Banner giua trang

Chúa nhật 2 TN A. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 10/01/2017 22:29 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay đều xoay quanh một chủ đề: ơn gọi Người Tôi Trung của Thiên Chúa vì cứu độ cho muôn người.
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN

 
Phụng vụ Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay đều xoay quanh một chủ đề: ơn gọi Người Tôi Trung của Thiên Chúa vì cứu độ cho muôn người.
 
Is 49: 3, 5-6
 
Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị loan báo rằng Người Tôi Trung mà Thiên Chúa ủy thác sứ mạng không chỉ dẫn đưa dân Ngài trở về với Ngài, nhưng còn là ánh sáng cho muôn dân.
 
1Cr 1: 1-3
 
Thánh Phao-lô tự giới thiệu mình với các tín hữu Cô-rin-tô rằng Thiên Chúa đã gọi thánh nhân làm Tông Đồ của Đức Giê-su Ki-tô.
 
Ga 1: 29-34
 
Sau cùng, Gioan Tẩy Giả là người tôi tớ tự xóa mình đi trước Đấng mà ông có sứ mạng chuẩn bị và làm chứng cho Ngài.
 
BÀI ĐỌC I (Is 49: 3, 5-6)
 
Trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (Is 40-55), có bốn bài thơ về “Người Tôi Trung”. Chân dung “Người Tôi Trung” được phác họa trong bốn bài thơ xem ra liên quan đến lúc thì toàn thể dân Ít-ra-en, lúc thì một nhân vật biệt phân lãnh nhận một sứ mạng đặc thù. Vào Chúa Nhật II Thường Niên này, chúng ta sẽ đọc bài thơ thứ hai trong bốn bài thơ này. Khía cạnh tập thể và khía cạnh cá nhân đan quyện vào nhau rất rõ nét ở nơi bài thơ thứ hai này.
 
Trước hết, điểm nhấn được đặt trên khía cạnh tập thể, vì trong bài thơ này cốt là ơn gọi của dân Ít-ra-en: là vinh quang của Đức Chúa, quy tụ cho Thiên Chúa một dân tín trung, và là ánh sáng muôn dân.
 
1. Vinh quang của Đức Chúa:
 
Như ở bài ca thứ nhất, hoàn cảnh lịch sử của bài thơ thứ hai là cảnh giam cầm ở Ba-by-lon. Dân Ít-ra-en mà vị ngôn sứ ngỏ lời, qua giọng nói của Người Tôi Trung mầu nhiệm, là cộng đoàn của những người lưu đày, cộng đoàn trong cơn thử thách, bị thương tổn và ê chề nhục nhã. Nhưng Thiên Chúa sẽ can thiệp (tất cả mạch văn của chương này đều theo chiều hướng này); Ngài sẽ giải thoát dân Ngài. Các quốc gia ngoại giáo nghĩ rằng Thiên Chúa của dân Ít-ra-en không còn nhớ đến dân Ngài, nhưng rồi họ sẽ thấy rằng bằng quyền năng, Thiên Chúa này sẽ tiêu diệt những kẻ áp bức. Dân Ít-ra-en sẽ là vinh quang của Ngài.
 
2. “Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng”:
 
Sau một thời gian dài Thiên Chúa thinh lặng, nay Thiên Chúa lại lên tiếng; Thiên Chúa quan tâm đến dân Ngài, dân mà Ngài để ý đến ngay từ khi còn trong trứng nước: “Người đã nhào nắn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung”.
 
Diễn ngữ “từ khi tôi còn trong lòng mẹ” trở thành kinh điển để nhấn mạnh tính cách tiền định của ơn gọi. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a là vị ngôn sứ đầu tiên đã sử dụng diễn ngữ này (Gr 1: 5) và thánh Phao-lô lấy lại diễn ngữ này mà áp dụng vào ơn gọi của mình: “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. Người đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại” (Gl 1: 15-16). Chính ở đây vấn đề được đặt ra: phải chăng Người Tôi Trung biểu thị cộng đoàn của những người lưu đày hay một nhân vật được tác riêng ra để trở thành vị lãnh đạo hay người hướng dẫn của dân?.
 
