Banner giua trang

Chúa nhật 23 TN C. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 30/08/2016 06:49 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Tin Mừng tường thuật cho chúng ta giáo huấn của Đức Giê-su về những yêu sách mà Ngài đòi hỏi các môn đệ Ngài: muốn theo Ngài phải dành quyền ưu tiên tuyệt đối cho Ngài, thậm chí trên mọi mối dây ràng buộc trần thế, kể cả gia đình đi nữa.
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN

 
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật này mời gọi chúng ta suy niệm về ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa làm chúng ta đôi phen hụt hẩng, làm đảo lộn mọi kỳ vọng của con người, làm thay đổi những mối quan hệ giữa người với người, tương đối hóa quan niệm của con người về thế giới.
 
Kn 9: 13-18
 
Đoạn trích sách Khôn Ngoan gợi lên những giới hạn của những hiểu biết phàm nhân. Với trí tuệ phàm nhân, con người vô phương dò thấu những ý định của Thiên Chúa, nhưng nhờ ánh sáng Mặc Khải và tác động thần khí thánh ở nơi con người mà con người mới có thể đạt được một sự hiểu biết sung mãn.
 
Plm 9b-10, 12-17
 
Trong thư gởi ông Phi-lê-mon, thánh Phao-lô đưa ra một lời khuyên thật cảm động. Thánh nhân thỉnh cầu ông hãy đón nhận người nô lệ trốn chạy khỏi nhà ông và nay đã trở thành Ki-tô hữu, như một người con ruột thịt của thánh nhân và như người anh em rất thân mến trong Đức Ki-tô. 
 
Lc 14: 25-33
 
Tin Mừng tường thuật cho chúng ta giáo huấn của Đức Giê-su về những yêu sách mà Ngài đòi hỏi các môn đệ Ngài: muốn theo Ngài phải dành quyền ưu tiên tuyệt đối cho Ngài, thậm chí trên mọi mối dây ràng buộc trần thế, kể cả gia đình đi nữa.
 
BÀI ĐỌC I (Kn 9: 13-18)
 
Chúng ta không biết tác giả sách Khôn Ngoan là ai. Tác phẩm này đã được biên soạn vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, bởi một người Do thái mộ đạo thành A-lê-xan-ri-a. Tác giả muốn cảnh giác đồng bào của mình trước những sức quyến rũ của nền văn hóa Hy-lạp. Ông đổ hết tâm trí để nhắc lại những giá trị khôn sánh của sự khôn ngoan Do-thái giáo, gia sản của cha ông họ.
 
Đoạn văn hôm nay được trích từ phần thứ hai của sách. Bằng hư cấu văn chương, tác giả để cho vua Sa-lô-mon, một vị vua nổi tiếng khôn ngoan bậc nhất, lên tiếng. Chương 9 là lời cầu nguyện dài của vua, tán rộng lời cầu nguyện mà 1V 3: 6-10 đã trích dẫn một cách ngắn gọn, theo đó, vua Sa-lô-mon chỉ cầu xin Chúa ban cho mình được ơn khôn ngoan. Lời cầu nguyện của vua làm đẹp lòng Chúa. Thiên Chúa chẳng những ban cho vua được ơn khôn ngoan mà còn được muôn vàn những ân phúc khác nữa.
 
Việc nêu lên lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon như vậy đã trở nên một đề tài kinh điển của các tác phẩm minh triết. Tác giả sách Khôn Ngoan đem lại cho lời cầu nguyện này những dấu ấn riêng nhằm đánh động những người đương thời của ông. Dưới những khía cạnh phi thời gian của sự khôn ngoan, sứ điệp trực tiếp nhắm đến một xã hội phàm trần vào thời đại của tác giả. Sứ điệp này vẫn giữ mãi giá trị trường tồn của nó.
 
