Banner giua trang

Chúa nhật 23 TN C. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 30/08/2016 06:49 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Tin Mừng tường thuật cho chúng ta giáo huấn của Đức Giê-su về những yêu sách mà Ngài đòi hỏi các môn đệ Ngài: muốn theo Ngài phải dành quyền ưu tiên tuyệt đối cho Ngài, thậm chí trên mọi mối dây ràng buộc trần thế, kể cả gia đình đi nữa.
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN

 
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật này mời gọi chúng ta suy niệm về ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa làm chúng ta đôi phen hụt hẩng, làm đảo lộn mọi kỳ vọng của con người, làm thay đổi những mối quan hệ giữa người với người, tương đối hóa quan niệm của con người về thế giới.
 
Kn 9: 13-18
 
Đoạn trích sách Khôn Ngoan gợi lên những giới hạn của những hiểu biết phàm nhân. Với trí tuệ phàm nhân, con người vô phương dò thấu những ý định của Thiên Chúa, nhưng nhờ ánh sáng Mặc Khải và tác động thần khí thánh ở nơi con người mà con người mới có thể đạt được một sự hiểu biết sung mãn.
 
Plm 9b-10, 12-17
 
Trong thư gởi ông Phi-lê-mon, thánh Phao-lô đưa ra một lời khuyên thật cảm động. Thánh nhân thỉnh cầu ông hãy đón nhận người nô lệ trốn chạy khỏi nhà ông và nay đã trở thành Ki-tô hữu, như một người con ruột thịt của thánh nhân và như người anh em rất thân mến trong Đức Ki-tô. 
 
Lc 14: 25-33
 
Tin Mừng tường thuật cho chúng ta giáo huấn của Đức Giê-su về những yêu sách mà Ngài đòi hỏi các môn đệ Ngài: muốn theo Ngài phải dành quyền ưu tiên tuyệt đối cho Ngài, thậm chí trên mọi mối dây ràng buộc trần thế, kể cả gia đình đi nữa.
 
BÀI ĐỌC I (Kn 9: 13-18)
 
Chúng ta không biết tác giả sách Khôn Ngoan là ai. Tác phẩm này đã được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, bởi một người Do thái mộ đạo thành A-lê-xan-ri-a. Tác giả muốn cảnh giác đồng bào của mình trước những sức quyến rũ của nền văn hóa Hy-lạp. Ông đổ hết tâm trí để nhắc lại những giá trị khôn sánh của sự khôn ngoan Do-thái giáo, gia sản của cha ông họ.
 
Đoạn văn hôm nay được trích từ phần thứ hai của sách. Bằng hư cấu văn chương, tác giả để cho vua Sa-lô-mon, một vị vua nổi tiếng khôn ngoan bậc nhất, lên tiếng. Chương 9 là lời cầu nguyện dài của vua, tán rộng lời cầu nguyện mà 1V 3: 6-10 đã trích dẫn một cách ngắn gọn, theo đó, vua Sa-lô-mon chỉ cầu xin Chúa ban cho mình được ơn khôn ngoan. Lời cầu nguyện của vua làm đẹp lòng Chúa. Thiên Chúa chẳng những ban cho vua được ơn khôn ngoan mà còn được muôn vàn những ân phúc khác nữa.
 
Việc nêu lên lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon như vậy đã trở nên một đề tài kinh điển của các tác phẩm minh triết. Tác giả sách Khôn Ngoan đem lại cho lời cầu nguyện này những dấu ấn riêng nhằm đánh động những người đương thời của ông. Dưới những khía cạnh phi thời gian của sự khôn ngoan, sứ điệp trực tiếp nhắm đến một xã hội phàm trần vào thời đại của tác giả. Sứ điệp này vẫn giữ mãi giá trị trường tồn của nó.
 
