởi vì mình chỉ là người trung gian của Thiên Chúa. Chủ đích của vị ngôn sứ chính là hướng tất cả tâm tình cảm tạ và tri ân của quan đại thần Na-a-man về tác giả duy nhất, Đấng đã chữa lành ông, đó là Đức Chúa. Nước sông Gio-đan chỉ là yếu tố vật chất, yếu tố “bí tích”. Phải nói rằng Đức Chúa đón nhận tấm lòng thành tín và ban ân huệ cả cho những người ngoại bang lẫn cho con cái Ít-ra-en.
 
Quan đại thần Na-a-man không chỉ tuyên xưng đức tin của mình mà còn làm một cử chỉ thật ý nghĩa: ông xin được đem về quê hương của ông một số đất Ít-ra-en để xây dựng cho mình một bàn thờ dâng hy lễ kính Thiên Chúa duy nhất và chân thật. Dưới nhãn quang của ông, đất xứ sở ông không là thánh địa.

Chúng ta nên đọc quá khuôn khổ đoạn trích hôm nay, vì những chi tiết tiếp liền sau đó đáng được quan tâm: quan đại thần Na-a-man rất cẩn trọng: ông biết rằng khi trở về quê hương ông, vì những chức vụ ông đảm nhận, ông buộc phải tham dự vào những nghi thức tôn kính các vị thần linh của đất nước ông. Vì thế, ông ngỏ lời với ngôn sứ Ê-li-sa: “Xin Đức Chúa tha thứ điều ấy cho tôi tớ ngài”. Lúc đó, ngôn sứ Ê-li-sa, người của Thiên Chúa, cầu chúc cho ông một cách giản dị: “Ông đi bằng an”. Với câu chuyện này, chúng ta sống rồi trong bầu khí Tin Mừng.
 
BÀI ĐỌC II (2Tm 2: 8-13)
 
Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi cho người môn đệ, đồng thời cũng là cộng tác viên của thánh nhân, là ông Ti-mô-thê.
 
1. Bối cảnh:
 
Thánh Phao-lô, lúc đó đang bị giam cầm và biết rằng cái chết của mình sắp gần kề, gởi cho ông Ti-mô-thê những lời tâm huyết của mình. Trong đoạn trích tuần trước, thánh nhân đã khuyên người môn đệ của mình hãy can đảm và kiên vững; trong đoạn trích tuần này, thánh nhân kêu mời người môn đệ hãy cậy trông. Đức Giê-su đã chết và sống lại, vì thế những ai chia sẻ đau khổ và cái chết của Ngài, thì cũng được dự phần vào vinh quang Phục Sinh của Ngài.
 
Chúng ta có thể khảo sát những lời tâm huyết này trong bố cục của đoạn văn: phần mở và phần kết có cung giọng phụng vụ. Ngoài ra, phần cuối chắc chắn là một bài thánh thi về phép Rửa. Chúng ta cũng có thể khảo sát những lời tâm huyết này trong khía cạnh tín lý: biến cố Phục Sinh là trọng tâm giáo huấn của thánh nhân. Cuộc Tử Nạn cứu độ khai mở ánh sáng và vinh quang của biến cố Phục Sinh và đặt nền tảng đức cậy Ki-tô giáo. Nhưng chúng ta cũng có thể đọc đoạn trích này khi để cho mình thấm nhuần mối cảm xúc của một bức thư vĩnh biệt và nhận thức rõ nhân cách của một con người kề cận với cái chết.
 
2. Lòng nhiệt thành đối với ơn gọi:
 
Lời tâm huyết đầu tiên là lòng nhiệt thành của thánh Phao-lô đối với ơn gọi của ngài. Lời tâm huyết ấy hiện rõ trong tiếng kêu “Tin Mừng” mà thánh nhân không ngừng loan báo bằng cả mạng sống mình. Thánh nhân đã nhận lãnh một sứ mạng đặc biệt, chính vì sứ mạng ấy mà thánh nhân đã tận hiến trọn cuộc đời mình không một chút đắn đo suy tính hơn thiệt.
 