1. Thành phố A-lê-xan-ri-a vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên:
 
Hơn hai thế kỷ qua, thành phố A-lê-xan-ri-a là thủ đô trí tuệ của thế giới thời xưa. Vị vua đầu tiên của triều đại nhà Tô-lê-mê (323-285 trước Công Nguyên) đã cho xây cất một Bảo Tàng Viện danh tiếng, tại đó quy tụ các nhà thông thái và những nhà nghiên cứu các môn học thời danh; họ có sẵn một thư viện bao la cũng như phòng thí nghiệm. Những tiến bộ đáng chú ý trong mọi lãnh vực: toán học, thiên văn học, y học, nhất là giải phẩu học, vật lý, địa lý. Về triết học, thành A-lê-xan-ri-a tiếp nối sự nghiệp của thành A-thê-na. Những hệ thống triết học đặt cạnh nhau và giải thích cho nhau. Về tôn giáo, những khuynh hướng tôn giáo hỗn hợp khẳng định cho nhau. Tóm lại, một thời kỳ huy hoàng nhất đối với trí tuệ con người, con người có thể tự hào về những chinh phục của mình.
 
2. Sự mỏng dòn của lý trí phàm nhân:
 
Tác giả sách Khôn Ngoan phản ứng lại do quan điểm tôn giáo của ông về thế giới. Những hiểu biết phàm nhân, dù đáng chú ý đến mấy đi nữa, chẳng bao giờ hiểu được những ý định của Thiên Chúa: “Lạy Chúa, nào ai biết được ý định của Thiên Chúa? Nào có ai hiểu được Đức Chúa muốn điều chi?”.
 
Câu hỏi này Kinh Thánh thường đặt ra để nhắc nhớ sự siêu việt của Thiên Chúa, như Gióp: “Có phải anh đã hiện diện trong triều thần Thiên Chúa, và đã chiếm đoạt được khôn ngoan?” (G 15: 8) hay Giê-rê-mi-a: “Nhưng ai đã được họp bàn với Đức Chúa, để chứng kiến và nghe lời Người?” (Gr 23: 18) hoặc I-sai-a: “Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người?” (Is 40: 13). Tác giả sách Khôn Ngoan hỗ trợ đề tài này bằng một tư tưởng không kém phần chứng thực: “Chúng con vốn là loài phải chết, tư tưởng không sâu, lý luận không vững”.

Tiếp đó, một câu nhuốm màu sắc nhị nguyên của Platon: “Quả vậy, thân xác dể hư nát này khiến linh hồn ra nặng”, nhưng ngay tức khắc lại gắn bó với đề tài Kinh Thánh về con người: “cái vỏ bằng đất này làm tinh thần trĩu xuống vì lo nghĩ trăm bề”.
 
Những suy tư tiếp theo sau có thể mang tính bút chiến; chúng xem ra làm giảm thiểu những nổ lực của các bậc thông thái trong việc giải thích những thực tại trần thế. Thêm nữa, những nổ lực này không thể nào dò thấu những thực tại thiên giới: “Những gì thuộc hạ giới, chúng con đã khó mà hình dung nổi, những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được, thì những gì thuộc thượng giới, có ai dò thấu nổi hay chăng?”.
 
3. Lý trí phàm nhân được sự khôn ngoan Thiên Chúa soi sáng:
 
Những hiểu biết phàm nhân chỉ được sung mãn nhờ Mặc Khải và tác động thần khí thánh ở nơi con người: “Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Người chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gởi thần khí thánh?”. Vì là một tín đồ Do thái giáo, trung thành với độc thần giáo tuyệt đối khó mà gợi lên trong tâm trí của tác giả một sự biệt phân giữa Đức Chúa và thần khí thánh của Người; nhưng đúng hơn, tác giả đồng hóa Đức Khôn Ngoan của Đức Chúa với thần trí của Người. Tuy nhiên, thật chính đáng để đọc thấy ở đây một sự linh cảm nào đó về sự khác nhau về Đức Chúa và thần khí thánh của Người ở lòng cuộc sống của Thiên Chúa.
 