1. Thành phố A-lê-xan-ri-a vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên:
 
Hơn hai thế kỷ qua, thành phố A-lê-xan-ri-a là thủ đô trí tuệ của thế giới thời xưa. Vị vua đầu tiên của triều đại nhà Tô-lê-mê (323-285 trước Công Nguyên) đã cho xây cất một Bảo Tàng Viện danh tiếng, tại đó quy tụ các nhà thông thái và những nhà nghiên cứu các môn học thời danh; họ có sẵn một thư viện bao la cũng như phòng thí nghiệm. Những tiến bộ đáng chú ý trong mọi lãnh vực: toán học, thiên văn học, y học, nhất là giải phẩu học, vật lý, địa lý. Về triết học, thành A-lê-xan-ri-a tiếp nối sự nghiệp của thành A-thê-na. Những hệ thống triết học đặt cạnh nhau và giải thích cho nhau. Về tôn giáo, những khuynh hướng tôn giáo hỗn hợp khẳng định cho nhau. Tóm lại, một thời kỳ huy hoàng nhất đối với trí tuệ con người, con người có thể tự hào về những chinh phục của mình.
 
2. Sự mỏng dòn của lý trí phàm nhân:
 
Tác giả sách Khôn Ngoan phản ứng lại do quan điểm tôn giáo của ông về thế giới. Những hiểu biết phàm nhân, dù đáng chú ý đến mấy đi nữa, chẳng bao giờ hiểu được những ý định của Thiên Chúa: “Lạy Chúa, nào ai biết được ý định của Thiên Chúa? Nào có ai hiểu được Đức Chúa muốn điều chi?”.
 
Câu hỏi này Kinh Thánh thường đặt ra để nhắc nhớ sự siêu việt của Thiên Chúa, như Gióp: “Có phải anh đã hiện diện trong triều thần Thiên Chúa, và đã chiếm đoạt được khôn ngoan?” (G 15: 8) hay Giê-rê-mi-a: “Nhưng ai đã được họp bàn với Đức Chúa, để chứng kiến và nghe lời Người?” (Gr 23: 18) hoặc I-sai-a: “Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người?” (Is 40: 13). Tác giả sách Khôn Ngoan hỗ trợ đề tài này bằng một tư tưởng không kém phần chứng thực: “Chúng con vốn là loài phải chết, tư tưởng không sâu, lý luận không vững”.

Tiếp đó, một câu nhuốm màu sắc nhị nguyên của Platon: “Quả vậy, thân xác dể hư nát này khiến linh hồn ra nặng”, nhưng ngay tức khắc lại gắn bó với đề tài Kinh Thánh về con người: “cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề”.
 
Những suy tư tiếp theo sau có thể mang tính bút chiến; chúng xem ra làm giảm thiểu những nổ lực của các bậc thông thái trong việc giải thích những thực tại trần thế. Thêm nữa, những nổ lực này không thể nào dò thấu những thực tại thiên giới: “Những gì thuộc hạ giới, chúng con đã khó mà hình dung nổi, những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được, thì những gì thuộc thượng giới, có ai dò thấu nổi hay chăng?”.
 
3. Lý trí phàm nhân được sự khôn ngoan Thiên Chúa soi sáng:
 
Những hiểu biết phàm nhân chỉ được sung mãn nhờ Mặc Khải và tác động thần khí thánh ở nơi con người: “Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Người chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gởi thần khí thánh?”. Vì là một tín đồ Do thái giáo, trung thành với độc thần giáo tuyệt đối khó mà gợi lên trong tâm trí của tác giả một sự biệt phân giữa Đức Chúa và thần khí thánh của Người; nhưng đúng hơn, tác giả đồng hóa Đức Khôn Ngoan của Đức Chúa với thần trí của Người. Tuy nhiên, thật chính đáng để đọc thấy ở đây một sự linh cảm nào đó về sự khác nhau về Đức Chúa và thần khí thánh của Người ở lòng cuộc sống của Thiên Chúa.
 