Ngoài ra, chúng ta đọc thấy ở đây tiềm ẩn kỷ niệm mà thánh nhân đã kinh qua trên đường đi Đa-mát: Đấng Phục Sinh đã tỏ mình ra cho thánh nhân. Thánh Phao-lô đã trở nên sứ giả của Đấng Phục Sinh, đúng hơn, chứng nhân của Đấng Phục Sinh: “Anh hãy nhớ đến Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã sống lại từ cõi chết, Đấng xuất thân từ dòng dõi Đa-vít”. Đây là tín điều đầu tiên, tín điều đặt nền tảng cho niềm cậy trông.
 
3. Giá trị của những đau khổ:
 
Biến cố Phục Sinh bắt nguồn từ cuộc Thương Khó và Tử Nạn. Thánh Phao-lô chịu đau khổ trong cảnh giam cầm, ở đó thánh nhân “còn phải mang cả xiềng xích như một tên gian phi”, dụng ngữ “gian phi” này cũng là dụng ngữ chỉ những tên cướp bị đóng đinh với Đức Giê-su; nghĩa là thánh Phao-lô đã trở thành người đồng chịu đau khổ với Chúa Ki-tô. Thánh nhân cho rằng những đau khổ này ngang bằng giá trị với lời loan báo: “Lời Thiên Chúa không thể bị xiềng xích”. Như vậy, đối với thánh nhân, đau khổ là một cách thức khác để loan truyền ơn cứu độ, vì những gian nan thử thách mà thánh nhân phải chịu sinh nhiều ơn ích, như thánh nhân nói trong thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-xê: “Bấy giờ, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đúng mức, vì lợi ích cho thân thể Ngài là Hội Thánh” (Cl 1: 24). Đây thật là một bài học quý giá cho ông Ti-mô-thê, hiện nay ông cũng đang chịu trăm chiều gian nan thử thách.
 
4. Đức cậy Ki-tô giáo:
 
Đức cậy Ki-tô giáo là niềm hy vọng vào vinh quang đời đời. Thánh Phao-lô đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại điều này; nhưng vào lúc cái chết cận kề, thánh nhân nhắc lại điều đó khi áp dụng vào chính bản thân mình: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người”. Trước đây, thánh nhân đã khai triển tư tưởng này trong thư gởi các tín hữu Cô-lô-xê và trong thư gởi các tín hữu Rô-ma. Lúc đó, tư tưởng này mặc lấy cường độ bi thảm hơn: “Vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với Người” (Rm 8: 17).
 
Đoạn kết bằng văn xuôi có vần có điệu xem ra là một bài thánh thi thịnh hành trong Giáo Hội tiên khởi, chắc hẳn là lời tuyên xưng đức tin vào dịp lãnh nhận phép Rửa. Câu cuối cùng khai mở lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa: “Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình”.
 
TIN MỪNG (Lc 17: 11-19)
 
Câu chuyện chữa lành mười người phong hủi là nguồn riêng của Tin Mừng Lu-ca. Như thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô, thánh Lu-ca đã tường thuật rồi câu chuyện Chúa Giê-su chữa lành một người phong hủi vào lúc khởi đầu sứ vụ của Ngài (Lc 5: 14; Mt 8: 2-4; Mc 1: 40-41). Trong câu chuyện mới này, thánh Lu-ca mời gọi người đọc đừng chú ý đến số lượng những người phong hủi được chữa lành cho bằng thái độ của một người trong số họ, người Sa-ma-ri.
 
1. Chúa Giê-su ưu ái những người phong hủi:
 
Nhiều lần Chúa Giê-su bày tỏ tấm lòng ưu ái của Ngài đối với những người phong hủi. Ngài đã trả lời cho những sứ giả Gioan Tẩy Giả sai đến: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch…” (Lc 7: 22; Mt 11: 5). Với các môn đệ được Ngài sai đi thi hành sứ vụ, Ngài vạch ra như một chương trình: “Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh…” (Mt 10: 7-8).  Hơn bất kỳ bệnh nhân nào khác, bệnh nhân phong hủi này, được xem như thứ cặn bã xã hội, cần đến lòng xót thương của Đức Ki-tô. Họ bị xem như đồ ô uế, vì thế cấm mọi hình thức giao tiếp. Ấy vậy, Chúa Giê-su không ngừng công bố rằng sự ô uế không đến từ bên ngoài; chỉ những tư tưởng xấu phát xuất từ lòng con người mới gây nên ô uế đích thật.
 