Cuối cùng, tác giả ám chỉ đến Lề Luật, được xem như cách diễn tả sự khôn ngoan của Thiên Chúa, kim chỉ nam cho những đức hạnh phàm nhân, con đường cứu độ: “Chính vì thế mà đường lối người phàm được sửa lại cho thẳng, cũng vì thế mà con người được dạy cho biết những điều đẹp lòng Ngài, và nhờ Đức Khôn Ngoan mà được cứu độ”.
 
Đoạn trích hôm nay vừa kết thúc lời cầu nguyện của vua Sa-lô-mon và cũng là để chuyển sang phần thứ ba của sách: suy tư về sự khôn ngoan của Thiên Chúa đang hoạt động trong Lịch Sử.
 
BÀI ĐỌC II (Plm 9b-10, 12-17)
 
Thư gởi ông Phi-lê-mon, tuy ngắn nhất trong các thư của thánh Phao-lô, nhưng rất độc đáo vì những tâm tình tinh tế được diễn tả ở đây và những tấm lòng được biến đổi dưới ảnh hưởng của Ki-tô giáo thật là cảm động mà bức thư này làm chứng.
 
1. Lý do thánh nhân viết bức thư này:
 
Vào lúc đó, thánh Phao-lô đang bị giam cầm ở Rô-ma, chắc hẳn vào những năm 62-63. Thánh nhân đang đối mặt với một vấn đề không đơn giản một chút nào. Ông Phi-lê-mon là một Ki-tô hữu Cô-lô-xê; chắc chắn là một nhân vật khá giả, vì cộng đồng Ki-tô hữu tụ họp ở tại nhà ông. Ông có một người nô lệ tên là “Ô-nê-xi-mô”. Người nô lệ này đã trốn chạy khỏi nhà ông và lấy trộm của chủ một số đồ đạc, như thánh nhân đã viết trong thư: “Nếu anh ấy đã làm thiệt hại anh hay mắc nợ anh điều gì thì xin để tôi nhận cả”. Để tránh khỏi những cuộc truy tìm và những hình phạt mà anh có thể phải chịu, anh Ô-nê-xi-mô đã chạy đến Rô-ma, vì anh hy vọng mình có thể dễ dàng lẫn trốn vào đám đông trong các đường phố tại thành phố rộng lớn này.
 
Người nô lệ này biết rất rõ những người Ki-tô hữu vì đã thấy họ thường xuyên tụ họp tại nhà của chủ mình. Phải chăng đó là lý do thúc đẩy anh chạy đến Rô-ma để gặp thánh Phao-lô? Bức thư không nói cho chúng ta biết lý do. Dù sao thánh Phao-lô đã rửa tội cho anh và quý mến anh. Trong thời gian ở với thánh Phao-lô, anh Ô-nê-xi-mô đã trở nên một người hữu ích đến nỗi thánh nhân muốn giữ anh lại bên cạnh mình. Tuy nhiên, thánh nhân không thể, vì sợ vi phạm quyền lợi của ông Phi-lê-mon, chủ của anh. Vì thế, thánh nhân quyết định gởi anh Ô-nê-xi-mô trở về chủ của anh, ông Phi-lê-mon, kèm theo bức thư do tự tay thánh nhân viết. Không ai biết rõ hơn thánh nhân rằng người nô lệ đào thoát này trở về nhà chủ có thể gặp phải những nguy hiểm như thế nào. Như chúng ta biết thân phận của người nô lệ vào thời đó, người nô lệ không được đối xử như một con người nhưng như một dụng cụ sống trong bàn tay của chủ, tùy ý chủ sử dụng. Trong trường hợp một nô lệ trốn chủ, anh sẽ bị đóng dấu bằng thỏi sắt nung đỏ mang hình chữ viết tắt Đào Tẩu và chịu hình phạt tùy theo ý chủ.
 
Với sự tế nhị, thánh nhân thỉnh cầu ông Phi-lê-mon hai cử chỉ khác thường: khoan hồng cho phạm nhân và nhận lại người này không phải trong tư thế của người nô lệ nhưng như người con ruột thịt của thánh nhân và như một người anh em thân mến trong Đức Ki-tô.
 
