Banner giua trang

Chúa nhật 10 TN. Giải thích Lời Chúa

Đăng lúc: Thứ ba - 31/05/2016 09:28 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Chúa Giê-su xuất hiện ở đây như vị Thiên Chúa làm người giàu lòng xót thương, rất nhạy bén trước nỗi đau thương mất mát của tha nhân: “Trông thấy bà, Chúa Giê-su chạnh lòng thương”. Thánh Lu-ca đã sử dụng động từ Hy-lạp: “chạnh lòng thương” để diễn tả mối cảm xúc ...
CHÚA NHẬT X THƯỜNG NIÊN

 
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật X Thường Niên Năm C này có thể được gọi là “Thiên Chúa viếng thăm dân Ngài”. Ngài đã sai các ngôn sứ, các tông đồ và Con yêu dấu của mình đến với chúng ta để cho chúng ta biết rằng Ngài là Thiên Chúa cứu độ, ban sự sống và có quyền năng trên sự chết.
 
1V 17: 17-24
 
Bài Đọc I thuật lại chuyện tích ngôn sứ Ê-li-a, người của Thiên Chúa, cho người con trai duy nhất của một bà góa ngoại giáo sống lại.
 
Gl 1: 11-19
 
Thánh Phao-lô nhắc lại nguồn gốc ơn gọi của thánh nhân. Đấng Phục Sinh đã can thiệp trực tiếp vào cuộc đời nhiệt thành của thánh nhân trong việc phục vụ đạo Do thái để thánh nhân hiểu ra rằng ơn cứu độ đến từ Chúa Ki-tô.
 
Lc 7: 11-17
 
Tin Mừng thuật lại cho chúng ta chuyện Chúa Giê-su giàu lòng xót thương đã cho con trai một của bà góa thành Na-im sống lại.
 
BÀI ĐỌC I (1V 17: 17-24)
 
1. Ngôn sứ Ê-li-a trong sách Các Vua:
 
Cựu Ước chỉ kể hai câu chuyện phục sinh kẻ chết, câu chuyện thứ nhất được ngôn sứ Ê-li-a thực hiện và câu chuyện thứ hai được người môn đệ truyền chân của ngôn sứ Ê-li-a thực hiện là ngôn sứ Ê-li-sa. Hai câu chuyện này được thuật lại trong hai sách Các Vua. Hai sách Các Vua này tường thuật lịch sử của mười chín các vua thuộc vương quốc Ít-ra-en (vương quốc miền Bắc) và hai mươi các vua thuộc vương quốc Giu-đa (vương quốc miền Nam) trong đó vai trò của các ngôn sứ chiếm một chỗ lớn lao.
 
Ngôn sứ Ê-li-a là một nhà bảo vệ bất khuất niềm tin vào Thiên Chúa chân thật ở vương quốc Ít-ra-en trong thời kỳ khủng hoảng tôn giáo tồi tệ vào thế kỷ X tCN. Tác giả sách Các Vua định vị “tập truyện về ngôn sứ Ê-li-a” vào trong bối cảnh tôn giáo thật buồn thảm vì tội bội giáo của vương quốc miền Bắc, dân chúng từ bỏ Đức Chúa của mình mà thờ lạy thần Ba-an của dân Ca-na-an.
 
Ngôn sứ Ê-li-a xuất hiện bất ngờ trong lịch sử cứu độ và biến mất còn mầu nhiệm hơn, ông được đưa lên trời trên một xa mã như lửa trong cơn gió lốc (2V 2: 11). Ông là một con người tràn đầy niềm tin và một nhà phép thuật thần thông. Nhiều giai thoại được lưu truyền về vị ngôn sứ này. Trong chuyện tích hôm nay, ngay cả một bà góa ngoại giáo Xa-rép-ta cũng nhận ra và làm chứng về tính chính danh của ngôn sứ Ê-li-a.
 