3. Sứ mạng kép của Người Tôi Trung:
 
Dù Người Tôi Trung này là cộng đoàn của những người lưu đày – quả thật, trong lịch sử cứu độ, cộng đoàn này đóng vai trò của “một nhóm nhỏ còn sót lại” – hay đây là một nhân vật biệt phân đi nữa, thì sứ mạng hàng đầu của Người Tôi Trung này là “đem nhà Gia-cóp về cho Người và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người”. 
 
Chắc chắn phải hiểu “đem về” theo nghĩa kép, vừa địa lý vừa luân lý: đem những người lưu đày về quê cha đất tổ của họ và đem một dân bất trung và bị trừng phạt về với Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn làm cho dân này thành hạt nhân vững chắc, qua đó Ngài sẽ tái lập dân tộc thánh.
 
4. “Quy tụ dân Ít-ra-en”:
 
Một trong những bận lòng lớn lao của những người lưu đày, đó là quy tụ tất cả các chi tộc bị tản mắc khắp nơi. Vai trò của Người Tôi Trung sẽ là tái lập sự hiệp nhất.
 
Đây là sứ mạng tràn đầy niềm tin tưởng, công việc đầy phấn khởi. Người Tôi Trung thẩm định vinh dự được dành cho mình: “Thế nên tôi được Thiên Chúa trân trọng”. Nhưng công việc này thật khó khăn, phải nương tựa vào ơn trên: “Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi”.
 
5. Ánh sáng muôn dân:
 
Đức Chúa cho rằng công việc tái lập dân Ngài này là chưa đủ: “Nếu ngươi chỉ… để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất”. Bài thơ này nối kết và làm sáng tỏ bài thơ thứ nhất qua diễn ngữ: “ánh sáng muôn dân”. Rõ ràng sứ mạng của dân Ít-ra-en – hay ở đây có thể sứ mạng của “nhóm nhỏ còn sót lại”, tức là những người lưu đày được cứu thoát – chính là làm cho ánh sáng cứu độ được bừng sáng, đó không gì khác hơn chính công việc của Đức Chúa. 
 
Thánh Phao-lô đã cảm thấy một cách sống động những điểm tương đồng của ơn gọi Người Tôi Trung, được tuyển chọn cách đặc biệt để là “ánh sáng muôn dân”, với ơn gọi của chính mình. Thánh nhân áp dụng vào chính mình những lời của vị ngôn sứ, với cung giọng thống thiết, trong hội đường An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a khi mạnh dạn nói với những người Do thái cứng lòng tin rằng, từ nay, thánh nhân quay về phía dân ngoại, vì họ mở rộng lòng mình đón tiếp lời Chúa hơn (Cv 13: 46-47).
 
6. Khía cạnh Mê-si-a:
 
Trong viễn cảnh xa, ẩn hiện dung mạo Người Tôi Trung thập toàn, tức Chúa Ki-tô, ở nơi Ngài Chúa Cha sẽ được tôn vinh; Ngài sẽ quy tụ dân Do thái và lương dân thành một dân duy nhất, Ngài sẽ là “ánh sáng thế gian” và nguồn ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Đó cũng là những ngôn từ của bài ca “An Bình Ra Đi” của cụ già Si-mê-on: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẳn cho muôn dân: Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, và vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài” (Lc 2: 29-32).
 
BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 1-3)
 
Thánh Phao-lô đã thiết lập Giáo Đoàn Cô-rin-tô vào những năm 50-52. Đây là thành phố thương mại, có một vị thế địa lý đặc biệt với hai hải cảng. Thành phố này đang trên đà phát triển, với những tương phản xã hội: những nhà tài chính và thương mại giàu có bên cạnh những phu khuân vác và nô lệ. Thủ phủ xa hoa tráng lệ với đền thờ tôn kính nữ thần Aphrodite được hàng ngàn nữ tư tế phụng thờ, tức là những cô điếm thánh. Sau cùng, với tư cách là cái nôi văn hóa, thành phố Cô-rin-tô được mệnh danh là nơi có nhiều trường phái triết học trăm hoa đua nở.
 