Một sự gợi ý thật tinh tế, một lời mời gọi thật kín đáo, một lời thỉnh cầu mà không đòi buộc. Đoạn trích này thuộc phần trung tâm của bức thư.
 
2. “Tôi, một người đã già và đang bị tù vì Đức Ki-tô”:
 
Thánh Phao-lô thử đặt tất cả danh dự của con người ngài vào lời thỉnh cầu của mình cho người nô lệ này: thánh nhân nhắc lại rằng ngài đã già (vào thời đó, 50-55 tuổi được xem là già) và đang bị cầm tù, và chính trong cảnh giam cầm này mà thánh nhân rửa tội cho anh: “Tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích”.
 
3. “Tôi xin gởi nó về cho anh”:
 
Thánh Phao-lô muốn mọi việc đều rõ ràng. Anh Ô-nê-xi-mô thuộc quyền sở hữu của ông Phi-lê-mon. Thật ra thánh nhân biết rằng nếu ngài ngỏ lời với ông Phi-lê-mon, chắc chắn bạn của mình sẵn lòng để anh Ô-nê-xi-mô ở lại với thánh nhân để phục vụ thánh nhân trong cảnh xiềng xích. Như vậy, khi gởi anh Ô-ne-xi-mô trở về chủ của mình, thánh nhân xem trọng tính cách nhưng không của tình bạn.
 
4. Như một người con ruột thịt của thánh nhân:
 
Nhưng thánh nhân nhấn mạnh tình phụ tử tinh thần của ngài; vì đã có một thay đổi sâu xa: anh Ô-nê-xi-mô đã trở thành Ki-tô hữu. Thánh nhân thương mến anh như đứa con ruột thịt mà thánh nhân đã mang nặng đẻ đau trong cảnh xiềng xích. Phải chăng thánh nhân muốn ông Phi-lê-mon cũng sẽ chia sẻ với thánh nhân những tâm tình như thế?
 
Thánh nhân khuyên ông Phi-lê-mon nên tha thứ cho anh Ô-nê-xi-mô, dù không nói trắng ra nhưng chỉ gợi ý: “Tôi chẳng muốn làm gì mà không có sự chấp thuận của anh, kẻo việc nghĩa anh làm có vẻ miễn cưỡng, chứ không tự nguyện”.
 
5. Như một người anh em rất thân mến:
 
Thánh nhân nhắc cho ông Phi-lê-mon biết rằng việc anh Ô-nê-xi-mô trốn chủ phải được xem như một thiên ân: vì ông Phi-lê-mon “không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ, thì được một người anh em rất thân mến”. Với chỉ vài lời này thôi cũng đủ để diễn tả cuộc cách mạng mà Ki-tô giáo đem đến cho những mối quan hệ giữa người với người.
 
Quả thật, sau này thánh nhân đã viết: “Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, , nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3: 28; Cl 3: 14). Biểu thức này không muốn nói rằng từ nay không còn phân biệt chủng tộc, phái tính, chủ tớ, nhưng những phân biệt này chẳng còn có ý nghĩa gì trước mặt Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lòng dạ con người. Từ nay, sự biến đổi nội tâm mới là đáng kể; nó làm đảo lộn thậm chí những thân phận bên ngoài, đến độ ở nơi khác, thánh nhân mạnh dạn phát biểu: “Người đang làm nô lệ mà được Chúa kêu gọi, thì là người được Chúa giải phóng. Cũng vậy, người đang tự do mà được kêu gọi, thì là nô lệ của Đức Ki-tô” (1Cr 7: 22).
 
6. Mối liên hệ được tăng gấp bội:
 
Ông Phi-lê-mon được lại anh Ô-nê-xi-mô như một người anh em “cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa”, nghĩa là cả trong sự phục vụ của anh cũng như trong những mối liên hệ của anh giữa người Ki-tô hữu với người Ki-tô hữu. Chắc hẳn thánh nhân muốn nói rằng việc ông Phi-lê-mon tha thứ sẽ thiết lập nên một mối liên hệ đặc biệt giữa chủ và nô lệ.
 