2. Lộ trình lên Giê-ru-sa-lem:
 
Thánh Lu-ca nhắc lại rằng Chúa Giê-su đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem. Đây là lần thứ ba thánh nhân kể ra việc Chúa Giê-su nhất quyết lên Giê-ru-sa-lem như mục đích tối hậu sứ mạng của Ngài (9: 51; 13: 22; 17: 11). Dường như thay vì băng qua miền Sa-ma-ri để lên Giê-ru-sa-lem, thì Đức Giê-su lại rẽ qua hướng Đông, giữa Ga-li-lê và Sa-ma-ri, đến thung lũng sông Gio-đan, xuống thành Giê-ri-cô, và từ đó đi lên Giê-ru-sa-lem. Vì thế, mười người phong hủi mới có thể gặp Ngài ở nơi hoang vắng này, vì họ không được vào bất cứ nơi nào có đông dân cư sinh sống. Tuy nhiên, thánh ký không định rõ lộ trình địa lý; chỉ lộ trình tinh thần mới là mối bận lòng của thánh ký. Từ tình tiết mà thánh nhân sắp thuật lại những bài học sẽ được rút ra.
 
3. Lời khẩn cầu của những người phong hủi:
 
Một nhóm mười người phong hủi đến gặp Đức Giê-su. Họ đứng cách xa như Luật quy định và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi!”. Việc kêu cứu Ngài bằng tên thì họa hiếm trong các sách Tin Mừng. Tại Tin Mừng Lu-ca việc gọi tên Ngài như vậy chỉ được gặp thấy ở nơi tiếng kêu cứu của người mù thành Giê-ri-cô (18: 38) và của người gian phí sám hối cùng chịu đóng đinh với Ngài (23: 42); nhưng trong sách Công Vụ, danh xưng này được dùng thường hơn, các Tông Đồ sẽ công bố: “Chính nhờ danh Giê-su mà ơn cứu độ được thực hiện”.
 
Còn đối với tước vị “Thầy”, chung chung chỉ các môn đệ mới gọi Ngài như thế. Đây là một trường hợp hi hữu khi thánh Lu-ca đặt tước vị này trên môi miệng của những người phong hủi như lời tuyên xưng niềm tin của họ vào quyền năng cứu chữa của Chúa Giê-su.
 
4. Lệnh truyền của Đức Giê-su:
 
Đáp lại lời kêu cứu của họ, Chúa Giê-su truyền lệnh: “Hãy đi trình diện với các tư tế”. Theo tâm thức thời đó, mọi bệnh hoạn đều được cho là do tội lỗi. Bệnh phong hủi, vì ấn tượng ghê tởm mà bệnh gây nên nơi thân xác, lại càng chứng tỏ tình trạng tội lỗi bị Thiên Chúa giáng phạt (Đnl 28: 27-35); thế nên, việc lành bệnh thuộc lãnh vực tôn giáo và phải được các tư tế kiểm nghiệm và chứng nhận (Lv 14: 1-32). Vì thế, Chúa Giê-su mới ra lệnh cho mười người phong hủi: “Hãy đi trình diện với các tư tế”.
 
Nhưng các tư tế can dự chỉ để chứng thực là bệnh đã được lành và nhận hy lễ thanh tẩy; chỉ như thế người được lành bệnh mới có thể được tái nhập vào đời sống xã hội. Trước đây, trong trường hợp một người phong hủi, Chúa Giê-su đã ra lệnh cho người ấy đi trình diện tư tế chỉ sau khi đã chữa lành bệnh cho anh ta. Ở đây, Chúa Giê-su lại truyền cho mười người phong hủi đi trình diện tư tế trong khi họ chưa được lành bệnh. Xem ra Chúa Giê-su muốn thử thách đức tin của họ.
 
5. Một trong số họ quay trở lại, một người xứ Sa-ma-ri:
 
Tất cả giá trị của câu chuyện cốt ở nơi phần khai triển sau cùng này. “Đang khi đi thì họ đã được sạch”, chỉ một người quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. “Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giê-su”, đây là cử chỉ thờ lạy; và anh bày tỏ tấm lòng biết ơn đối với vị ân nhân đã thi ân giáng phúc cho mình.
 
