Banner giua trang

Chúa nhật 25 TN C. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 13/09/2016 08:16 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy biết tận dụng của cải ở đời này mà lo toan đến của cải tinh thần, vì của cải tinh thần mới là của cải chân thật, không hề bị hư hoại, và mới có thể đưa chúng ta vào Nước Trời.
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

 
Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy biết tận dụng của cải ở đời này mà lo toan đến của cải tinh thần, vì của cải tinh thần mới là của cải chân thật, không hề bị hư hoại, và mới có thể đưa chúng ta vào Nước Trời.
 
Am 8: 4-7
 
Ngôn sứ A-mốt phê phán thói tham lam của những phú thương Sa-ma-ri:  thay vì cử hành những ngày đại lễ để kính Đức Chúa, thì họ lại lợi dụng các ngày đại lễ để mà gian lận đầu cơ trục lợi từ những người cùng khốn và những kẻ nghèo hèn trong xứ.
 
1Tm 2: 1-8
 
Lời cầu nguyện được định vị vào trong số những của cải mà người Ki-tô hữu có. Thánh Phao-lô xin ông Ti-mô-thê quan tâm đến tính phổ quát của lời cầu nguyện trong những buổi hội họp phụng vụ của Giáo Đoàn Ê-phê-xô, vì Đức Ki-tô là Đấng Trung Gian duy nhất hoàn vũ của ơn cứu độ.
 
Lc 16: 19-31
 
Qua dụ ngôn người quản gia bất lương, Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ Ngài hãy tỏ ra khôn khéo trong việc phân phát của cải tinh thần mà Ngài giao phó cho họ cai quản. Họ phải chứng tỏ cho thấy mình xứng đáng với sự tín nhiệm của chủ: “Ai trung tín trong những việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong những việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em”.
 
BÀI ĐỌC I (Am 8: 4-7)
 
A-mốt là vị ngôn sứ bút ký đầu tiên. Ông công bố sứ điệp báo oán ở vương quốc miền Bắc (miền Ga-li-lê, thủ đô là Sa-ma-ri) vào giữa thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên. Tuy nhiên, ông xuất thân ở vùng Tơ-cô-a, gần Bết-lê-hem, thuộc vương quốc miền Nam, sống bằng nghề chăn cừu (1: 1) và chăm sóc cây sung (7: 14).
 
1. Ơn gọi:
 
A-mốt được Chúa gọi làm ngôn sứ của Ngài. Đây không lần đầu tiên cũng không là lần cuối cùng Thiên Chúa chọn một người chăn chiên để truyền đạt sứ điệp của Ngài. Chúng ta không biết Chúa gọi ông A-mốt trong hoàn cảnh nào, nhưng vị ngôn sứ nói về ơn gọi làm ngôn sứ của ông như không thể nào cưỡng kháng lại được: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã phán, ai chẳng nói tiên tri?” (3: 8).
 
Vốn là một người giản dị, quen với cuộc sống thanh đạm, gần gũi với thiên nhiên, A-mốt được Chúa sai đến vương quốc miền Bắc, vào lúc đó rất phồn vinh, để nhắc cho dân chúng nhớ những huấn lệnh của Thiên Chúa: thực thi công chính, sống khiêm hạ, bảo vệ những người bị áp bức và những kẻ nghèo hèn trong xứ.
 
2. Bối cảnh vương quốc miền Bắc:
 
Vào thời đó, dưới triều đại vua Gia-róp-am II, vương quốc miền Bắc trở nên thịnh vượng và thanh bình. Thời kỳ cực thịnh này kéo dài suốt bốn mươi năm, có thể được sánh ví với thời kỳ hoàng kim dưới triều đại của vua Sa-lô-mon.
 
Tuy nhiên, chỉ lớp có quyền có thế mới hưởng được sự thịnh vượng nầy. Những quan lại, điền chủ và tầng lớp thương gia cấu kết với nhau ra sức áp bức bốc lột những kẻ nghèo hèn và thấp cổ bé miệng trong xứ. Giai cấp nầy huênh hoang tự đắc rằng chính nhờ tài trí của họ mà đất nước được vui hưởng cảnh thanh bình thịnh trị và nhờ vào tiền đóng góp của họ mà việc phụng tự ở những đền thánh trong vương quốc, như Bết-Ên hay Ghin-gan, có được vẽ huy hoàng rực rỡ. Họ cho rằng Thiên Chúa phải hài lòng với họ, vì mọi việc diễn tiến tốt đẹp.
 
