Banner giua trang

Chúa nhật 25 TN C. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ hai - 12/09/2016 21:16 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy biết tận dụng của cải ở đời này mà lo toan đến của cải tinh thần, vì của cải tinh thần mới là của cải chân thật, không hề bị hư hoại, và mới có thể đưa chúng ta vào Nước Trời.
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

 
Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy biết tận dụng của cải ở đời này mà lo toan đến của cải tinh thần, vì của cải tinh thần mới là của cải chân thật, không hề bị hư hoại, và mới có thể đưa chúng ta vào Nước Trời.
 
Am 8: 4-7
 
Ngôn sứ A-mốt phê phán thói tham lam của những phú thương Sa-ma-ri:  thay vì cử hành những ngày đại lễ để kính Đức Chúa, thì họ lại lợi dụng các ngày đại lễ để mà gian lận đầu cơ trục lợi từ những người cùng khốn và những kẻ nghèo hèn trong xứ.
 
1Tm 2: 1-8
 
Lời cầu nguyện được định vị vào trong số những của cải mà người Ki-tô hữu có. Thánh Phao-lô xin ông Ti-mô-thê quan tâm đến tính phổ quát của lời cầu nguyện trong những buổi hội họp phụng vụ của Giáo Đoàn Ê-phê-xô, vì Đức Ki-tô là Đấng Trung Gian duy nhất hoàn vũ của ơn cứu độ.
 
Lc 16: 19-31
 
Qua dụ ngôn người quản gia bất lương, Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ Ngài hãy tỏ ra khôn khéo trong việc phân phát của cải tinh thần mà Ngài giao phó cho họ cai quản. Họ phải chứng tỏ cho thấy mình xứng đáng với sự tín nhiệm của chủ: “Ai trung tín trong những việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong những việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em”.
 
BÀI ĐỌC I (Am 8: 4-7)
 
A-mốt là vị ngôn sứ bút ký đầu tiên. Ông công bố sứ điệp báo oán ở vương quốc miền Bắc (miền Ga-li-lê, thủ đô là Sa-ma-ri) vào giữa thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên. Tuy nhiên, ông xuất thân ở vùng Tơ-cô-a, gần Bết-lê-hem, thuộc vương quốc miền Nam, sống bằng nghề chăn cừu (1: 1) và chăm sóc cây sung (7: 14).
 
1. Ơn gọi:
 
A-mốt được Chúa gọi làm ngôn sứ của Ngài. Đây không lần đầu tiên cũng không là lần cuối cùng Thiên Chúa chọn một người chăn chiên để truyền đạt sứ điệp của Ngài. Chúng ta không biết Chúa gọi ông A-mốt trong hoàn cảnh nào, nhưng vị ngôn sứ nói về ơn gọi làm ngôn sứ của ông như không thể nào cưỡng kháng lại được: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã phán, ai chẳng nói tiên tri?” (3: 8).
 
Vốn là một người giản dị, quen với cuộc sống thanh đạm, gần gũi với thiên nhiên, A-mốt được Chúa sai đến vương quốc miền Bắc, vào lúc đó rất phồn vinh, để nhắc cho dân chúng nhớ những huấn lệnh của Thiên Chúa: thực thi công chính, sống khiêm hạ, bảo vệ những người bị áp bức và những kẻ nghèo hèn trong xứ.
 
2. Bối cảnh vương quốc miền Bắc:
 
Vào thời đó, dưới triều đại vua Gia-róp-am II, vương quốc miền Bắc trở nên thịnh vượng và thanh bình. Thời kỳ cực thịnh này kéo dài suốt bốn mươi năm, có thể được sánh ví với thời kỳ hoàng kim dưới triều đại của vua Sa-lô-mon.
 
Tuy nhiên, chỉ lớp có quyền có thế mới hưởng được sự thịnh vượng nầy. Những quan lại, điền chủ và tầng lớp thương gia cấu kết với nhau ra sức áp bức bốc lột những kẻ nghèo hèn và thấp cổ bé miệng trong xứ. Giai cấp nầy huênh hoang tự đắc rằng chính nhờ tài trí của họ mà đất nước được vui hưởng cảnh thanh bình thịnh trị và nhờ vào tiền đóng góp của họ mà việc phụng tự ở những đền thánh trong vương quốc, như Bết-Ên hay Ghin-gan, có được vẽ huy hoàng rực rỡ. Họ cho rằng Thiên Chúa phải hài lòng với họ, vì mọi việc diễn tiến tốt đẹp.
 