2. Ngôn sứ Ê-li-a phục sinh con trai bà góa Xa-rép-ta:
 
Câu chuyện hôm nay được đặt vào trong bối cảnh của một cơn hạn hán giáng xuống trên toàn cõi xứ Pa-lét-tin. Ngôn sứ Ê-li-a được lệnh của Đức Chúa đi đến thành Xa-rép-ta thuộc Xi-đôn ngoại giáo. Tại cổng thành Xa-rép-ta, vị ngôn sứ đã được một bà góa ngoại giáo nghèo hiếu khách đón tiếp. Bà đã quảng đại chia sẻ lương thực nghèo nàn của mình với ông, một người khách lạ mà bà nhận ra một người Ít-ra-en, người của Thiên Chúa. Để đáp lại tấm lòng của bà, vị ngôn sứ cho hũ bột của bà đã không vơi và vò dầu của bà đã chẳng cạn trong suốt thời kỳ hạn hán đói kém.
 
Đứa con trai một của bà góa này lâm trọng bệnh và qua đời. Trong nỗi đau tận cùng, bà khẩn cầu cùng người của Thiên Chúa hiện đang cư ngụ trong nhà bà. Vào thời đó cho đến thời Chúa Giê-su, người ta tin rằng các bệnh tật và cái chết là án phạt do tội lỗi của con người mà chỉ một mình Thiên Chúa mới biết. Bà nghĩ rằng sự hiện diện của ngôn sứ Ê-li-a chắc chắn đã nhắc Đức Chúa nhớ đến những tội lỗi của bà, mà trước đây đã gây nên cái chết của chồng bà và bây giờ cái chết của con trai bà. Ngôn sứ động lòng trắc ẩn. Bà góa và trẻ mồ côi là những người phận nghèo hèn khốn khổ nhất trong xã hội. Trong tôn giáo Ít-ra-en, Đức Chúa đã đòi hỏi phải chiếu cố đến những hạng người này.
 
Trước tiên, ngôn sứ Ê-li-a cầu nguyện cùng Đức Chúa: “Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của con. Chúa nỡ hại cả bà góa đã cho con ở nhờ, mà làm cho con bà ấy phải chết sao?” (1V 17: 20). Tiếp đó, ngôn sứ ba lần nằm duỗi dài trên thi thể của cậu bé, như để truyền hơi ấm cho cậu và khẩn cầu cùng Đức Chúa: “Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của con, xin cho hồn vía đứa trẻ này lại trở về với nó!” (1V 17: 21). Con số ba đánh dấu lời cầu nguyện khẩn thiết. Đức Giê-su đã cầu nguyện ba lần trong vườn Ô-liu; thánh Phao-lô đã ba lần cầu xin Chúa cất cái dầm khỏi thân xác của mình. Lời khẩn nguyện của vị ngôn sứ được Thiên Chúa chấp nhận khi cho đứa bé sống lại. Phép lạ dẫn đến hành vi đức tin: bà tuyên xưng chân tính của ông Ê-li-a là người của Thiên Chúa và là phát ngôn nhân của Đức Chúa.
 
BÀI ĐỌC II (Gl 1: 11-19)
 
Trong đoạn trích thư gởi tín hữu Ga-lát này, thánh Phao-lô cho thấy những khó khăn mà Giáo Hội tiên khởi gặp phải để đạt được sự độc lập của mình đối với Do thái giáo. Đồng thời, thánh Phao-lô cũng cấp cấp cho chúng ta những chỉ dẫn quý báu về một giai đoạn trong cuộc đời của thánh Phao-lô mà sách Công Vụ đã nói đến đôi điều. Sau cùng, đoạn trích thư này loan báo những đề tài mà thánh Phao-lô sẽ đề cập đến trong thư gởi tín hữu Rô-ma, cả hai thư này đóng một vai trò không thể bỏ qua trong việc khai sinh Hội Thánh Tin Lành. Về nội dung đạo lý của thư, thánh Phao-lô nhiệt thành bảo vệ đức tin chống lại Lề Luật, vì thế ông Lu-ther gọi thư gởi tín hữu Ga-lát là “vị hôn thê của linh hồn ông”.
 