Vì thế, thực hành tôn giáo đã trở thành những buổi phụng tự phô trương và những lễ hội linh đình, nhưng chỉ là trống rỗng, bởi vì chúng không tác động đến lương tâm của quần chúng. Tôn giáo không có bất cứ ảnh hưởng nào trên đời sống luân lý, chỉ như một loại ngụy trang cho phép những kẻ quyền thế làm bất cứ điều gì họ muốn và như một thứ thuốc phiện để ru ngủ quần chúng quên đi nhưng cảnh cùng khổ và bất công mà họ phải chịu. Hậu quả rõ nét là sự bất công xã hội tràn lan, tương phản với những phẩm chất của dân Thiên Chúa.
 
3. Nhân cách ngôn sứ của A-mốt :
 
Đây là hoàn cảnh vương quốc miền Bắc mà ông A-mốt được sai đến để loan báo sứ điệp của Thiên Chúa. Trong hoàn cảnh bi thương như thế, vị ngôn sứ không thể không công kích dữ dội giai cấp cầm quyền thối nát và những kẻ giàu có hám lợi (5: 7, 10-12; 6: 1-14). Trong đoạn trích hôm nay, vị ngôn sứ tố cáo những phú thương lợi dụng các ngày đại lễ để gian lận đầu cơ trục lợi từ những kẻ bị áp bức và những người nghèo hèn trong xứ (8 : 4-6). Vị ngôn sứ nhân danh Thiên Chúa mà tuyên án : Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi nào của chúng (8 : 7).
 
Trong hoàn cảnh xã hội suy thoái về mặt luân lý như vậy, không thể nào khác hơn là phải công kích bằng những lời lẽ thẳng thắn, bộc trực, không vì bất kỳ ân ban lợi lộc nào có thể làm thay đổi cung giọng của vị ngôn sứ được và cũng không bất kỳ chống đối hay hăm dọa nào có thể làm cho vị ngôn sứ phải nao lòng mà chùn bước được. Không bao lâu sau đó những thành phần bị công kích phản ứng.
 
Hoàn cảnh được gói gọn vào một buổi chiều giữa ngôn sứ A-mốt và tư tế đền thờ Bết Ên là ông A-mát-gia. Trước đó, tư tế A-mát-gia đã mật báo với vua rằng ông A-mốt âm mưu chống lại vua ngay trên lãnh thổ của vua bằng cách tố cáo sự bất công và hăm dọa án phạt của Thiên Chúa. Trong cuộc gặp gỡ này, tư tế A-mát-gia bảo ngôn sứ A-mốt đừng đến đây quấy rầy họ và hãy trở về đất Giu-đa làm nghề ngôn sứ mà kiếm ăn. Sự căng thẳng giữa lời rao giảng của vị ngôn sứ và sự bác bỏ của vị tư tế tham dự trước đến tám trăm năm việc các vị lãnh đạo tôn giáo chống đối sứ vụ của Đức Giê-su. Trong trường hợp Đức Giê-su cũng vậy, giai cấp lãnh đạo tôn giáo phải vận động đến chính quyền dân sự để khai trừ “tên phản động” dám phê bình chỉ trích tình trạng hiện hành.
 
Nhân cách của ngôn sứ A-mốt có thể được tóm gọn trong những lời nhận xét sau đây : “Không một ngôn sứ nào gần gũi với thế giới ngày nay bằng A-mốt. Ông đã can đảm tố cáo những bất công trong xã hội nước Ít-ra-en ở thế kỷ thứ tám. Ông đã trở nên lương tâm của đất nước và cất tiếng nói thay cho những người thấp cổ bé miệng. Bài học quan trọng mà A-mốt vẫn còn muốn nhắc nhở các Ki-tô hữu hôm nay đó là: công bằng xã hội là chuyện của tôn giáo. Lòng đạo đức thật sự được đo lường bằng lối sống ở phố chợ hơn là ở nhà thờ” (Nhóm phiên dịch CGKPV, Dẫn Nhập Các Ngôn Sứ, tr. 702).
 