Thánh Phao-lô đưa ra lời khuyên tinh tế sau cùng: “Vậy, nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi”. Ông Phi-lê-mon và thánh Phao-lô là anh em trong đức tin. Tình huynh đệ này phải trải rộng đến người nô lệ, người anh em khác này. Đó là sự “hiệp thông” của các chi thể Đức Ki-tô.  
 
TIN MỪNG (Lc 14: 25-33)
 
Các sách Tin Mừng, đặc biệt sách Tin Mừng Lu-ca, tường thuật muôn vàn những lời khuyên của Đức Giê-su về việc từ bỏ: từ bỏ chính mình, từ bỏ của cải, đoạn tuyệt với sự giàu sang phú quý, vân vân. Nhưng chưa bao giờ Chúa Giê-su đòi hỏi các môn đệ Ngài xa đến mức phải hy sinh thậm chí ngay cả những tình cảm cao quý và chính đáng nhất.
 
Quả thật, Đức Giê-su không nghĩ phải hủy bỏ huấn lệnh yêu người mà Ngài đã công bố ngang bằng với huấn lệnh mến Chúa; nhưng Ngài ấn định theo cấp bậc hai bổn phận: “mến Chúa”“yêu người”. Lời của Ngài đã vang lên bên tai các môn đệ Ngài, những người đã bỏ hết mọi sự mà theo Ngài. Những môn đệ đầu tiên, Phê-rô và An-rê, Gia-cô-bê và Gioan, đã là mẫu gương, thậm chí Gia-cô-bê và Gioan đã để lại cha già mình là ông Dê-bê-đê mà họ có bổn phận chu toàn đạo hiếu, phụng dưỡng hằng ngày.
 
Những đòi hỏi của Đức Giê-su trong Tin Mừng hôm nay, dù cứng rắn đến mấy đi nữa, tương ứng với thực tại và vang vọng xuyên suốt lịch sử Giáo Hội. Vốn bận lòng về Giáo Hội, thánh Lu-ca nghĩ trước tiên đến Giáo Hội truyền giáo, nhưng cũng đến Giáo Hội của đời sống tu trì mà lý tưởng tu viện sẽ nối tiếp.
 
1. Mến Chúa trên hết mọi sự:
 
Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể đòi hỏi yêu mến Người đến tuyệt mức như vậy. Khi đòi hỏi phải yêu mến Ngài đến tuyệt mức tương tự, Đức Giê-su nhận về mình những đặc quyền của Thiên Chúa; Ngài ngầm khẳng định sự duy nhất của Ngài với Chúa Cha. Ngài đòi hỏi một tình yêu tuyệt đối phải vượt lên trên mọi tình yêu khác.
 
Thánh Mát-thêu cũng nêu lên tính tận căn của những đòi hỏi của Đức Giê-su: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy” (Mt 10: 37), nhưng thánh Lu-ca đưa ra một danh sách đầy đủ hơn về những người mà tình cảm dành cho họ phải được đặt vào hàng thứ hai: cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, thậm chí cả mạng sống mình.
 
2. Để là môn đệ Ngài:
 
“Có rất đông người cùng đi đường với Đức Giê-su. Ngài quay lại bảo họ”. Cử chỉ này của Đức Giê-su được thánh Lu-ca ghi nhận nhiều lần. Đức Giê-su luôn luôn dẫn đầu; Ngài là thầy, người dẫn đường; các môn đệ là những người bước theo Ngài. Khi Đức Giê-su quay lại, Ngài ngỏ lời với đám đông hiện diện, nhưng bên kia đám đông này, với đám đông môn đệ tương lai. Tuy nhiên, cử chỉ của Đức Giê-su cũng nhấn mạnh sứ điệp quan trọng mà Ngài sắp công bố qua ánh mắt nghiêm trang của Ngài.
 