Vì thế, thực hành tôn giáo đã trở thành những buổi phụng tự phô trương và những lễ hội linh đình, nhưng chỉ là trống rỗng, bởi vì chúng không tác động đến lương tâm của quần chúng. Tôn giáo không có bất cứ ảnh hưởng nào trên đời sống luân lý, chỉ như một loại ngụy trang cho phép những kẻ quyền thế làm bất cứ điều gì họ muốn và như một thứ thuốc phiện để ru ngủ quần chúng quên đi nhưng cảnh cùng khổ và bất công mà họ phải chịu. Hậu quả rõ nét là sự bất công xã hội tràn lan, tương phản với những phẩm chất của dân Thiên Chúa.
 
3. Nhân cách ngôn sứ của A-mốt :
 
Đây là hoàn cảnh vương quốc miền Bắc mà ông A-mốt được sai đến để loan báo sứ điệp của Thiên Chúa. Trong hoàn cảnh bi thương như thế, vị ngôn sứ không thể không công kích dữ dội giai cấp cầm quyền thối nát và những kẻ giàu có hám lợi (5: 7, 10-12; 6: 1-14). Trong đoạn trích hôm nay, vị ngôn sứ tố cáo những phú thương lợi dụng các ngày đại lễ để gian lận đầu cơ trục lợi từ những kẻ bị áp bức và những người nghèo hèn trong xứ (8 : 4-6). Vị ngôn sứ nhân danh Thiên Chúa mà tuyên án : Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng (8 : 7).
 
Trong hoàn cảnh xã hội suy thoái về mặt luân lý như vậy, không thể nào khác hơn là phải công kích bằng những lời lẽ thẳng thắn, bộc trực, không vì bất kỳ ân ban lợi lộc nào có thể làm thay đổi cung giọng của vị ngôn sứ được và cũng không bất kỳ chống đối hay hăm dọa nào có thể làm cho vị ngôn sứ phải nao lòng mà chùn bước được. Không bao lâu sau đó những thành phần bị công kích phản ứng.
 
Hoàn cảnh được gói gọn vào một buổi chiều giữa ngôn sứ A-mốt và tư tế đền thờ Bết Ên là ông A-mát-gia. Trước đó, tư tế A-mát-gia đã mật báo với vua rằng ông A-mốt âm mưu chống lại vua ngay trên lãnh thổ của vua bằng cách tố cáo sự bất công và hăm dọa án phạt của Thiên Chúa. Trong cuộc gặp gỡ này, tư tế A-mát-gia bảo ngôn sứ A-mốt đừng đến đây quấy rầy họ và hãy trở về đất Giu-đa làm nghề ngôn sứ mà kiếm ăn. Sự căng thẳng giữa lời rao giảng của vị ngôn sứ và sự bác bỏ của vị tư tế tham dự trước đến tám trăm năm việc các vị lãnh đạo tôn giáo chống đối sứ vụ của Đức Giê-su. Trong trường hợp Đức Giê-su cũng vậy, giai cấp lãnh đạo tôn giáo phải vận động đến chính quyền dân sự để khai trừ “tên phản động” dám phê bình chỉ trích tình trạng hiện hành.
 
Nhân cách của ngôn sứ A-mốt có thể được tóm gọn trong những lời nhận xét sau đây : “Không một ngôn sứ nào gần gũi với thế giới ngày nay bằng A-mốt. Ông đã can đảm tố cáo những bất công trong xã hội nước Ít-ra-en ở thế kỷ thứ tám. Ông đã trở nên lương tâm của đất nước và cất tiếng nói thay cho những người thấp cổ bé miệng. Bài học quan trọng mà A-mốt vẫn còn muốn nhắc nhở các Ki-tô hữu hôm nay đó là: công bằng xã hội là chuyện của tôn giáo. Lòng đạo đức thật sự được đo lường bằng lối sống ở phố chợ hơn là ở nhà thờ” (Nhóm phiên dịch CGKPV, Dẫn Nhập Các Ngôn Sứ, tr. 702).
 