BÀI ĐỌC II (1Tm 2: 1-8)
 
Ti-mô-thê vừa là một môn đệ vừa là cộng sự viên trung tín của thánh Phao-lô. Thánh nhân đã gặp người môn đệ này ở Lýt-ra, miền Tiểu Á, trong cuộc hành trình truyền giáo thứ hai của thánh nhân. Sách Công Vụ nói với chúng ta ông được cộng đồng chứng nhận là một người Ki-tô hữu đạo hạnh (Cv 16: 2). Thánh Phao-lô muốn ông đồng hành với thánh nhân trong những cuộc hành trình truyền giáo.
 
Cha ông là người Hy-lạp, mẹ và bà ngoại của ông là người Do-thái. Ngay từ thuở nhỏ ông đã được mẹ và bà ngoại nuôi nấng dạy dỗ Kinh Thánh, vì thế ông hiểu biết thấu đáo Kinh Thánh, như lời nhận định của thánh Phao-lô trong thư thứ hai gởi Ti-mô-thê: “Tôi hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lô-ít, bà ngoại anh, nơi bà Êu-ni-kê, mẹ anh, cũng như chính nơi anh, tôi xác tín như vậy” (2Tm 1: 5). Thánh Phao-lô và ông Ti-mô-thê đã cộng tác với nhau mật thiết đến độ trong số những thư của thánh nhân có đến sáu bức thư đều có ông Ti-mô-thê đồng kính gởi.
 
Thánh Phao-lô đã ký thác cho ông Ti-mô-thê Giáo Đoàn Ê-phê-xô. Thánh Phao-lô rất yêu quý Giáo Đoàn này mà ngài đã thành lập và đổ nhiều công sức. Qua vị đứng đầu Giáo Đoàn, thánh nhân thăm hỏi hết thảy mọi thành viên trong Giáo Đoàn.
 
Thật khó để xác định niên biểu thư này, vì những năm tháng sau cùng cuộc đời của thánh Phao-lô chỉ được phỏng đoán. Tuy nhiên, thư thứ hai gởi cho Ti-mô-thê được viết chẳng bao lâu trước cuộc tử đạo của thánh nhân (năm 67), thư thứ nhất chắc chắn được viết sau thư thứ hai độ hai hay ba năm.
 
1. Ơn cứu độ phổ quát:
 
Thánh Phao-lô khuyên nên cầu nguyện không ngừng. Ở đây thánh nhân nhấn mạnh tính hoàn vũ mà lời cầu nguyện phải mặc lấy trong các buổi họp cộng đoàn. Phải cầu nguyện cho hết mọi người, vì Thiên Chúa muốn cứu độ hết mọi người. Chính vì mục đích này mà lời cầu nguyện phải là cầu xin, khẩn nguyện và nài van. Thánh Phao-lô còn thêm “tạ ơn cho tất cả mọi người”, thái độ này hoàn toàn phù hợp với truyền thống Kinh Thánh, theo đó người tín hữu tin chắc chắn rằng lời cầu nguyện của mình được nhận lời. Nhưng thánh nhân định vị mình cách đặc biệt vào trong tinh thần Giáo Hội hướng lời cầu nguyện cộng đoàn theo chiều kích tạ ơn và gọi phụng vụ cốt yếu của mình là tạ ơn.
 
2. Cầu nguyện cho tất cả những người cầm quyền:
 
Thánh nhân đã bày tỏ - và giải thích – bổn phận của người công dân trong thư gởi cho các tín hữu Rô-ma: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt. Thật thế, làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ…” (Rm 13: 1-7).
 