1. Một cộng đoàn Ki tô hữu tiên khởi:
 
Thánh Phao-lô đã trải qua mười tám tháng ở Cô-rin-tô và đã để lại ờ đây một Giáo Đoàn sống động. Nhưng ngay sau khi thánh nhân ra đi, Giáo Đoàn đã gặp phải biết bao những khó khăn nghiêm trọng khiến thánh nhân phải bận lòng: buông thả luân lý, bất đồng nội bộ, ngờ vực đạo lý, lạm dụng phụng vụ. Thánh nhân viết thư thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô để can thiệp, nhưng thư này bị thất lạc không đến được chúng ta. Cuộc khủng hoảng càng trở nên trầm trọng, thánh nhân sai cộng tác viên của mình viếng thăm cộng đoàn này. Khi trở về, ông Ti-mô-thê đem theo một loạt câu hỏi mà thánh Phao-lô trả lời trong thư được gọi là “thứ nhất gởi tín hữu Cô-rin-tô” này, nhưng thực ra đây là thư thứ hai. Quả thật, thánh Phao-lô đã viết bốn bức thư gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, trong số đó, bức thư thứ nhất và bức thư thứ ba bị thất lạc. Bức thư mà chúng ta gọi thư thứ nhất, thực ra là thư thứ hai; và bức thư mà chúng ta gọi thư thứ hai, thực ra là thư thứ tư. 
 
Thánh nhân viết thư thứ nhất này từ Ê-phê-sô vào mùa xuân năm 55.Những chia rẻ xé nát cộng đoàn non trẻ này và sẽ là đối tượng phần thứ nhất của bức thư này. Đây là những lời khuyên bảo phải nên “một lòng một ý” với nhau mà chúng ta khởi sự đọc vào Chúa Nhật hôm nay và tiếp tục đọc vào những Chúa Nhật kế tiếp. 
 
2. Khủng hoảng nghiêm trọng:
 
Chúng ta không thể đọc thư này mà không xúc động, và đồng thời thán phục những lập luận thần học của thánh Phao-lô hay phương pháp huấn giáo của thánh nhân. Đối với thánh nhân, cuộc khủng hoảng xảy ra ở Giáo Đoàn Cô-rin-tô là một sự thử thách nghiêm trọng, vì thánh nhân không chỉ thấy công trình của mình bị đe dọa, nhưng ngài còn phải chịu những lời lăng mạ liên quan đến cá nhân mình. Thánh nhân quyết định viết một bức thư nghiêm khắc “Thật thế, tôi đã vô cùng đau khổ, con tim se thắt, nước mắt chan hòa khi viết cho anh em” (2Cr 2: 4). 
 
Tấn thảm kịch này giúp cho chúng ta nhận ra biết bao khó khăn trong việc cấy Ki-tô giáo vào môi trường ngoại giáo, môi trường này vốn đã đượ đào luyện bởi một nền văn hóa hoàn toàn khác với Do thái giáo và Giáo Hội vào lúc đó chỉ vừa mới hình thành nên chưa có đủ những quy định chặt chẽ. 
 
3. Lời mào đầu:
 
Đoạn trích thư hôm nay là lời mào đầu, phù hợp với tập quán thư tín của thời ấy, bao gồm:
 
-tên và phẩm chất của người gởi,
-tên và phẩm chất của người nhận.
 
“Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Giê-su Ki-tô”. Thánh Phao-lô tự ý kể ra rằng thánh nhân đã lãnh nhận ơn gọi của mình trực tiếp từ Thiên Chúa: thánh nhân là Tông Đồ với cùng tước hiệu như Nhóm Mười Hai. Tiếp liền sau đó, thánh Phao-lô nêu tên “ông Xốt-thê-nê là người anh em của chúng tôi”: “người anh em” là danh xưng mà những người Ki-tô hữu xưng hô với nhau. 
 
Người nhận là những Ki-tô hữu, họ hình thành nên “Hội Thánh của Thiên Chúa” ở Cô-rin-tô (đây là diễn ngữ ưa chuộng của thánh Phao-lô). Họ cũng đã được kêu gọi làm “dân thánh”, nhưng ngay tức khắc, thánh nhân mời gọi họ hãy khiêm tốn khi đặt mình trên cùng một bình diện với anh em của họ trong đức tin: thánh nhân cho họ thấy rằng phẩm chất đích thật của các Ki-tô hữu là hiệp nhất với nhau, vì thế mọi sự chia rẻ đều biểu lộ tình trạng kém phẩm chất của Ki-tô giáo.
 