BÀI ĐỌC II (1Tm 2: 1-8)
 
Ti-mô-thê vừa là một môn đệ vừa là cộng sự viên trung tín của thánh Phao-lô. Thánh nhân đã gặp người môn đệ này ở Lýt-ra, miền Tiểu Á, trong cuộc hành trình truyền giáo thứ hai của thánh nhân. Sách Công Vụ nói với chúng ta ông được cộng đồng chứng nhận là một người Ki-tô hữu đạo hạnh (Cv 16: 2). Thánh Phao-lô muốn ông đồng hành với thánh nhân trong những cuộc hành trình truyền giáo.
 
Cha ông là người Hy-lạp, mẹ và bà ngoại của ông là người Do-thái. Ngay từ thuở nhỏ ông đã được mẹ và bà ngoại nuôi nấng dạy dỗ Kinh Thánh, vì thế ông hiểu biết thấu đáo Kinh Thánh, như lời nhận định của thánh Phao-lô trong thư thứ hai gởi Ti-mô-thê: “Tôi hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lô-ít, bà ngoại anh, nơi bà Êu-ni-kê, mẹ anh, cũng như chính nơi anh, tôi xác tín như vậy” (2Tm 1: 5). Thánh Phao-lô và ông Ti-mô-thê đã cộng tác với nhau mật thiết đến độ trong số những thư của thánh nhân có đến sáu bức thư đều có ông Ti-mô-thê đồng kính gởi.
 
Thánh Phao-lô đã ký thác cho ông Ti-mô-thê Giáo Đoàn Ê-phê-xô. Thánh Phao-lô rất yêu quý Giáo Đoàn này mà ngài đã thành lập và đổ nhiều công sức. Qua vị đứng đầu Giáo Đoàn, thánh nhân thăm hỏi hết thảy mọi thành viên trong Giáo Đoàn.
 
Thật khó để xác định niên biểu thư này, vì những năm tháng sau cùng cuộc đời của thánh Phao-lô chỉ được phỏng đoán. Tuy nhiên, thư thứ hai gởi cho Ti-mô-thê được viết chẳng bao lâu trước cuộc tử đạo của thánh nhân (năm 67), thư thứ nhất chắc chắn được viết sau thư thứ hai độ hai hay ba năm.
 
1. Ơn cứu độ phổ quát:
 
Thánh Phao-lô khuyên nên cầu nguyện không ngừng. Ở đây thánh nhân nhấn mạnh tính hoàn vũ mà lời cầu nguyện phải mặc lấy trong các buổi họp cộng đoàn. Phải cầu nguyện cho hết mọi người, vì Thiên Chúa muốn cứu độ hết mọi người. Chính vì mục đích này mà lời cầu nguyện phải là cầu xin, khẩn nguyện và nài van. Thánh Phao-lô còn thêm “tạ ơn cho tất cả mọi người”, thái độ này hoàn toàn phù hợp với truyền thống Kinh Thánh, theo đó người tín hữu tin chắc chắn rằng lời cầu nguyện của mình được nhận lời. Nhưng thánh nhân định vị mình cách đặc biệt vào trong tinh thần Giáo Hội hướng lời cầu nguyện cộng đoàn theo chiều kích tạ ơn và gọi phụng vụ cốt yếu của mình là tạ ơn.
 
2. Cầu nguyện cho tất cả những người cầm quyền:
 
Thánh nhân đã bày tỏ - và giải thích – bổn phận của người công dân trong thư gởi cho các tín hữu Rô-ma: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt. Thật thế, làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ…” (Rm 13: 1-7).
 