Chỉ vào lúc này, thánh Lu-ca mới chỉ ra “anh ta lại là người Sa-ma-ri”. Người Do thái xem người Sa-ma-ri như tên ngoại bang đáng nguyền rủa, kẻ lạc giáo đáng khinh bĩ. Một lần nữa, chính qua cách hành xử của người Sa-ma-ri mà Chúa Giê-su đưa ra một bài học cho đám đông, cho những người Pha-ri-sêu, và cho tất cả môn đệ Ngài. Ơn cứu độ được dâng hiến cho người ngoại bang này vì đức tin ở nơi anh còn lớn hơn nơi chín người Do thái kia. Trước những đồng hương Na-da-rét cứng lòng tin của Ngài, Chúa Giê-su cũng đã trích dẫn cho họ hai mẫu gương của hai người ngoại bang, mà niềm tin của họ còn lớn hơn những đồng hương của Ngài: bà góa xứ Xa-rép-ta và ông Na-a-man, người phong hủi xứ Xy-ri-a (4: 25-27).
 
6. Đền Thờ đích thật: con người của Đức Giê-su:
 
“Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu?”. Chín người kia là những người Do thái, họ tiếp tục con đường lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem để chu toàn những nghi lễ thanh tẩy. Bản văn không nói điều này, nhưng lời Chúa Giê-su hàm chứa như vậy: “Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa?”.
 
Tôn vinh Thiên Chúa chính là ngỏ lời với Đức Giê-su. Từ nay chính qua con người của Ngài mà người ta đến với Chúa Cha. Đền Thờ đích thật không còn là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem hay Đền Thờ Ga-ri-dim. Chúa Giê-su đã loan báo điều này cho người phụ nữ xứ Sa-ma-ri: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không ở trên núi này (Đền Thờ Ga-ri-dim) hay tại Giê-ru-sa-lem… (Ga 4: 21), Và Ngài cũng đã công bố: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi; nội trong ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Ga 2: 19). Thánh Gioan giải thích: “Nhưng Đền Thờ Đức Giê-su muốn nói ở đây là chính thân thể Người” (Ga 2: 21).

Người Sa-ma-ri nhận ra ở nơi Đức Giê-su chính là Thiên Chúa hiện thân. Với người Sa-ma-ri này và chỉ một mình anh, Chúa Giê-su không chỉ chữa lành thân xác của anh, nhưng Ngài còn ban cho anh ơn cứu độ: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. Đức Giê-su đến để cứu thoát con người khỏi chứng bệnh phong hủi của tội lỗi.  
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 11/2018


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/11/2018 

- ”The Kingdom of God is in your midst”; It is not spectacular. It grows in silence, in hiding, through witness, prayer, and the attraction of the Spirit.
“Nước Thiên Chúa ở giữa các bạn”. Nước Chúa không phô trương. Nước Chúa tăng trưởng trong thinh lặng, âm thầm, qua những chứng tá, lời cầu nguyện và sự dẫn dụ của Chúa Thánh Thần.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/11/2018 

- Jesus is not pleased with a “percentage of love”: we cannot love him at twenty, fifty or sixty percent. It’s all or nothing.
Chúa Giêsu không bằng lòng một “tỷ lệ yêu thương”: chúng ta không thể yêu Ngài hai mươi, năm mươi hoặc sáu mươi phần trăm. Hoặc là tất cả hoặc không chút nào cả.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/11/2018 

- The first step to knowing Jesus Christ is to recognize our own poverty and our need to be saved.
Để nhận biết Đức Kitô trước tiên phải nhìn nhận sự khốn cùng của mình và nhu cầu được cứu thoát.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/11/2018 

- Let us pray today for bishops so that they may always be what Saint Paul calls them to be: humble, gentle, servants.
Hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện cho các giám mục để các ngài trở nên như thánh Phaolô mời gọi: khiêm tốn, hiền lành và phục vụ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/11/2018 

- Sunday is a holy day for us, sanctified by the celebration of the Eucharist, which is the living presence of the Lord among us and for us.
Ngày Chúa nhật là thánh nhật của chúng ta, được thánh hóa nhờ việc cử hành bí tích Thánh Thể, sự hiện diện sống động của Chúa giữa chúng ta và cho chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 9/11/2018 

- Where there is sin there is also the merciful Lord God who forgives if you go to Him.
Nơi nào có tội lỗi, nơi đó cũng có Thiên Chúa đầy lòng thương xót thứ tha nếu bạn đến với Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 3/11/2018 