“Ai đến với tôi…”. Đây là biểu thức Cựu Ước được gặp thấy ở nơi lời công bố Lề Luật. Trong Bộ Luật Giao Ước của sách Xuất Hành, biểu thức này được phát biểu: “Ngươi sẽ…” hay “Nếu ngươi…” (Xh 20: 22tt; 21: 2-17). Như vậy, đây là quy luật sống mà Đức Giê-su long trọng công bố, như xưa kia ông Mô-sê đã ngỏ lời như vậy với toàn thể dân Ít-ra-en.
 
Những yêu sách được trình bày dưới dạng phủ định: “Ai không vác thập giá mình mà theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Ở nơi khác, biểu thức này được diễn tả dưới dạng thức khẳng định: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9: 23). Các tác giả Tin Mừng đều sử dụng diễn ngữ “vác thập giá”, thậm chí trước khi Đức Giê-su nói rõ rằng Ngài sẽ bị đóng đinh vào thập giá khi Ngài loan báo lần thứ ba về cuộc Khổ Nạn của Ngài (x. Mt 20: 19). Nhưng các sách Tin Mừng được biên soạn dưới ánh sáng của các biến cố và diễn ngữ này gợi lên ở nơi các tín hữu tiên khởi còn khủng khiếp hơn. Các môn đệ phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự, chấp nhận bước đi trên con đường đau khổ, thậm chí cho đến mức phải hy sinh cả tính mạng của mình.
 
3. Phải suy nghĩ cho thật nghiêm túc:
 
Tiếp đó là hai dụ ngôn về việc xây tháp và việc một vị vua muốn xuất quân đi giao chiến, cả hai dụ ngôn này đều có chung một tư tưởng trong mối liên kết với những đòi hỏi của Đức Giê-su. Để là môn đệ Đức Giê-su, phải dấn thân trọn vẹn, phải yêu mến Ngài tuyệt mức. Như vậy, trước khi quyết định theo Ngài, trở thành môn đệ của Ngài, phải ngồi lại mà tính toán cho thật nghiêm túc, định liệu sức mình có thể theo đuổi cho đến cùng không, nếu quyết định trong giây phút bốc đồng có nguy cơ giữa đường đứt gánh.
 
Tuy nhiên, vài nhà chú giải tự hỏi phải chăng Đức Giê-su đã công bố hai dụ ngôn này ở đây chứ không vào những hoàn cảnh khác. Bởi vì, việc dấn bước theo Đức Giê-su, gắn bó với Ngài, phải phát xuất từ sự bùng phát của một con tim bốc lửa chứ không từ những tính toán đắn đo hơn thiệt của lý trí. Ấy vậy, hai dụ ngôn này hoàn toàn thiếu vắng niềm hưng phấn của tình yêu bốc lửa này. Vì thế, câu kết luận mà từ đó Đức Giê-su rút ra: “Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”, khó định vị vào cái lô-gích của hai dụ ngôn này, nhưng lại rất phù hợp với những yêu sách tuyệt mức của Ngài đối với ai muốn làm môn đệ của Ngài như được kể ra trước đó.
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 05/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/05/2017 

- I encourage everyone to engage in constructive forms of communication that reject prejudice towards others and foster hope and trust today.
Tôi kêu gọi mọi người tham gia vào thứ truyền thông mang tính xây dựng, vứt bỏ định kiến đối với người khác, thúc đẩy niềm hy vọng và tin tưởng trong thời đại chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/05/2017 

- Let us pray for our Coptic brethren in Egypt who were killed because they did not want to renounce the faith.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho những anh chị em Coptic Ai Cập đã bị giết vì không muốn chối bỏ đức tin.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/05/2017 

- The future of our societies requires concrete action in favor of life on the part of everyone and especially institutions.
Tương lai xã hội chúng ta đòi hỏi từ mỗi người, đặc biệt là các thể chế, có hành động cụ thể vì sự sống.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/05/2017 

- With the Ascension of Jesus, we participate in the fullness of life with God. Let us carry this in our hearts in our daily lives.
Với biến cố Thăng Thiên của Đức Giêsu, chúng ta tham dự vào sự viên mãn của đời sống nơi Thiên Chúa. Chúng ta hãy mang nó trong tim trong cuộc sống hàng ngày.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/05/2017 