Đừng quên rằng thánh Phao-lô xưa kia là một kinh sư; lập trường của ngài được sáng tỏ nếu chúng ta nhớ lại một sự kiện lịch sử quan trọng. Kể từ thời hoàng đế Âu-gút-tô, người Do thái được hưởng đặc ân là không bị buộc phải thờ lạy hoàng đế được phong thần phong thánh, nhưng được phép cầu nguyện với Thiên Chúa của mình cho hoàng đế, mà không bị buộc phải kêu cầu thần Jupiter hay vị thần linh dân ngoại nào. Bao lâu đế quốc Rô-ma vẫn còn, dân Do thái được đặc quyền này. Vì thế, thánh Phao-lô không thể nghi ngờ rằng người Ki-tô hữu, xuất thân từ Do-thái giáo, bị chối từ được hưởng đặc ân này. Tuy nhiên, câu cuối cùng để cho thấy một mối lo lắng nào đó về tương lai: “để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh”.
 
3. Chỉ có một Thiên Chúa và chỉ có một Đấng Trung Gian là Đức Ki-tô.
 
Lời nguyện phổ quát mà thánh Phao-lô căn dặn đặt nền tảng trên sự duy nhất của Thiên Chúa và Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Ki-tô. Lời tuyên tín mà thánh nhân công bố có thể là lời trích dẫn của một bản văn phổ biến trong Giáo Hội tiên khởi. Khởi đầu là lời khẳng định: “Vì Thiên Chúa thì chỉ có một”, tương tự với lời khẳng định khởi đầu lời kinh nguyện hằng ngày của người Do thái (shema). Tiếp đó, thánh nhân nhấn mạnh phẩm chất duy nhất của Đức Ki-tô: “Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người cũng chỉ có một: đó là Đức Giê-su Ki-tô”. Nhờ mầu nhiệm Nhập Thể, Đức Giê-su vừa là con người vừa là Thiên Chúa; vì thế, với tư cách là con người, chỉ duy một mình Ngài mới có thể “tự hiến làm giá chuộc mọi người”.
 
Diễn ngữ thánh Phao-lô dùng cũng là diễn ngữ mà Chúa Giê-su đã dùng theo Tin Mừng Mát-thêu và Tin Mừng Mác-cô: “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20: 28; Mc 10: 45).
 
Việc thánh Phao-lô nhấn mạnh phẩm chất của Đức Giê-su, Đấng Trung Gian duy nhất và phổ quát chắc chắn là lời đáp trả cho những niềm tin Do-thái giáo vẫn còn sống động giữa vài người Ki-tô hữu xuất thân từ Do-thái giáo, theo niềm tin này, các thiên thần được gán cho một vai trò cầu bầu. Thánh Phao-lô dựa những lời khuyên bảo của mình trên ơn gọi làm Tông Đồ dân ngoại của ngài.
 
Câu cuối cùng trở lại với động cơ cầu nguyện (kỷ thuật văn chương đóng khung). Thánh nhân đòi hỏi rằng cử chỉ giơ tay lên khi cầu nguyện phải tương xứng với tư thế sẵn sàng bên trong: “tâm hồn thánh thiện và đức ái huynh đệ”.
 
TIN MỪNG (Lc 16: 1-13)
 
Trong suốt cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su giáo huấn những phẩm chất cần phải có để làm môn đệ Ngài, nhằm một mục đích duy nhất là được gia nhập Nước Trời: siêu thoát những của cải trần thế, từ bỏ bản thân, mang lấy thập giá của mình, sẵn lòng chịu trách nhiệm nghiêm trọng và xem ơn cứu độ như là của cải tối thượng, kho tàng không hề hư hoại. Chương 16 nêu lên vấn đề về thái độ đối với tiền bạc. Chương này bắt đầu với dụ ngôn “người quản gia bất lương” và hoàn tất với dụ ngôn “ông phú hộ và anh La-da-rô nghèo khó”. Hai dụ ngôn này phụ thuộc lẫn nhau và soi sáng cho nhau.
 
Tin Mừng hôm nay gồm hai phần: phần thứ nhất là dụ ngôn “người quản gia bất lương”, phần riêng của thánh Lu-ca; phần thứ hai, có chung với thánh Mát-thêu, là giáo huấn của Chúa Giê-su về việc quản lý của cải tinh thần, phần này hoàn tất với một suy tư về của cải.
 