Cuối cùng, tác giả ám chỉ đến Lề Luật, được xem như cách diễn tả sự khôn ngoan của Thiên Chúa, kim chỉ nam cho những đức hạnh phàm nhân, con đường cứu độ: “Chính vì thế mà đường lối người phàm được sửa lại cho thẳng, cũng vì thế mà con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài, và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ”.
 
Đoạn trích hôm nay vừa kết thúc lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon và cũng là để chuyển sang phần thứ ba của sách: suy tư về sự khôn ngoan của Thiên Chúa đang hoạt động trong Lịch Sử.
 
BÀI ĐỌC II (Plm 9b-10, 12-17)
 
Thư gởi ông Phi-lê-mon, tuy ngắn nhất trong các thư của thánh Phao-lô, nhưng rất độc đáo vì những tâm tình tinh tế được diễn tả ở đây và những tấm lòng được biến đổi dưới ảnh hưởng của Ki-tô giáo thật là cảm động mà bức thư này làm chứng.
 
1. Lý do thánh nhân viết bức thư này:
 
Vào lúc đó, thánh Phao-lô đang bị giam cầm ở Rô-ma, chắc hẳn vào những năm 62-63. Thánh nhân đang đối mặt với một vấn đề không đơn giản một chút nào. Ông Phi-lê-mon là một Ki-tô hữu Cô-lô-xê; chắc chắn là một nhân vật khá giả, vì cộng đồng Ki-tô hữu tụ họp ở tại nhà ông. Ông có một người nô lệ tên là “Ô-nê-xi-mô”. Người nô lệ này đã trốn chạy khỏi nhà ông và lấy trộm của chủ một số đồ đạc, như thánh nhân đã viết trong thư: “Nếu anh ấy đã làm thiệt hại anh hay mắc nợ anh điều gì thì xin để tôi nhận cả”. Để tránh khỏi những cuộc truy tìm và những hình phạt mà anh có thể phải chịu, anh Ô-nê-xi-mô đã chạy đến Rô-ma, vì anh hy vọng mình có thể dễ dàng lẫn trốn vào đám đông trong các đường phố tại thành phố rộng lớn này.
 
Người nô lệ này biết rất rõ những người Ki-tô hữu vì đã thấy họ thường xuyên tụ họp tại nhà của chủ mình. Phải chăng đó là lý do thúc đẩy anh chạy đến Rô-ma để gặp thánh Phao-lô? Bức thư không nói cho chúng ta biết lý do. Dù sao thánh Phao-lô đã rửa tội cho anh và quý mến anh. Trong thời gian ở với thánh Phao-lô, anh Ô-nê-xi-mô đã trở nên một người hữu ích đến nỗi thánh nhân muốn giữ anh lại bên cạnh mình. Tuy nhiên, thánh nhân không thể, vì sợ vi phạm quyền lợi của ông Phi-lê-mon, chủ của anh. Vì thế, thánh nhân quyết định gởi anh Ô-nê-xi-mô trở về chủ của anh, ông Phi-lê-mon, kèm theo bức thư do tự tay thánh nhân viết. Không ai biết rõ hơn thánh nhân rằng người nô lệ đào thoát này trở về nhà chủ có thể gặp phải những nguy hiểm như thế nào. Như chúng ta biết thân phận của người nô lệ vào thời đó, người nô lệ không được đối xử như một con người nhưng như một dụng cụ sống trong bàn tay của chủ, tùy ý chủ sử dụng. Trong trường hợp một nô lệ trốn chủ, anh sẽ bị đóng dấu bằng thỏi sắt nung đỏ mang hình chữ viết tắt Đào Tẩu và chịu hình phạt tùy theo ý chủ.
 
Với sự tế nhị, thánh nhân thỉnh cầu ông Phi-lê-mon hai cử chỉ khác thường: khoan hồng cho phạm nhân và nhận lại người này không phải trong tư thế của người nô lệ nhưng như người con ruột thịt của thánh nhân và như một người anh em thân mến trong Đức Ki-tô.
 