Đừng quên rằng thánh Phao-lô xưa kia là một kinh sư; lập trường của ngài được sáng tỏ nếu chúng ta nhớ lại một sự kiện lịch sử quan trọng. Kể từ thời hoàng đế Âu-gút-tô, người Do thái được hưởng đặc ân là không bị buộc phải thờ lạy hoàng đế được phong thần phong thánh, nhưng được phép cầu nguyện với Thiên Chúa của mình cho hoàng đế, mà không bị buộc phải kêu cầu thần Jupiter hay vị thần linh dân ngoại nào. Bao lâu đế quốc Rô-ma vẫn còn, dân Do thái được đặc quyền này. Vì thế, thánh Phao-lô không thể nghi ngờ rằng người Ki-tô hữu, xuất thân từ Do-thái giáo, bị chối từ được hưởng đặc ân này. Tuy nhiên, câu cuối cùng để cho thấy một mối lo lắng nào đó về tương lai: “để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh”.
 
3. Chỉ có một Thiên Chúa và chỉ có một Đấng Trung Gian là Đức Ki-tô.
 
Lời nguyện phổ quát mà thánh Phao-lô căn dặn đặt nền tảng trên sự duy nhất của Thiên Chúa và Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Ki-tô. Lời tuyên tín mà thánh nhân công bố có thể là lời trích dẫn của một bản văn phổ biến trong Giáo Hội tiên khởi. Khởi đầu là lời khẳng định: “Vì Thiên Chúa thì chỉ có một”, tương tự với lời khẳng định khởi đầu lời kinh nguyện hằng ngày của người Do thái (shema). Tiếp đó, thánh nhân nhấn mạnh phẩm chất duy nhất của Đức Ki-tô: “Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người cũng chỉ có một: đó là Đức Giê-su Ki-tô”. Nhờ mầu nhiệm Nhập Thể, Đức Giê-su vừa là con người vừa là Thiên Chúa; vì thế, với tư cách là con người, chỉ duy một mình Ngài mới có thể “tự hiến làm giá chuộc mọi người”.
 
Diễn ngữ thánh Phao-lô dùng cũng là diễn ngữ mà Chúa Giê-su đã dùng theo Tin Mừng Mát-thêu và Tin Mừng Mác-cô: “Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20: 28; Mc 10: 45).
 
Việc thánh Phao-lô nhấn mạnh phẩm chất của Đức Giê-su, Đấng Trung Gian duy nhất và phổ quát chắc chắn là lời đáp trả cho những niềm tin Do-thái giáo vẫn còn sống động giữa vài người Ki-tô hữu xuất thân từ Do-thái giáo, theo niềm tin này, các thiên thần được gán cho một vai trò cầu bầu. Thánh Phao-lô dựa những lời khuyên bảo của mình trên ơn gọi làm Tông Đồ dân ngoại của ngài.
 
Câu cuối cùng trở lại với động cơ cầu nguyện (kỷ thuật văn chương đóng khung). Thánh nhân đòi hỏi rằng cử chỉ giơ tay lên khi cầu nguyện phải tương xứng với tư thế sẵn sàng bên trong: “tâm hồn thánh thiện và đức ái huynh đệ”.
 
TIN MỪNG (Lc 16: 1-13)
 
Trong suốt cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su giáo huấn những phẩm chất cần phải có để làm môn đệ Ngài, nhằm một mục đích duy nhất là được gia nhập Nước Trời: siêu thoát những của cải trần thế, từ bỏ bản thân, mang lấy thập giá của mình, sẵn lòng chịu trách nhiệm nghiêm trọng và xem ơn cứu độ như là của cải tối thượng, kho tàng không hề hư hoại. Chương 16 nêu lên vấn đề về thái độ đối với tiền bạc. Chương này bắt đầu với dụ ngôn “người quản gia bất lương” và hoàn tất với dụ ngôn “ông phú hộ và anh La-da-rô nghèo khó”. Hai dụ ngôn này phụ thuộc lẫn nhau và soi sáng cho nhau.
 
Tin Mừng hôm nay gồm hai phần: phần thứ nhất là dụ ngôn “người quản gia bất lương”, phần riêng của thánh Lu-ca; phần thứ hai, có chung với thánh Mát-thêu, là giáo huấn của Chúa Giê-su về việc quản lý của cải tinh thần, phần này hoàn tất với một suy tư về của cải.
 