- Let us pray with Catholics in China, entrusting ourselves to Mary, for the grace to endure patiently and overcome challenges with love.
Cùng với các tín hữu công giáo tại Trung Hoa, trong niềm phó thác vào Mẹ Maria, chúng ta hãy cầu xin ơn kiên trì chịu đựng và vượt thắng những thử thách với tình yêu thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/05/2017 

- Dialogue allows us to plan for a future in common. Through dialogue we build peace, taking care of everyone.
Đối thoại cho chúng ta lên kế hoạch cho một tương lai chung. Thông qua đối thoại chúng ta xây dựng hòa bình, chăm sóc mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/05/2017 

- We are called to live not as one without others, above or against others, but with and for others.
Chúng ta được mời gọi để sống không phải bất cần tha nhân, đứng trên hay đối nghịch tha nhân, mà là sống với và sống cho tha nhân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/05/2017 

- Mary teaches us to place our hope in God even when all seems without meaning, even when He seems hidden.
Mẹ Maria dạy chúng ta đặt hy vọng vào Thiên Chúa kể cả khi mọi thứ dường như vô nghĩa, kể cả khi Thiên Chúa dường như ẩn mặt.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/05/2017 

- Peace must be built on justice, on integral human development, on respect for human rights, on the protection of creation.
Hòa bình phải được xây dựng dựa trên công lý, phát triển con người toàn diện, tôn trọng các quyền con người, bảo vệ tạo vật.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/05/2017 

- Let us seek to always hold high the “tone” of our life, remembering the goal and glory for which we exist, work, struggle and suffer.
Chúng ta hãy tìm cách nâng cao “tầm mức” của đời sống chúng ta, bằng cách ghi nhớ mục tiêu và vinh quang của lý do chúng ta hiện hữu, làm việc, đấu tranh và chịu đựng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/05/2017 

- God makes His most beautiful flowers grow among the driest stones.
Thiên Chúa tạo nên những bông hoa đẹp nhất của Ngài trên vùng đá sỏi khô cằn nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/05/2017 

- Our hope is the Lord Jesus whom we recognize as living and present in us and in our brothers and sisters.
Niềm hy vọng của chúng ta là Đức Giêsu mà chúng ta biết rằng đang sống, đang hiện diện nơi chúng ta và nơi anh chị em chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/05/2017 

- Jesus asks to be looked in the eye, to be acknowledged, to be loved.
Chúa Giêsu muốn ta nhìn Ngài, thừa nhận Ngài, yêu Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/05/2017 

- Let us ask for the grace to follow Jesus faithfully, not in words but in deeds, and to have the patience to carry our own cross.
Chúng ta hãy cầu xin ơn trung thành bước theo Chúa Giêsu, không phải bằng lời nói mà bằng việc làm, và ơn kiên trì vác lấy thập giá riêng của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/05/2017 

- Let us all ask for the gift to understand God’s word.
Chúng ta hãy cùng cầu nguyện, xin ơn giúp chúng ta hiểu được Lời Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/05/2017 

- Fatima is more than anything this mantle of Light where we take refuge when we ask the Virgin Mary: “show unto us Jesus”.
Hơn cả mọi thứ, Fatima là tấm áo choàng chói sáng che chở chúng ta khi chúng ta kêu cầu Đức Trinh Nữ Maria: “Xin hãy chỉ Chúa Giêsu cho chúng con”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/05/2017 

- Whenever we look to Mary, we come to believe once again in the revolutionary nature of love and tenderness.
Mỗi khi nhìn lên Mẹ Maria, chúng ta lại tin tưởng vào bản chất cách mạng của tình yêu và sự dịu dàng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/05/2017 

- Here in Fatima, I give praise to Christ, our peace, and I implore for the world concord among all peoples.
Nơi đây, Fatima, tôi dâng lời ngợi khen Đức Kitô, là nền hòa bình của chúng ta, và tôi khấng xin cho một thế giới hòa đồng giữa tất cả các dân tộc.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/05/2017 