- God is faithful and our hope in Him is like a fixed anchor in heaven.
Thiên Chúa là Đấng trung tín và việc chúng ta hy vọng vào Ngài cũng giống như chiếc neo bám chặt vào thiên đàng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 31/10/2018 

- We need smiling Christians, not because they take things lightly, but because they are filled with the joy of God, because they believe in love and live to serve.
Chúng ta cần những Kitô hữu biết cười, không phải vì họ xem nhẹ mọi chuyện, nhưng vì họ đầy niềm vui của Thiên Chúa, bởi lẽ họ tin vào tình yêu và sống để phục vụ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/10/2018 

- If you want to listen to the Lord’s voice, set out on the journey, live out your search. The Lord speaks to those who search.
Nếu bạn muốn nghe tiếng Chúa, hãy lên đường, hãy tìm kiếm. Chúa nói với những ai đang tìm kiếm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/10/2018 

- We are called to listen to what the Spirit tells us. The Holy Spirit is always something new.
Chúng ta được mời gọi lắng nghe Chúa Thánh Thần nói với chúng ta. Chúa Thánh Thần luôn là điều mới mẻ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/10/2018 

- Saint Paul gives us very practical advice about preserving unity: “Bear with one another in love”.
Thánh Phaolô cho chúng ta lời khuyên rất thực tiễn để duy trì sự hiệp nhất: “Hãy chịu đựng nhau trong đức ái”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/10/2018 

- It would be wonderful if, every day, at some moment, we could say: “Lord, let me know you and let me know myself”.
Thật đẹp nếu trong khoảnh khắc nào đó của từng ngày sống, chúng ta có thể nói: “Lạy Chúa xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/10/2018 

- The company of the saints helps us to recognize that God never abandons us, so that we can live and bear witness to hope on this earth.
Xin cộng đoàn các thánh giúp chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, để chúng ta có thể sống và làm chứng niềm hy vọng giữa trần thế.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/10/2018 

- The leaven of Christians is the Holy Spirit that allows us to grow amidst the difficulties of the journey, but always with hope.
Chất men của Kitô hữu là Chúa Thánh Thần, Đấng làm chúng ta lớn lên giữa những khó khăn của cuộc đời, nhưng luôn trong hy vọng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/10/2018 

- When we listen to the Word of God, we obtain the courage and perseverance to offer the best of ourselves to others.
Khi lắng nghe Lời Chúa, chúng ta tìm được sự can đảm và kiên trì để trao ban điều tốt nhất của chúng ta cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/10/2018 

- Praying is not like using a magic wand. Prayer requires commitment, constancy and determination.
Cầu nguyện không phải là sử dụng chiếc đũa thần. Cầu nguyện là phải dấn thân, kiên trì và quyết tâm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/10/2018 

- Spend time before the Lord in contemplation, and do everything possible for the Lord at the service of others. Contemplation and service: this is our path of life.
Dùng thì giờ suy gẫm trước mặt Chúa và làm cho Chúa tất cả khi phục vụ người khác. Chiêm niệm và hành động: đó là con đường của đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/10/2018 

- We ask the Lord for the gifts of dialogue and patience, of the closeness and welcome that loves, pardons and doesn’t condemn.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn biết đối thoại và kiên nhẫn, gần gũi và tiếp nhận trong yêu thương, tha thứ và không kết án.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/10/2018 

- We fly to Thy protection, O Holy Mother of God. Do not despise our petitions in our necessities, but deliver us always from all dangers, O Glorious and Blessed Virgin.
Lạy Mẹ Thiên Chúa, chúng con ẩn náu dưới bóng từ ái của Mẹ. Xin chớ chê bỏ lời con kêu cầu trong cơn khốn khó, nhưng cứu chúng con khỏi mọi hiểm nguy. Lạy Đức Trinh nữ vinh hiển và được chúc phúc.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/9/2018 

- Jesus gave us a simple programme for journeying towards holiness: the commandment of love for God and our neighbor.
Chúa Giêsu đã cho chúng ta một chương trình đơn giản trong hành trình nên thánh: giới răn mến Chúa và yêu người lân cận.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/9/2018 

- Let us pray that programmes for development may predominate in the world, and not those for weapons.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho các nhà hoạch định chính sách biết ưu tiên cho phát triển chứ không phải cho vũ khí.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/9/2018 