1. Vấn đề:
 
Dụ ngôn “người quản gia bất lương” nêu lên nhiều vấn đề cho các nhà chú giải, nhất là vấn đề biết ai là người phú hộ? Danh xưng “kurios” được dùng ở đây có thể được hiểu là “Chúa”, như thế chỉ Đức Giê-su (thánh Lu-ca sử dụng tước hiệu này nhiều lần, trái với thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu), nhưng cũng có thể được hiểu là “ông chủ”, như thế chỉ gia chủ giàu có, ông đã thuê viên quản gia này. Theo tập quán Do thái thời đó, viên quản gia là người được toàn quyền thay chủ trông coi gia sản của chủ. Các nhà chú giải chia thành hai do “từ hai nghĩa” này.
 
Nhưng ngay liền sau đó, câu tiếp theo lại nêu lên vấn đề, ai đã có thể nói: “Con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại” nếu không là Đức Giê-su? Hơn nữa, khởi đi từ những lời: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”, không có gì phải phân vân nữa. Đây rõ ràng là biểu thức Chúa Giê-su sử dụng trong bài giảng trên núi.
 
Mặt khác, chúng ta nhớ rằng trong các sách Tin Mừng, đây không là trường hợp duy nhất Chúa Giê-su quy chiếu đến hạnh kiểm không gì tốt đẹp của nhân vật để từ đó Ngài rút ra bài học, ví dụ như viên quan tòa bất chính, “ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì”. Viên quan tòa này, sau một thời gian dài từ chối biện hộ cho một bà góa, nhưng cuối cùng đành phải bênh vực bà góa này vì bà cứ năm phen bảy lượt van xin mãi đến đinh tai nhóc óc (Lc 18: 1-8). Nếu như Đức Giê-su không nhấn mạnh tính bất chính của viên quan tòa này, liệu nhân tố kích thích của dụ ngôn có thể được sinh động hay không. Cũng trường hợp như vậy đối với viên quản gia bất lương. Có một bài học mâu thuẩn phải rút ra từ sự khôn khéo của y.
 
2. Bận lòng đến tương lai trần thế:
 
Viên quản gia đã biển thủ của cải của chủ mình. Chuyện đến tai ông chủ, ông liền gọi anh đến và nói với anh: “Tôi nghe người ta nói gì về anh đó? Anh hãy thanh toán sổ sách công việc quản lý của anh, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa?”. Vì thế, anh bị lâm vào hoàn cảnh khốn cùng, nếu không tìm được một lối thoát. Anh tự nhủ: “Mình biết phải làm gì đây? Vì ông chủ đã cất chức quản gia của mình rồi. Cuốc đất thì không nổi, ăn mày thì hổ ngươi”; lúc đó anh vận dụng thủ đoạn xảo trá mà dụ ngôn mô tả. Anh biết tận dụng thời gian đương nhiệm còn lại của mình, nhờ của cải không phải của anh để mà sau này những con nợ của chủ biết ơn anh và hậu tạ anh.
 
Anh được chủ khen ngợi không phải tính bất lương của anh, nhưng sự khôn khéo, biết lo toan, tính toán làm sao cho tương lai của mình được đảm bảo sau này. Chính ở nơi những nổ lực này mà Chúa Giê-su muốn thính giả của Ngài để tâm lưu ý đến. Ngài chuyển dụ ngôn từ tương lai trần thế sang tương lai vĩnh cửu. Nếu con cái ánh sáng để hết tâm trí vào ơn cứu độ của mình cũng sinh động như người quản gia bất lương này thì tốt biết mấy. Họ sẽ sử dụng tối đa cuộc sống tràn thế của mình để đảm bảo cho mình được tiếp đón trong Nước Trời: không phải tên biển thủ của dụ ngôn đã bày tỏ sự khinh miệt của anh đối với tiền của khi sử dụng nó như phương tiện để đạt cho bằng được mục đích của anh là đảm bảo cho mình một tương lai sao?
 
3. Quan tâm đến tương lai vĩnh cửu:
 
Chúa Giê-su phát biểu như một ông chủ sở hữu của cải tinh thần mà môn đệ của Ngài sẽ là những quản gia: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết…”. Họ phải biết tỏ ra khôn khéo trong việc phân phát của cải tinh thần mà Ngài giao phó cho họ cai quản. Của cải tinh thần này mới là của cải chân thật duy nhất, không hề hư hoại. Họ phải chứng tỏ cho thấy mình xứng đáng với sự tín nhiệm của chủ: “Ai trung tín trong những việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong những việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em”.
 