Trong lời nguyện chúc sau cùng, thánh Phao-lô hiệp nhất lời chào Hy lạp “ân sủng” và lời chào Do thái “bình an”, ngầm ủy thác cho họ những nguồn phong phú mới, trong Đức Ki-tô.
 
TIN MỪNG (Ga 1: 29-34)
 
Đoạn Tin Mừng của Chúa Nhật II Thường Niên Năm A này được trích dẫn từ Tin Mừng Gioan chứ không Tin Mừng Mát-thêu như theo lẽ thường của phụng vụ năm A. Một cách nào đó, đoạn Tin Mừng này tiếp nối với đoạn Tin Mừng của ngày lễ Chúa Giê-su chịu phép rữa. Tuy nhiên, đây không là đọc lại câu chuyện Chúa Giê-su chịu phép rửa, nhưng là lời chứng của thánh Gioan Tẩy Giả. Quả thật, tất cả phần mở đầu của Tin Mừng Gioan được xoay chung quanh vai trò quan trọng của Gioan Tẩy Giả với tư cách nhân chứng.
 
Tựa Ngôn bị gián đoạn hai lần để đưa nhân vật Gioan Tẩy Giả vào nhằm nhấn mạnh vai trò chứng nhân của thánh nhân: lần thứ nhất, Gioan Tẩy Giả làm chứng Đức Giê-su là ánh sáng (1: 6-8); và lần thứ hai, Gioan Tẩy Giả làm chứng Đức Giê-su cao trọng hơn ông (1: 15). Đoạn Tin Mừng hôm nay lập lại cùng những ngôn từ với lời chứng của Gioan Tẩy Giả về sự cao trọng của Chúa Giê-su. Đây là điểm nhấn của Tin Mừng Gioan.
Tình tiết xảy ra vào những ngày Chúa Giê-su, sau khi trở về từ hoang địa, sắp bắt tay vào sứ mạng công khai của Ngài. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nhận ra sự cao trọng của Đấng mà ông đã làm phép rửa; vì thế, thánh nhân lên tiếng làm chứng cho Ngài:
 
-Thánh nhân đồng hóa Đức Giê-su với Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian, 
-Thánh nhân khẳng định cuộc sống tiền hữu của Đức Giê-su và tính ưu việt của Ngài,
-Thánh nhân chứng thực điều mà thánh nhân đã thấy và đã nghe: Đức Giê-su, được Chúa Thánh Thần tấn phong, đích thật là Con Thiên Chúa.
 
1. Chiên Thiên Chúa:
 
Lời chứng thứ nhất của Gioan Tẩy Giả về Đức Giê-su:“Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”. Đây là tước hiệu mầu nhiệm, nhưng được đặt trên môi miệng của Gioan Tẩy Giả, chắc chắn đây là tước hiệu Mê-si-a. Đối với những người Ki-tô hữu mà Tin Mừng Gioan ngỏ lời, tước hiệu này gợi lên việc Chúa Ki-tô bị sát tế, Ngài sẽ nhận án tử thập giá vào giờ mà các con chiên lễ Vượt Qua bị sát tế. Một quan điểm như thế không thể nào là quan điểm của vị Tiền Hô được.
 
Quả thật, Cựu Ước đã mô tả Người Tôi Trung “bị ngược đãi, cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca, như chiên bị đem đi làm thịt” (Is 53: 7). Đối với Gioan Tẩy Giả, xem ra còn hơn thế nữa, chiên là hình ảnh của sự vô tội và tinh tuyền. Đấng mà vị Tiền Hô đã không muốn làm phép rửa vì ông nhận ra Ngài là một con người vô tội, chính Đức Giê-su này hiện có mặt ở đó và đang tiến về phía mình: Ngài như con chiên không tì vết mà Lề Luật truyền lệnh dâng hiến thành hy lễ. 
 
Mặt khác, văn chương khải huyền, vẫn còn nở rộ vào thời Chúa Giê-su, tưởng tượng Đấng Mê-si-a đến dưới hình dạng của một con chiên yếu ớt, nhưng Thiên Chúa ban cho Ngài sức mạnh và quyền năng, và làm cho Ngài thành một con chiên khải hoàn. Chính xác, tác giả Tin Mừng Gioan sẽ lấy lại trong sách Khải Huyền của mình hình ảnh con chiên khải hoàn mà thánh nhân sẽ đồng hóa với hình ảnh con chiên bị sát tế.
 