1. Vấn đề:
 
Dụ ngôn “người quản gia bất lương” nêu lên nhiều vấn đề cho các nhà chú giải, nhất là vấn đề biết ai là người phú hộ? Danh xưng “kurios” được dùng ở đây có thể được hiểu là “Chúa”, như thế chỉ Đức Giê-su (thánh Lu-ca sử dụng tước hiệu này nhiều lần, trái với thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu), nhưng cũng có thể được hiểu là “ông chủ”, như thế chỉ gia chủ giàu có, ông đã thuê viên quản gia này. Theo tập quán Do thái thời đó, viên quản gia là người được toàn quyền thay chủ trông coi gia sản của chủ. Các nhà chú giải chia thành hai do “từ hai nghĩa” này.
 
Nhưng ngay liền sau đó, câu tiếp theo lại nêu lên vấn đề, ai đã có thể nói: “Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại” nếu không là Đức Giê-su? Hơn nữa, khởi đi từ những lời: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”, không có gì phải phân vân nữa. Đây rõ ràng là biểu thức Chúa Giê-su sử dụng trong bài giảng trên núi.
 
Mặt khác, chúng ta nhớ rằng trong các sách Tin Mừng, đây không là trường hợp duy nhất Chúa Giê-su quy chiếu đến hạnh kiểm không gì tốt đẹp của nhân vật để từ đó Ngài rút ra bài học, ví dụ như viên quan tòa bất chính, “ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì”. Viên quan tòa này, sau một thời gian dài từ chối biện hộ cho một bà góa, nhưng cuối cùng đành phải bênh vực bà góa này vì bà cứ năm phen bảy lượt van xin mãi đến đinh tai nhóc óc (Lc 18: 1-8). Nếu như Đức Giê-su không nhấn mạnh tính bất chính của viên quan tòa này, liệu nhân tố kích thích của dụ ngôn có thể được sinh động hay không. Cũng trường hợp như vậy đối với viên quản gia bất lương. Có một bài học mâu thuẩn phải rút ra từ sự khôn khéo của y.
 
2. Bận lòng đến tương lai trần thế:
 
Viên quản gia đã biển thủ của cải của chủ mình. Chuyện đến tai ông chủ, ông liền gọi anh đến và nói với anh: “Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Anh hãy thanh toán sổ sách công việc quản lý của anh, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa?”. Vì thế, anh bị lâm vào hoàn cảnh khốn cùng, nếu không tìm được một lối thoát. Anh tự nhủ: “Mình biết phải làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi”; lúc đó anh vận dụng thủ đoạn xảo trá mà dụ ngôn mô tả. Anh biết tận dụng thời gian đương nhiệm còn lại của mình, nhờ của cải không phải của anh để mà sau này những con nợ của chủ biết ơn anh và hậu tạ anh.
 
Anh được chủ khen ngợi không phải tính bất lương của anh, nhưng sự khôn khéo, biết lo toan, tính toán làm sao cho tương lai của mình được đảm bảo sau này. Chính ở nơi những nổ lực này mà Chúa Giê-su muốn thính giả của Ngài để tâm lưu ý đến. Ngài chuyển dụ ngôn từ tương lai trần thế sang tương lai vĩnh cửu. Nếu con cái ánh sáng để hết tâm trí vào ơn cứu độ của mình cũng sinh động như người quản gia bất lương này thì tốt biết mấy. Họ sẽ sử dụng tối đa cuộc sống tràn thế của mình để đảm bảo cho mình được tiếp đón trong Nước Trời: không phải tên biển thủ của dụ ngôn đã bày tỏ sự khinh miệt của anh đối với tiền của khi sử dụng nó như phương tiện để đạt cho bằng được mục đích của anh là đảm bảo cho mình một tương lai sao?
 
3. Quan tâm đến tương lai vĩnh cửu:
 
Chúa Giê-su phát biểu như một ông chủ sở hữu của cải tinh thần mà môn đệ của Ngài sẽ là những quản gia: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”. Họ phải biết tỏ ra khôn khéo trong việc phân phát của cải tinh thần mà Ngài giao phó cho họ cai quản. Của cải tinh thần này mới là của cải chân thật duy nhất, không hề hư hoại. Họ phải chứng tỏ cho thấy mình xứng đáng với sự tín nhiệm của chủ: “Ai trung tín trong những việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong những việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em”.
 