Cuối cùng, Chúa Giê-su cảnh giác coi chừng đừng làm tôi hai chủ: “Thiên Chúa hay Thần Tài”
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 02/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/02/2017 

- How often in the Bible the Lord asks us to welcome migrants and foreigners, reminding us that we too are foreigners!
Biết bao lần trong Kinh Thánh Chúa dạy chúng ta phải đón tiếp người nhập cư và khách lạ, đồng thời nhắc nhở chúng ta cũng là những khách lạ!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/02/2017 

- A youthful heart does not tolerate injustice and cannot bow to a “throw-away culture” nor give in to the globalization of indifference.
Một trái tim trẻ trung không khoan dung trước bất công, không cúi đầu trước văn hóa thải loại, không đầu hàng trước nạn toàn cầu hóa dửng dưng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/02/2017 

- I invite you to join in the fight against poverty, both material and spiritual. Together let’s build peace and bridges of friendship.
Tôi mời gọi anh chị em đấu tranh chống lại sự nghèo đói cả về mặt thể chất và tinh thần. Chúng ta hãy cùng nhau xây dựng hòa bình và bắc những nhịp cầu huynh đệ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/02/2017 

- The throwaway culture is not of Jesus. The other is my brother, beyond every barrier of nationality, social extraction or religion.
Nền văn hóa thải loại không phải là của Đức Giêsu. Tha nhân là anh em của tôi, bất kể rào cản quốc gia, tầng lớp xã hội hay tôn giáo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/02/2017 

- It is good to know the Lord takes on the burden of our fragilities and patiently gets us back on our feet with the strength to start over.
Tốt đẹp biết mấy khi nhận ra Chúa đang quảy gánh nặng sự yếu đuối của chúng ta và nhẫn nại vực chúng ta đứng dậy trên đôi chân với sức mạnh để bắt đầu lại.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/02/2017 

- Let us never place conditions on God! Entrusting ourselves to the Lord means entering into his plans without demanding anything.
Chúng ta đừng bao giờ đặt điều kiện với Thiên Chúa! Tin vào Chúa có nghĩa là dấn thân vào kế hoạch của Ngài mà không đòi hỏi gì cả.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/02/2017 

- The dignity of children must be respected: we pray that the scandal of child-soldiers may be eliminated the world over.
Cần tôn trọng phẩm giá của trẻ em: Chúng ta hãy cầu xin cho việc lạm dụng chiến binh-trẻ em phải bị loại bỏ trên toàn thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/02/2017 

- I encourage all of you to see in Mary, Health of the Infirm, the sure sign of God’s love for every human being.
Tôi khuyến khích các bạn hãy ngắm nhìn Mẹ Maria, Vị Cứu tinh của bệnh nhân, là dấu chỉ chắc chắn tình yêu của Thiên Chúa đối với mỗi con người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/02/2017 

- Let us be close to our brothers and sisters who are going through illness and also their families.
Chúng ta hãy gần gũi các anh chị em đang sống với bệnh tật và cả gia đình của họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/02/2017 

- Hope opens new horizons and enables us to dream of what is not even imaginable.
Niềm hy vọng mở ra những chân trời mới, giúp chúng ta mơ về những điều thậm chí không tưởng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/02/2017 

- Those who traffic human beings are ultimately accountable to God. Let us pray for the conversion of hearts.
Những kẻ buôn người cuối cùng phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các tâm hồn biết hối cải.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/02/2017 

- Let us hear the cry of the many children who are enslaved. No one must remain indifferent to their sorrow.
Chúng ta hãy lắng nghe tiếng khóc của biết bao trẻ em bị bán làm nô lệ. Xin đừng ai dửng dưng trước nỗi đau của chúng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/02/2017 

- Being a believer means learning how to see with eyes of faith.
Làm người tín hữu nghĩa là phải học nhìn dưới con mắt của đức tin.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/02/2017 