Đây là kiểu nói độc nhất trong toàn bộ Tân Ước và được lập lại mỗi lần cử hành Thánh Thể: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến tham dự bàn tiệc Thiên Chúa”. Tin Mừng Gioan nói về tội lỗi ở số ít. Khi đặt tội lỗi ở số ít, thánh sử hiệp nhất trong cùng một viễn cảnh tội lỗi của người Do thái và tội lỗi của lương dân, vì diễn ngữ “trần gian” chỉ tất cả nhân loại.
 
2. Cuộc sống tiền hữu và tính ưu việt của Chúa Giê-su:
 
Lời chứng thứ hai của thánh Gioan Tẩy Giả: “Có người đến sau tôi, nhưng trổi vượt hơn tôi, vì có trước tôi”, đã được đưa vào trong Tựa Ngôn rồi, được lập lại ở đây vừa khẳng định cuộc sống tiền hữu của Chúa Giê-su vừa tính ưu việt của Ngài.
 
Quả thật, trong khi các Tin Mừng Nhất Lãm đưa gia phả của Chúa Ki-tô lên đến tổ phụ Áp-ra-ham (Tin Mừng Mát-thêu) hoặc lên đến nguyên tổ A-đam (Tin Mừng Lu-ca), thì Tin Mừng Gioan lại đưa gia phả của Đức Giê-su lên cho đến lúc khởi đầu tuyệt đối: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời… và Ngôi Lời là Thiên Chúa”. Như vậy, ở nơi lời chứng của thánh Gioan Tẩy Giả, cuộc sống tiền hữu của Chúa Giê-su được nêu bật rất rõ nét bởi một sự đối lập rất mạnh giữa “có người đến sau tôi” ở phần đầu và “có trước tôi” ở phần sau cùng: về phương diện con người, Đức Giê-su chào đời sau Gioan Tẩy Giả, nhưng về phương diện Thiên Chúa, Ngài có trước Gioan Tẩy Giả.
 
3. Con Thiên Chúa:
 
Lời chứng thứ ba của Gioan Tẩy Giả nhắm đến tước vị làm Con Thiên Chúa của Đức Giê-su được công bố vào lúc Ngài chịu phép rửa. Trong khi ba Tin Mừng Nhất Lãm gán lời khẳng định này cho tiếng phán từ trời, thì Tin Mừng Gioan đặt tiếng phán này trên môi miệng của Gioan Tẩy Giả. Chính thánh nhân là người công bố: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Con Thiên Chúa”. 
 
Đồng thời vị Tiền Hô xác định sứ mạng của mình: sứ mạng của thánh nhân chính là bày tỏ Đức Giê-su cho dân Ít-ra-en. Tự bản thân mình, thánh nhân đã không biết chân tính của Đức Giê-su: “Tôi đã không biết Người” (động từ “biết” có một nghĩa rất sâu xa trong Tin Mừng Gioan); nhưng nhờ cuộc Thần Hiển vào lúc Chúa Giê-su chịu phép rửa mà thánh nhân xác nhận tính siêu việt của Đấng mà thánh nhân loan báo. Hơn nữa, Thần Khí đã báo trước cho thánh nhân rồi.
 
Mặt khác, Tin Mừng Gioan là Tin Mừng duy nhất nhấn mạnh Chúa Giê-su được Chúa Thánh Thần tấn phong khi nói rằng Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giê-su. Chúa Thánh Thần, Đấng hằng ở trong Chúa Giê-su, chiếm đoạt lấy Ngài. Quả thật, Chúa Giê-su, sinh hạ bởi quyền năng của Thánh Thần, được Thánh Thần hằng ở cùng ngay từ khi thụ thai. 
 
Việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giê-su ở đây loan báo ngày lễ Ngũ Tuần: các Tông Đồ cũng được Chúa Thánh Thần tấn phong trước khi các ngài bắt tay vào việc loan báo Tin Mừng. Cũng vậy, người Ki-tô hữu vào lúc chịu phép Rửa lãnh nhận sức sống của Chúa Thánh Thần, Đấng ở trong họ.
 