Cuối cùng, Chúa Giê-su cảnh giác coi chừng đừng làm tôi hai chủ: “Thiên Chúa hay Thần Tài”
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 06/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/6/2017 

- God looks with love upon every one of us.
Ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa nhìn xuống mỗi người chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/6/2017 

- Sharpen your gaze in order to see the signs God shows us in reality.
Hãy mài dũa nhãn quan để thấy những dấu chỉ của Thiên Chúa thể hiện trong đời sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/6/2017 

- I repeat the firm condemnation of every form of torture and call on everyone to work for its abolishment and support victims and families.
Một lần nữa tôi kiên quyết lên án mọi hình thức tra tấn và kêu gọi mọi người hành động để loại bỏ chúng đồng thời hỗ trợ các nạn nhân và gia đình họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/6/2017 

- Each one of us is precious; each one of us is irreplaceable in God’s eyes.
Mỗi người chúng ta đều quý giá; trong con mắt Thiên Chúa mỗi người chúng ta đều không thể thay thế.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/6/2017 

- Mercy warms the heart and makes it sensitive to the needs of brothers and sisters with sharing and participation.
Lòng thương xót sưởi ấm trái tim và làm cho nó nhạy cảm với những nhu cầu của anh chị em trong việc chia sẻ và thông phần.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/6/2017 

- Go forth and reach out to all people at the margins of society! Go there and be the Church, with the strength of the Holy Spirit.
Hãy ra đi và tiếp cận với tất cả những người bị gạt bên lề xã hội! Hãy đến đó và hãy là Giáo Hội, với sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/6/2017 

- Let us not be distracted by the false wisdom of this world, but to follow Jesus as the one sure guide who gives meaning to our life.
Chúng ta đừng để mình bị chi phối bởi sự khôn ngoan giả tạo của thế gian này, nhưng hãy theo người dẫn đường uy tín là Đức Giêsu, Đấng mang lại ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/6/2017 

- We must not turn our backs on the new forms of poverty and marginalization that prevent people from living a life of dignity.
Chúng ta đừng quay lưng lại với những dạng thức mới của sự nghèo đói và bị gạt bên lề xã hội khiến con người không được sống đúng phẩm giá của mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/6/2017 

- The personal encounter with refugees dispels fears and distorted ideologies and becomes a factor for growth in humanity.
Việc gặp gỡ cá nhân với những người tị nạn xua tan nỗi sợ hãi và những tư tưởng méo mó và trở thành yếu tố tăng trưởng trong nhân loại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/6/2017 

- None of us is an island, autonomous and independent from others. We can only build the future by standing together, including everyone.
Không ai trong chúng ta là một hòn đảo, tự trị và độc lập với người khác. Chúng ta chỉ có thể xây dựng tương lai khi cùng đứng chung với nhau, với hết mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/6/2017 

- Jesus was broken; he is broken for us. This is the Eucharist. And he asks us to give ourselves, to break ourselves, as it were, for others.
Đức Giêsu đã bị xẻ chia; Ngài bị xẻ chia vì chúng ta. Đó là Bí tích Thánh Thể. Và Ngài đòi hỏi chúng ta trao ban chính mình, xẻ chia chính mình ra như Ngài, cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/6/2017 

- Care for the environment is always a social concern as well. Let us hear both the cry of the earth and the cry of the poor.
Quan tâm đến môi trường sống cũng luôn là mối quan tâm đến xã hội. Chúng ta hãy lắng nghe cả tiếng kêu la của trái đất và tiếng khóc của người nghèo khổ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/6/2017 

- Love requires a creative, concrete response. Good intentions are not enough. The other is not a statistic, but a person to take care of.
Tình yêu đòi hỏi sự sáng tạo và đáp ứng cụ thể. Thiện ý thôi chưa đủ. Tha nhân không phải là những con số, đó là con người mà ta phải quan tâm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/6/2017 