- Let us never forget to pray for each another. Prayer is our greatest strength.
Chúng ta đừng bao giờ quên cầu nguyện cho nhau. Lời cầu nguyện là nguồn sức mạnh lớn nhất của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/02/2017 

- Consecrated life is a great gift of God: a gift of God to the Church, a gift of God to His People.
Đời sống thánh hiến là món quà tuyệt vời của Thiên Chúa: món quà Thiên Chúa ban cho Giáo hội, món quà Thiên Chúa ban cho Dân Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/02/2017 

- God wants us all to see one another as brothers and to live as such, forming a great human family that is harmonious in its diversity.
Thiên Chúa muốn tất cả mọi người coi nhau là anh em và sống trong tinh thần đó, làm cho nhân loại trở thành một đại gia đình hòa hợp trong sự khác biệt của nó.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 31/01/2017 

- Let us imitate the attitude of Jesus toward the sick: he takes care of everyone, He shares their suffering and opens their hearts to hope.
Chúng ta hãy bắt chước thái độ của Đức Giêsu đối với những người bệnh: Ngài chăm sóc họ, chia sẻ những đau đớn của họ và mở lòng họ hướng về niềm hy vọng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/01/2017 

- Nothing is impossible if we turn to God in prayer. We can all be builders of peace.
Hướng lòng về Chúa để cầu nguyện thì không có gì là không thể được. Tất cả chúng ta đều có thể trở thành những người xây dựng hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/01/2017 

- Lord, God of peace, hear our prayer and grant us peace in the Holy Land. Shalom, salaam, peace!
Lạy Chúa, Thiên Chúa của hòa bình, xin lắng nghe lời chúng con khẩn cầu và ban ơn hòa bình cho Thánh Địa. Shalom, salaam, chúc an hòa!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/01/2017 

- The Kingdom of God is already in our midst like a hidden seed. Anyone with pure eyes can see it blossom.
Nước Trời đang ở giữa chúng ta như hạt giống bị chôn vùi. Bất cứ ai có đôi mắt thanh khiết đều có thể thấy nó nẩy mầm.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/01/2017 

- Today I want to remember in my heart all the victims of the Holocaust. May their sufferings and their tears never be forgotten.
Hôm nay tôi muốn hồi tưởng lại trong trái tim tôi tất cả những nạn nhân của cuộc thảm sát người Do Thái. Cầu mong sao những đau khổ và những giọt nước mắt của họ không bao giờ bị lãng quên.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/01/2017 

- Hope lets new life blossom, like a plant that grows from the seed fallen on the earth.
Niềm hy vọng trổ sinh cuộc sống mới, như cây mọc lên từ hạt giống rơi vào lòng đất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/01/2017 

- I love to repeat that Christian unity is achieved by walking together, by encounter, prayer and preaching the Gospel.
Tôi muốn lặp lại rằng sự Hiệp nhất các Kitô hữu được thể hiện khi cùng đi với nhau, gặp gỡ nhau, cầu nguyện và loan báo Tin Mừng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/01/2017 

- Let us offer the men and women of our time stories marked by the logic of the “good news”.
Chúng ta hãy cung cấp cho con người thời nay những bài viết mang dấu ấn của lối biện giải “tin tốt lành”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/01/2017 

-“Be not afraid, for I am with you”. Let us communicate hope and trust in our time!
“Đừng sợ, vì Thầy ở với các con”. Chúng ta hãy truyền bá niềm hy vọng và niềm tin trong thời đại chúng ta!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/01/2017 

- The unity of love is realised when we announce together the wonders God has done for us.
Sự hợp nhất trong tình yêu được thực hiện khi chúng ta loan báo cho người khác những điều kỳ diệu mà Chúa đã làm cho chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/01/2017 

- Christian unity is not the fruit of our human efforts but a gift that comes from above.
Sự hiệp nhất các Kitô hữu không phải là hoa trái của những nỗ lực của con người mà là một quà tặng đến từ trời cao.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 02/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 42
  • Khách viếng thăm: 35
  • Máy chủ tìm kiếm: 7
  • Hôm nay: 623
  • Tháng hiện tại: 153226
  • Tổng lượt truy cập: 16117353