4. Khía cạnh lịch sử:
 
Cuối cùng, chúng ta không thể loại trừ rằng Tin Mừng Gioan đã có một hậu ý biện giáo, hay đúng hơn truyền giáo, khi nhấn rất mạnh tính trổi vượt của Chúa Giê-su trên Gioan Tẩy Giả. Quả thật, một thời gian dài sau khi vị Tiền Hô qua đời, vẫn còn có những cộng đoàn xem thánh nhân là Đấng Mê-si-a và họ tiếp tục thực hành phép rửa sám hối. Sách Công Vụ nói cho chúng ta biết có một nhóm như thế ở Ê-phê-sô (Cv 19: 1-7). Vì thế, Tin Mừng Gioan muốn xóa tan mọi ngộ nhận như vậy bằng cách khẳng định rằng Gioan Tẩy Giả không phải là Đấng Mê-si-a.
 
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 03/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/03/2017 

- Lent is a favourable season for deepening our spiritual life through fasting, prayer and almsgiving.
Mùa Chay là thời cơ thuận tiện để làm sâu sắc thêm đời sống thiêng liêng của chúng ta qua việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc từ thiện.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/03/2017 

- The word of God is alive and powerful, capable of bringing about the conversion of hearts.
Lời của Thiên Chúa là lời hằng sống và mãnh liệt, có khả năng thúc đẩy sự hoán cải trong tâm hồn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/03/2017 

- Let us remember our Christian brothers and sisters who are suffering persecution for their faith. May we be united with them.
Chúng ta hãy nhớ đến các anh chị em Kitô hữu của chúng ta đang bị bách hại vì đức tin. Chúng ta hãy hiệp nhất với họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/03/2017 

- Fasting is fruitful when accompanied by concrete expressions of love towards our neigbors, especially those in difficulty.
Việc ăn chay mang lại hoa trái khi kèm theo đó là những biểu hiện cụ thể tình yêu thương đối với người lân cận của chúng ta, đặc biệt những ai đang gặp khó khăn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/03/2017 

- May the certainty of faith be the engine of our lives.
Mong sao niềm xác tín trở thành động lực cho đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/03/2017 

- Even if we may be men and women of little faith, the Lord saves us. We must always have hope in the Lord!
Ngay cả khi chúng ta có đức tin non yếu, Chúa vẫn cứu chúng ta. Chúng ta hãy luôn đặt hy vọng vào Chúa!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/03/2017 

- It is vital that we sow the seeds of goodness in order to cultivate justice, foster accord, and sustain integration, without growing weary.
Chúng ta hãy cấp bách gieo vãi hạt giống điều thiện để vun trồng công lý, phát triển hòa giải, cổ vũ hội nhập, mà không biết mệt mỏi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/03/2017 

- May St Joseph, Spouse of Mary and Patron of the Universal Church, bless you and watch over you. And best wishes to fathers!
Nguyện xin Thánh Giuse, hôn phu của Mẹ Maria và là Đấng Bảo trợ của Giáo Hội Hoàn Vũ, chúc phúc và gìn giữ các bạn. Tôi gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến những người cha gia đình !

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/03/2017 

- I invite you not to build walls but bridges, to conquer evil with good, offence with forgiveness, to live in peace with everyone.
Tôi kêu mời các bạn xây những cây cầu thay vì những bức tường, lấy điều thiện chinh phục điều ác, tha thứ chinh phục lỗi lầm, để sống trong an hòa với mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/03/2017 

- Fasting means not only abstaining from food, but also from any unhealthy attachment, and especially sin.
Ăn chay không chỉ là kiêng thức ăn, nhưng còn phải lánh xa bất cứ điều gì không lành mạnh, đặc biệt là tội lỗi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/03/2017 

- The Church wishes to be close to each person with the love, compassion and consolation that come from Christ.
Giáo Hội mong ước gần gũi với mỗi người bằng tình yêu, lòng trắc ẩn và sự an ủi đến từ Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/03/2017 

- The word of God helps us to open our eyes to welcome and love life, especially when it is weak and vulnerable.
Lời Chúa giúp chúng ta mở mắt để đón nhận và yêu quý sự sống, đặc biệt khi đó là sinh linh yếu đuối và dễ bị tổn thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/03/2017 

- Let us pray for one another so that we may open our doors to the weak and poor.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để chúng ta biết mở cửa đón nhận người yếu đuối và nghèo khổ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/03/2017 