Một sự gợi ý thật tinh tế, một lời mời gọi thật kín đáo, một lời thỉnh cầu mà không đòi buộc. Đoạn trích này thuộc phần trung tâm của bức thư.
 
2. “Tôi, một người đã già và đang bị tù vì Đức Ki-tô”:
 
Thánh Phao-lô thử đặt tất cả danh dự của con người ngài vào lời thỉnh cầu của mình cho người nô lệ này: thánh nhân nhắc lại rằng ngài đã già (vào thời đó, 50-55 tuổi được xem là già) và đang bị cầm tù, và chính trong cảnh giam cầm này mà thánh nhân rửa tội cho anh: “Tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích”.
 
3. “Tôi xin gởi nó về cho anh”:
 
Thánh Phao-lô muốn mọi việc đều rõ ràng. Anh Ô-nê-xi-mô thuộc quyền sở hữu của ông Phi-lê-mon. Thật ra thánh nhân biết rằng nếu ngài ngỏ lời với ông Phi-lê-mon, chắc chắn bạn của mình sẵn lòng để anh Ô-nê-xi-mô ở lại với thánh nhân để phục vụ thánh nhân trong cảnh xiềng xích. Như vậy, khi gởi anh Ô-ne-xi-mô trở về chủ của mình, thánh nhân xem trọng tính cách nhưng không của tình bạn.
 
4. Như một người con ruột thịt của thánh nhân:
 
Nhưng thánh nhân nhấn mạnh tình phụ tử tinh thần của ngài; vì đã có một thay đổi sâu xa: anh Ô-nê-xi-mô đã trở thành Ki-tô hữu. Thánh nhân thương mến anh như đứa con ruột thịt mà thánh nhân đã mang nặng đẻ đau trong cảnh xiềng xích. Phải chăng thánh nhân muốn ông Phi-lê-mon cũng sẽ chia sẻ với thánh nhân những tâm tình như thế?
 
Thánh nhân khuyên ông Phi-lê-mon nên tha thứ cho anh Ô-nê-xi-mô, dù không nói trắng ra nhưng chỉ gợi ý: “Tôi chẳng muốn làm gì mà không có sự chấp thuận của anh, kẻo việc nghĩa anh làm có vẻ miễn cưỡng, chứ không tự nguyện”.
 
5. Như một người anh em rất thân mến:
 
Thánh nhân nhắc cho ông Phi-lê-mon biết rằng việc anh Ô-nê-xi-mô trốn chủ phải được xem như một thiên ân: vì ông Phi-lê-mon “không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ, thì được một người anh em rất thân mến”. Với chỉ vài lời này thôi cũng đủ để diễn tả cuộc cách mạng mà Ki-tô giáo đem đến cho những mối quan hệ giữa người với người.
 
Quả thật, sau này thánh nhân đã viết: “Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, , nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3: 28; Cl 3: 14). Biểu thức này không muốn nói rằng từ nay không còn phân biệt chủng tộc, phái tính, chủ tớ, nhưng những phân biệt này chẳng còn có ý nghĩa gì trước mặt Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lòng dạ con người. Từ nay, sự biến đổi nội tâm mới là đáng kể; nó làm đảo lộn thậm chí những thân phận bên ngoài, đến độ ở nơi khác, thánh nhân mạnh dạn phát biểu: “Người đang làm nô lệ mà được Chúa kêu gọi, thì là người được Chúa giải phóng. Cũng vậy, người đang tự do mà được kêu gọi, thì là nô lệ của Đức Ki-tô” (1Cr 7: 22).
 
6. Mối liên hệ được tăng gấp bội:
 
Ông Phi-lê-mon được lại anh Ô-nê-xi-mô như một người anh em “cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa”, nghĩa là cả trong sự phục vụ của anh cũng như trong những mối liên hệ của anh giữa người Ki-tô hữu với người Ki-tô hữu. Chắc hẳn thánh nhân muốn nói rằng việc ông Phi-lê-mon tha thứ sẽ thiết lập nên một mối liên hệ đặc biệt giữa chủ và nô lệ.
 