- Let us allow the Holy Spirit to clothe us with the weapons of dialogue, understanding, the search for mutual respect and fellowship!
Chúng ta hãy để Chúa Thánh Thần trang bị cho chúng ta những vũ khí đối thoại, hiểu biết, kiếm tìm sự tôn trọng nhau và tình huynh đệ!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/9/2018 

- Let us offer our lives in service and in joy, to make known to everyone that Jesus Christ is our only hope!
Hãy sống vui vẻ và phục vụ, để làm cho mọi người biết rằng Đức Giêsu Kitô là niềm hy vọng duy nhất của chúng ta!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/9/2018 

- Peace is a choice: it cannot be imposed and it isn’t found by chance.
Hòa bình là một lựa chọn: Hòa bình không thể bị áp đặt, cũng không phải chuyện từ đâu tới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/9/2018 

- Goodness is loving and never imposes itself. It is a choice.
Lòng tốt là một thứ tình yêu không bao giờ áp đặt. Lòng tốt là một lựa chọn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/9/2018 

- It takes effort to always do good… The road to holiness is not for the lazy!
Làm điều tốt thì mệt… Con đường nên thánh không dành cho người lười biếng!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/9/2018 

- Today the Church invites us to contemplate the Cross of Our Lord. Contemplating the Cross for us Christians means contemplating both a sign of defeat and a sign of victory.
Hôm nay Giáo hội mời gọi chúng ta chiêm ngắm Thập Giá của Chúa chúng ta. Đối với Kitô hữu, chiêm ngắm Thập Giá là chiêm ngắm cả hai dấu chỉ của thất bại và của chiến thắng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/9/2018 

- Mary our Mother knows the joys and difficulties that we experience along our journey.
Đức Maria Mẹ chúng ta biết những niềm vui và những khó khăn mà chúng ta trải qua trong suốt hành trình của mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/9/2018 

- Jesus came down on earth so that we could go up to heaven: this is the mystery of the Cross.
Đức Giêsu xuống trần gian để chúng ta có thể lên thiên đàng: đó là mầu nhiệm của Thập Giá.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/9/2018 

- Without the right to education there is no real freedom, which allows every person to be the protagonist of their own destiny!
Không có quyền được giáo dục thì không có tự do đích thực, điều làm cho mỗi người trở thành vai chính của vận mệnh riêng mình!

Tin Mới

Trang video: Đại Hội Giới Trẻ Giáo Tỉnh Miền Bắc lần thứ XVI năm 2018
Sứ điệp Đức Thánh Cha Ngày Thế giới người nghèo lần II
Lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam. Cuộc bách hại đạo hôm nay
5 thứ làm hại tim, phổi, thận, gan, mật nhiều nhất
Chủ đề của Sứ điệp Ngày Hoà bình Thế giới lần thứ 52 (năm 2019)
'Nghệ thuật đảo ngược' nhìn đời bằng con mắt lạc quan
Cáo phó: Cụ bà Maria Lê Thị Hiệp đã được Chúa gọi về
Thâm nhập đường dây sản xuất 'thuốc làm từ thịt người' của Trung Quốc đang gây chấn động dư luận
Triết lý giáo dục: Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng. Lược sử hệ thống giáo dục tại Việt Nam trước năm 1975
Chúa nhật 32 TN B. Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn
Trà gừng tốt cho sức khỏe ra sao?
Đây là lý do tại sao Nhật Bản không giống với bất kỳ quốc gia nào
Tiền có cánh, đất có chân và những thứ đúng quy trình!
ĐTC Phanxicô: Hôn nhân là một cuộc hành trình đi từ “tôi” đến “chúng ta”
“Thư thất điều” của nhà cách mạng Phan Châu Trinh gởi vua Khải Định
Chia sẻ của một người Trung Quốc về nước Mỹ: “Quốc gia của sự tin tưởng”
Chúa nhật 31 TN B. Phụng thờ Thiên Chúa đi đôi với việc phục vụ con người
Bế mạc Thượng HĐGM: Thư gửi giới trẻ
'Kiểm duyệt' ảnh em bé Yemen suy dinh dưỡng, Facebook bị phản đối
Lớp mình HT68 và những cái…NHẤT
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 11/2018

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 49
  • Hôm nay: 383
  • Tháng hiện tại: 165927
  • Tổng lượt truy cập: 24894201