- May the Holy Spirit lead us on a true journey of conversion, so that we can rediscover the gift of God’s word.
Xin Chúa Thánh Linh dẫn dắt chúng ta trên con đường hoán cải đích thực, hầu chúng ta có thể tái khám phá ân ban của Lời Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/03/2017 

- Lent is the favourable season for renewing our encounter with Christ, living in his word, in the sacraments and in our neighbour.
Mùa Chay là mùa thuận tiện để làm mới lại sự gặp gỡ với Đức Kitô, để sống trong lời Ngài, trong các bí tích và người lân cận của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/03/2017 

- The road from love to hate is easy. The one from hate to love is more difficult, but brings peace.
Con đường từ yêu đến ghét thì dễ dàng. Con đường từ ghét đến yêu thì khó khăn hơn nhiều, nhưng nó mang lại sự an bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/03/2017 

- Let us strive to fast during Lent with a smile, rather than a long face.
Trong mùa Chay chúng ta hãy cố gắng ăn chay với nụ cười chứ không phải với khuôn mặt nhăn nhó.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/03/2017 

- I ask, please, for your prayers for me and my collaborators, who until Friday will be on retreat.
Xin các bạn vui lòng cầu nguyện cho tôi và các cộng sự của tôi sẽ dự tuần tĩnh tâm cho đến thứ Sáu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/03/2017 

- Jesus is the faithful friend who never abandons us. Even when we sin, he patiently awaits our return.
Đức Giêsu là người bạn thủy chung không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Kể cả khi chúng ta phạm tội, Ngài kiên nhẫn chờ đợi chúng ta quay về.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/03/2017 

- Lent urgently calls us to conversion. We are called to return to God with all our heart.
Mùa Chay khẩn thiết mời gọi chúng ta hoán cải. Chúng ta được mời gọi trở về với Thiên Chúa bằng tất cả con tim.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/03/2017 

- God is always faithful and never stops for a moment loving us, following our steps, and running after us when we have strayed from him.
Thiên Chúa luôn trung tín và không ngừng yêu thương ta, không ngừng theo bước chân ta và chạy theo ta khi ta lạc lối khỏi Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/03/2017 

- Lent is a new beginning, a path leading to the certain goal of Easter, Christ’s victory over death.
Mùa Chay là một cuộc khởi đầu mới, con đường dẫn đến mục tiêu xác định là Lễ Phục Sinh, sự chiến thắng của Đức Kitô trên cái chết.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/02/2017 

- Prayer is the key that opens God’s merciful heart.
Cầu nguyện là chìa khóa mở trái tim đầy lòng thương xót của Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/02/2017 

- When the journey is uncertain and you fall, God, rich in mercy, will extend his hand to pick you up.
Khi hành trình cuộc đời bị bấp bênh và bạn bị vấp ngã, Thiên Chúa giàu lòng thương xót sẽ giang tay đỡ bạn đứng lên.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/02/2017 

- I invite you to persevere in prayer, so that Jesus’ wish may be fulfilled: “that they may all be one”.
Tôi mời gọi các bạn kiên trì cầu nguyện ngõ hầu ao ước của Đức Giêsu trở thành hiện thực: “Xin cho tất cả chúng nên một”.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/02/2017 

- Proclaiming to all the love and tenderness of Jesus, we become apostles of the joy of the Gospel. And joy is contagious!
Khi loan báo cho mọi người tình yêu và sự trìu mến của Thiên Chúa, chúng ta trở thành những tông đồ của niềm vui Tin Mừng. Và niềm vui thì dễ lây lan lắm!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/02/2017 

- The Christian heart is always full of joy. Always. Joy received as a gift and kept in order to be shared with everyone.
Trái tim người Kitô hữu luôn tràn ngập niềm vui. Luôn luôn! Niềm vui được lãnh nhận như là một quà tặng và được gìn giữ để chia sẻ với tất cả mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/02/2017 

- Do not underestimate the value of example, for it is more powerful than a thousand words, a thousand “likes”, retweets or YouTube videos.
Đừng coi thường giá trị của làm gương sáng, vì điều đó có sức mạnh hơn cả ngàn lời nói, ngàn “like”, retweets hay videos Youtube.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 03/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 48
  • Khách viếng thăm: 37
  • Máy chủ tìm kiếm: 11
  • Hôm nay: 7619
  • Tháng hiện tại: 300692
  • Tổng lượt truy cập: 16525729