Thánh Phao-lô đưa ra lời khuyên tinh tế sau cùng: “Vậy, nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi”. Ông Phi-lê-mon và thánh Phao-lô là anh em trong đức tin. Tình huynh đệ này phải trải rộng đến người nô lệ, người anh em khác này. Đó là sự “hiệp thông” của các chi thể Đức Ki-tô.  
 
TIN MỪNG (Lc 14: 25-33)
 
Các sách Tin Mừng, đặc biệt sách Tin Mừng Lu-ca, tường thuật muôn vàn những lời khuyên của Đức Giê-su về việc từ bỏ: từ bỏ chính mình, từ bỏ của cải, đoạn tuyệt với sự giàu sang phú quý, vân vân. Nhưng chưa bao giờ Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ Ngài xa đến mức phải hy sinh thậm chí ngay cả những tình cảm cao quý và chính đáng nhất.
 
Quả thật, Đức Giê-su không nghĩ phải hủy bỏ huấn lệnh yêu người mà Ngài đã công bố ngang bằng với huấn lệnh mến Chúa; nhưng Ngài ấn định theo cấp bậc hai bổn phận: “mến Chúa”“yêu người”. Lời của Ngài đã vang lên bên tai các môn đệ Ngài, những người đã bỏ hết mọi sự mà theo Ngài. Những môn đệ đầu tiên, Phê-rô và An-rê, Gia-cô-bê và Gioan, đã là mẫu gương, thậm chí Gia-cô-bê và Gioan đã để lại cha già mình là ông Dê-bê-đê mà họ có bổn phận chu toàn đạo hiếu, phụng dưỡng hằng ngày.
 
Những đòi hỏi của Đức Giê-su trong Tin Mừng hôm nay, dù cứng rắn đến mấy đi nữa, tương ứng với thực tại và vang vọng xuyên suốt lịch sử Giáo Hội. Vốn bận lòng về Giáo Hội, thánh Lu-ca nghĩ trước tiên đến Giáo Hội truyền giáo, nhưng cũng đến Giáo Hội của đời sống tu trì mà lý tưởng tu viện sẽ nối tiếp.
 
1. Mến Chúa trên hết mọi sự:
 
Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể đòi hỏi yêu mến Người đến tuyệt mức như vậy. Khi đòi hỏi phải yêu mến Ngài đến tuyệt mức tương tự, Đức Giê-su nhận về mình những đặc quyền của Thiên Chúa; Ngài ngầm khẳng định sự duy nhất của Ngài với Chúa Cha. Ngài đòi hỏi một tình yêu tuyệt đối phải vượt lên trên mọi tình yêu khác.
 
Thánh Mát-thêu cũng nêu lên tính tận căn của những đòi hỏi của Đức Giê-su: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10: 37), nhưng thánh Lu-ca đưa ra một danh sách đầy đủ hơn về những người mà tình cảm dành cho họ phải được đặt vào hàng thứ hai: cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, thậm chí cả mạng sống mình.
 
2. Để là môn đệ Ngài:
 
“Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giê-su. Ngài quay lại bảo họ”. Cử chỉ này của Đức Giê-su được thánh Lu-ca ghi nhận nhiều lần. Đức Giê-su luôn luôn dẫn đầu; Ngài là thầy, người dẫn đường; các môn đệ là những người bước theo Ngài. Khi Đức Giê-su quay lại, Ngài ngỏ lời với đám đông hiện diện, nhưng bên kia đám đông này, với đám đông môn đệ tương lai. Tuy nhiên, cử chỉ của Đức Giê-su cũng nhấn mạnh sứ điệp quan trọng mà Ngài sắp công bố qua ánh mắt nghiêm trang của Ngài.
 