- I ask everyone to join me as pilgrims of hope and peace: may your hands in prayer continue to support mine.
Xin tất cả các bạn nối vòng tay với tôi như những người hành hương của hy vọng và hòa bình: ước gì những bàn tay cầu nguyện của các bạn tiếp tục nâng đỡ bàn tay của tôi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/05/2017 

- With Mary, as a pilgrim of hope and peace I travel to Fatima tomorrow.Let us see in her that everything is God’s gift and He is our strength.
Với Mẹ Maria, ngày mai tôi đến Fatima như một người hành hương của hy vọng và hòa bình. Chúng ta hãy hướng về Mẹ để thấy mọi thứ là quà tặng của Thiên Chúa và Ngài là sức mạnh của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/05/2017 

- God is greater than nothingness, and a lit candle is enough to overcome the darkest of nights.
Thiên Chúa lớn hơn hư vô, và chỉ một ngọn nến sáng đủ xóa tan màn đêm tăm tối nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/05/2017 

- Everyone has something to give to society; no one is excluded from contributing to the good of all.
Mỗi người đều có một thứ gì đó để trao cho xã hội; không ai bị loại khỏi cơ hội đóng góp vào lợi ích của mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/05/2017 

- May Jesus, who vanquished the darkness of sin and death, grant peace to our days.
Nguyện xin Đức Giêsu, Đấng đã đánh bại bóng tối của tội lỗi và sự chết, ban hòa bình cho thời đại chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/05/2017 

- Let us be challenged by the words and actions of Jesus, and welcome his call to a life that is fully human, happy to spend itself in love.
Chúng ta hãy để mình bị thúc đẩy bởi những lời nói và hành động của Chúa Giêsu, đón nhận lời mời gọi của Ngài hướng đến đời sống nhân bản toàn vẹn, hạnh phúc hiến mình vì tình yêu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/05/2017 

- Rejoice! Hidden within your life is a seed of resurrection, an offer of life ready to be awakened!
Hãy vui lên! Ẩn dấu trong cuộc sống của bạn là một hạt giống của phục sinh, một quà tặng cho đời bạn đang đợi nẩy mầm!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/05/2017 

- In every age, the Risen Christ tirelessly seeks us, his brothers and sisters, wandering in the deserts of this world.
Qua bao năm tháng, Đức Kitô Phục sinh luôn miệt mài tìm kiếm chúng ta, là những anh chị em của Ngài đang lạc lối giữa sa mạc thế gian.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/05/2017 

- Let us allow ourselves to be surprised by the newness that Christ alone can give. May his tenderness and love guide our steps.
Chúng ta hãy để mình ngạc nhiên trước sự mới lạ mà chỉ Đức Kitô mới có thể ban cho. Nguyện xin sự dịu dàng và tình yêu của Ngài dẫn bước chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/05/2017 

- May our attitude be gentle and humble, attentive to caring for the poor.
Thái độ ứng xử của chúng ta phải nhẹ nhàng và khiêm tốn, sẳn sàng chăm sóc cho người nghèo khổ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/05/2017 

- Let’s work together to increase solidarity and sharing. Cooperation helps to build better and more peaceful societies.
Chúng ta hãy cùng nhau hoạt động để gia tăng tình đoàn kết và sự chia sẻ. Sự hợp tác giúp xây dựng một xã hội hòa bình và tốt đẹp hơn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/05/2017 

- May Saint Joseph give young people the ability to dream, to take risks for big tasks, the things that God dreams for us.
Nguyện xin Thánh Giuse giúp giới trẻ biết ước mơ, chấp nhận mạo hiễm vì những nhiệm vụ cao cả, đó là những điều mà Chúa mong ước nơi chúng ta.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 05/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 89
  • Khách viếng thăm: 88
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 11084
  • Tháng hiện tại: 483122
  • Tổng lượt truy cập: 17440878