- Everyone’s existence is tied to that of others: life is not time merely passing by, life is about interactions.
Sự tồn tại của mỗi người có mối liên kết với sự tồn tại của những người khác: Cuộc sống không đo bằng thời gian trôi qua, mà bằng thời gian gặp gỡ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/6/2017 

- There is much need of prayer and penitence to implore the grace of conversion and an end to the many wars throughout the world.
Cần lắm lời cầu nguyện và sám hối để cầu xin ơn cải hóa và chấm dứt nhiều cuộc chiến trên toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/6/2017 

- In his passion, Jesus took upon himself all our suffering. He knows the meaning of pain, he understands and comforts us, giving us strength.
Trong cuộc Khổ nạn của mình, Đức Giêsu đã mang trên mình tất cả nỗi thống khổ của chúng ta. Ngài biết ý nghĩa của đau đớn, Ngài hiểu, Ngài an ủi và ban cho chúng ta sức mạnh.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/6/2017 

- The Church shines forth when she is missionary, welcoming, free, faithful, poor in means and rich in love.
Giáo hội tỏa sáng khi đó là một Giáo hội truyền giáo, cởi mở, tự do, trung tín, nghèo về phương tiện và giàu về tình yêu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/6/2017 

- The Feast of the Most Holy Trinity invites us to be a leaven of commUNI0N, consolation and mercy.
Lễ Chúa Ba Ngôi Chí Thánh mời gọi chúng ta trở thành men của hiệp thông, an ủi và thương xót.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/6/2017 

- Life can survive only because of the generosity of other lives.
Mỗi phận đời chỉ sinh tồn được nhờ vào lòng quảng đại của những phận đời khác.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/6/2017 

- Each one of us, as a living member of the Body of Christ, is called to work for unity and peace.
Mỗi người trong chúng ta, với tư cách là chi thể sống động của Thân Thể Đức Kitô, được mời gọi hoạt động cho hiệp nhất và hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/6/2017 

- Humility and tenderness are not virtues of the weak, but of the strong.
Khiêm tốn và dịu dàng không phải là đức tính của người yếu đuối mà là của người mạnh mẽ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/6/2017 

- The Church needs everyday saints, those of ordinary life carried out with coherence.
Giáo Hội cần các vị thánh mỗi ngày, những người biết gắn kết trong cuộc sống thường nhật.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/6/2017 

- Let’s always remember that our faith is concrete: the Word became flesh, not an idea!
Chúng ta hãy luôn nhớ rằng đức tin phải cụ thể: Lời đã trở thành xác thân, đó đâu phải chỉ là một ý tưởng!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/6/2017 

- We must never forget that the natural environment is a collective good, the patrimony of all humanity and the responsibility of everyone.
Chúng ta đừng bao giờ quên rằng môi trường tự nhiên là tài sản của tập thể, di sản của toàn nhân loại, và thuộc trách nhiệm của mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/6/2017 

- Let us allow ourselves to be humbly led by the Holy Spirit in order to avoid taking the wrong road and closing our hearts.
Chúng ta hãy khiêm tốn để Chúa Thánh Thần dẫn dắt để khỏi lầm đường lạc lối và khép kín con tim.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/6/2017 

- Let us promote with courage all necessary means to protect the lives of our children.
Chúng ta hãy cổ vũ với lòng dũng cảm tất cả các phương tiện cần thiết để bảo vệ cuộc sống của con cái chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/6/2017 

- Through the darkness of today’s conflicts, every one of us can become a bright candle, a reminder that light will overcome darkness.
Giữa bóng đêm của những xung đột ngày nay, mỗi người chúng ta có thể trở thành ngọn nến sáng để nhắc nhở rằng ánh sáng sẽ chiến thắng bóng tối.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/6/2017 

- I thank God for parents who strive to live in love and keep moving forward, even if they fall many times along the way.
Tôi tạ ơn Chúa đã cho các bậc cha mẹ cố gắng sống trong tình yêu và tiến về phía trước, dù nhiều lúc phải ngã quỵ trên đường.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 06/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 47
  • Khách viếng thăm: 43
  • Máy chủ tìm kiếm: 4
  • Hôm nay: 18222
  • Tháng hiện tại: 479449
  • Tổng lượt truy cập: 17970563