“Ai đến với tôi…”. Đây là biểu thức Cựu Ước được gặp thấy ở nơi lời công bố Lề Luật. Trong Bộ Luật Giao Ước của sách Xuất Hành, biểu thức này được phát biểu: “Ngươi sẽ…” hay “Nếu ngươi…” (Xh 20: 22tt; 21: 2-17). Như vậy, đây là quy luật sống mà Đức Giê-su long trọng công bố, như xưa kia ông Mô-sê đã ngỏ lời như vậy với toàn thể dân Ít-ra-en.
 
Những yêu sách được trình bày dưới dạng phủ định: “Ai không vác thập giá mình mà theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Ở nơi khác, biểu thức này được diễn tả dưới dạng thức khẳng định: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9: 23). Các tác giả Tin Mừng đều sử dụng diễn ngữ “vác thập giá”, thậm chí trước khi Đức Giê-su nói rõ rằng Ngài sẽ bị đóng đinh vào thập giá khi Ngài loan báo lần thứ ba về cuộc Khổ Nạn của Ngài (x. Mt 20: 19). Nhưng các sách Tin Mừng được biên soạn dưới ánh sáng của các biến cố và diễn ngữ này gợi lên ở nơi các tín hữu tiên khởi còn khủng khiếp hơn. Các môn đệ phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự, chấp nhận bước đi trên con đường đau khổ, thậm chí cho đến mức phải hy sinh cả tính mạng của mình.
 
3. Phải suy nghĩ cho thật nghiêm túc:
 
Tiếp đó là hai dụ ngôn về việc xây tháp và việc một vị vua muốn xuất quân đi giao chiến, cả hai dụ ngôn này đều có chung một tư tưởng trong mối liên kết với những đòi hỏi của Đức Giê-su. Để là môn đệ Đức Giê-su, phải dấn thân trọn vẹn, phải yêu mến Ngài tuyệt mức. Như vậy, trước khi quyết định theo Ngài, trở thành môn đệ của Ngài, phải ngồi lại mà tính toán cho thật nghiêm túc, định liệu sức mình có thể theo đuổi cho đến cùng không, nếu quyết định trong giây phút bốc đồng có nguy cơ giữa đường đứt gánh.
 
Tuy nhiên, vài nhà chú giải tự hỏi phải chăng Đức Giê-su đã công bố hai dụ ngôn này ở đây chứ không vào những hoàn cảnh khác. Bởi vì, việc dấn bước theo Đức Giê-su, gắn bó với Ngài, phải phát xuất từ sự bùng phát của một con tim bốc lửa chứ không từ những tính toán đắn đo hơn thiệt của lý trí. Ấy vậy, hai dụ ngôn này hoàn toàn thiếu vắng niềm hưng phấn của tình yêu bốc lửa này. Vì thế, câu kết luận mà từ đó Đức Giê-su rút ra: “Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”, khó định vị vào cái lô-gích của hai dụ ngôn này, nhưng lại rất phù hợp với những yêu sách tuyệt mức của Ngài đối với ai muốn làm môn đệ của Ngài như được kể ra trước đó.
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

TRUYỀN THÔNG TIN VUI VÀ HY VỌNG

…Tôi muốn khuyến khích mọi người tham gia vào các loại hình truyền thông mang tính xây dựng, loại bỏ định kiến với người khác và cổ võ nền văn hóa gặp gỡ, giúp mọi người chúng ta nhìn thế giới xung quanh một cách thực tế và đầy tin tưởng.   …Tôi muốn góp phần vào việc tìm kiếm một phong cách...

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 07/2018


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/7/2018 

- Try reading the Gospel for at least five minutes every day. You will see how it changes your life.
Cố gắng đọc Tin Mừng ít nhất 5 phút mỗi ngày. Bạn sẽ thấy rằng nó thay đổi cuộc sống của bạn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/7/2018 

- Europe rediscovers hope when the human person is at the heart of its institutions. St Benedict, pray for us!
Châu Âu tìm lại được niềm hy vọng chừng nào con người được đặt vào trung tâm của các thể chế của họ. Lạy thánh Bênêđictô, xin cầu cho chúng con!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/7/2018 

- Every occasion is a good one to spread Christ’s message!
Mọi cơ hội đều là dịp tốt để rao truyền sứ điệp của Đức Kitô!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/7/2018 

- May all humanity hear the cry of the children of the Middle East. Drying their tears the world will get back it’s dignity.
Mong sao toàn nhân loại nghe thấy tiếng kêu khóc của các trẻ em vùng Trung Đông. Bằng cách lau khô những giọt lệ của chúng, nhân loại sẽ tìm lại được phẩm giá của mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/7/2018 

- The God of all consolation, who heals the broken hearts and takes care of the wounds, hear our prayer: Let there be peace in the Middle East!
Lạy Chúa là nguồn mọi an ủi, Đấng chữa lành các con tim tan vỡ, chăm sóc những vết thương, xin lắng nghe lời chúng con khẩn cầu: Xin cho Trung Đông được hòa bình!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/7/2018 

- Do we know how to silence our hearts and listen to the voice of God?
Chúng ta có biết thinh lặng trong lòng để lắng nghe tiếng Chúa không?

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/7/2018 

- We receive God’s graces to share them with others.
Chúng ta nhận được ơn Chúa để chia sẻ cho người khác.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/6/2018 

- Let us pray for the new Cardinals: may they assist me in my ministry as Bishop of Rome, for the good of all God’s people.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho các Tân Hồng Y: Ước mong các ngài giúp tôi trong nhiệm vụ Giám mục Rôma, vì lợi ích của toàn dân Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/6/2018 

- We are called to assist the elderly, the sick and the unborn: life must always be protected and loved, from conception to its natural conclusion.
Chúng ta được mời gọi giúp đỡ người già cả, bệnh tật và các thai nhi: sự sống luôn cần được bảo vệ và yêu thương, từ khi được thụ thai cho đến phút lâm chung.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/6/2018 

- Torture is a mortal sin! Christian communities must commit themselves to helping victims of torture.
Tra tấn con người là một tội trọng! Các cộng đồng Kitô hữu cần phải cam kết giúp đỡ các nạn nhân bị tra tấn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/6/2018 

- Like St John the Baptist, Christians have to humble themselves so that the Lord can grow in their hearts.
Như thánh Gioan Tẩy Giả, Kitô hữu phải hạ mình để Chúa được lớn lên trong tâm hồn mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/6/2018 

- Let us ask our Lord to help us understand that love is service, love means taking care of others.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta học biết rằng yêu thương là phục vụ, yêu thương là quan tâm đến tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/6/2018 

- Love for others needs to become the constant factor of our lives.
Yêu thương tha nhân phải trở thành yếu tố bất biến của đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/6/2018 

- A person’s dignity does not depend on them being a citizen, a migrant, or a refugee. Saving the life of someone fleeing war and poverty is an act of humanity.
Nhân phẩm của một người không hệ tại họ là công dân, là người nhập cư hay người tị nạn. Cứu giúp người thoát khỏi chiến tranh hay cảnh cùng khổ là một hành vi nhân đạo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/6/2018 

- Let us try to express the joy of God’s Kingdom in every way possible!
Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta hãy cố gắng biểu lộ niềm vui của Nước Trời!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/6/2018 

- I send my cordial greetings to all those following the World Soccer Championships that begin today in Russia. I hope this sports event may be a positive opportunity for encounter and fellowship.
Tôi gửi lời chào thân ái đến với tất cả mọi người theo dõi Giải Vô địch Bóng đá Thế giới khởi tranh hôm nay tại Nga. Tôi hy vọng sự kiện thể thao này là cơ hội tích cực để gặp gỡ và hữu nghị.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/6/2018 

- Children must be able to play, study and grow in a peaceful environment. Woe to anyone who stifles their joyful impulse to hope!
Trẻ em cần được nô đùa, học tập và phát triển trong một môi trường thanh bình. Vô phúc cho ai cản trở niềm vui mang đến hy vọng nơi chúng!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/6/2018 

- Mary is exactly what God wants His Church to be: a loving and humble Mother, poor in possessions but rich in love.
Mẹ Maria chính xác là hình mẫu mà Chúa muốn nơi Giáo Hội của Ngài: Một người Mẹ khiêm tốn và yêu thương, nghèo của cải nhưng giàu tình thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/6/2018 

- For those who are with Jesus, evil is just a provocation to love even more.
Ai ở trong Chúa Giêsu, sự dữ là động lực để yêu thương nhiều hơn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/6/2018 

- Loving Christ is not a superficial sentiment. It is an attitude of the heart that we demonstrate when we live as He wants us to.
Tình yêu đối với Đức Kitô không phải là cảm giác hời hợt. Đó là một thái độ nội tâm thể hiện qua việc chúng ta sống như Ngài muốn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/6/2018 

- Lord, reawaken in us a sense of praise and gratitude for our Earth, and for everything you have created.
Lạy Chúa, xin hãy đánh thức nơi chúng con tâm tình ngợi khen và lòng biết ơn đối với Trái đất của chúng con, và tất cả thụ tạo mà Chúa đã dựng nên.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/6/2018 

- The living presence of Christ within us is the light that guides our choices, the flame that warms our hearts as we go to meet the Lord.
Sự hiện diện sống động của Đức Kitô nơi chúng ta là ánh sáng hướng dẫn những lựa chọn của chúng ta, là ngọn lửa sưởi ấm con tim chúng ta trên con đường đến với Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/6/2018 

- On this Feast of Corpus Christi, we need to remember that Jesus, the Bread of Life, is our strength and support on life’s journey.
Khi cử hành lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta cần nhớ rằng Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống, là sức mạnh và nguồn trợ lực cho đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/6/2018 

- Seek the Lord in prayer: He is the one who has called you.
Hãy tìm kiếm Chúa trong lời cầu nguyện: Chính Ngài là Đấng đã gọi bạn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/6/2018 

- Love can recognize good things even in bad situations. Love keeps a tiny flame alight even in the darkest night.
Tình yêu cho chúng ta nhận ra điều tốt ngay cả trong những tình huống tồi tệ. Tình yêu duy trì ngọn lửa nhỏ ngay cả giữa màn đêm tăm tối.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 31/5/2018 

- The Eucharist contains all the flavour of Jesus’ words and deeds, the taste of His Death and Resurrection, the fragrance of His Spirit.
Bí tích Thánh Thể chứa đựng tất cả hương vị của lời nói và việc làm của Chúa Giêsu, mùi vị Sự Chết và Phục Sinh của Ngài, hương thơm Thánh Linh của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 30/5/2018 

- When the Holy Spirit is present, something always happens. Where blows the Spirit, things are never at a standstill.
Khi có sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, điều gì đó sẽ xảy ra. Khi Ngài thổi hơi, mọi thứ không bao giờ dậm chân tại chỗ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/5/2018 

- The Eucharist gives us the strength to produce the fruits of good works, and to live true Christian lives.
Phép Thánh Thể cho chúng ta sức mạnh để sinh hoa trái cho các việc tốt lành, và để sống đời Kitô hữu đích thực.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/5/2018 

- What lasts? What has value in life? What treasures don’t disappear? Definitely two: God and our neighbor.
Cái gì còn lại? Cái gì có giá trị trong cuộc sống? Của cải nào không mất đi? Chắc chắn đó là 2 thứ: Thiên Chúa và người bên cạnh chúng ta.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ


========================================





HIỆP THÔNG THÁNG 07/2018

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 47
  • Hôm nay: 2636
  • Tháng hiện tại: 189465
  • Tổng lượt truy cập: 23521456