1. Giáo Hội bị quấy nhiễu:
 
Thánh Phao-lô ngỏ lời với các tín hữu Gá-lát, họ là những Ki-tô hữu gốc lương dân thuộc miền Tiểu Á mà thánh nhân đã rao giảng Tin Mừng hoặc trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ nhất (Ga-lát miền Nam) hay trong cuộc hành trình truyền lần thứ hai và lần thứ ba (Ga-lát miền Bắc), người ta không biết chính xác. Những tín hữu Ga-lát đã luôn luôn tiếp đón nồng hậu thánh Phao-lô (Gl 4: 14-15). Nhưng những người rao giảng gốc Do thái đã đến, từ đó làm hoang mang các tín hữu Ga-lát khi tuyên bố rằng để đạt được ơn cứu độ, tin vào Đức Ki-tô thì chưa đủ, nhưng trước tiên phải tuân giữ Luật Mô-sê, chịu phép cắt bì để thuộc vào dân Chúa chọn. Họ cho rằng thánh Phao-lô đã tránh né vấn đề này để chinh phục thêm nhiều lương dân; vả lại, thánh nhân không phải là một tông đồ chân truyền bởi vì thánh nhân không thuộc nhóm Mười Hai, vân vân.
 
Trước những lời nói bóng gió về đạo lý cũng như những lời công kích cá nhân, thánh Phao-lô mạnh mẽ trả lời: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi đã quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Ki-tô được hình thành nơi anh em” (Gl 4: 19).
 
2. Nguồn gốc thần linh của Tin Mừng:
 
Thánh Phao-lô công bố nguồn gốc thần linh của Tin Mừng. Thánh nhân có thể khẳng định như vậy, vì Tin Mừng mà thánh nhân loan báo thánh nhân đã lãnh nhận trực tiếp từ Mặc Khải của Đức Ki-tô chứ không do bất kỳ ai trong loài người truyền lại (Gl 1: 11-12). Để diễn tả Mặc Khải này, thánh nhân dùng từ ngữ khải huyền, nghĩa là “vén mở những điều ẩn kín của Thiên Chúa”. Thánh nhân không mô tả biến cố trên đường Đa-mát, nhưng đối với các tín hữu Ga-lát, những người có nguy cơ trở lại những thực hành Do thái giáo, thánh nhân muốn giải thích như thế nào và những lý do nào thánh nhân tự mình đã từ bỏ những thực hành đó. Thánh nhân nhắc lại lòng nhiệt thành của thánh nhân đối với Lề Luật: “Trong việc giữ đạo Do thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông” (Gl 1: 14). Vì đó, thánh nhân đã ra tay bắt bớ những Ki-tô hữu. Nhưng thánh nhân đã hoàn toàn trở lại khi thánh nhân đã hiểu rằng chỉ một mình Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, mới là Đấng đem lại ơn cứu độ cho chúng ta.  
 
3. Nguồn gốc thần linh về Ơn Gọi của thánh Phao-lô:
 
Thánh Tông Đồ thường diễn tả cả những tâm tình khiêm tốn lẫn niềm tự hào của mình về ơn gọi đặc biệt của mình. Kiểu nói:  “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ” đã được ngôn sứ Giê-rê-mi-a sử dụng lần đầu tiên  (Gr 1: 5). Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị đã lập lại kiểu nói này khi áp dụng vào ơn gọi của Người Tôi Trung. Chắc chắn thánh Phao-lô đã được gọi hứng từ bản văn I-sai-a này: “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi… Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49: 1, 6).
 
4. Sự độc lập và sự liên đới:
 
Được Chúa Ki-tô đích thân tuyển chọn, thánh Phao-lô tự cho mình là Tông Đồ hoàn toàn tách biệt. Ngay khi được kêu gọi, thánh nhân hành động ngay lập tức quyền thủ lãnh của chính mình: “Tôi đã chẳng thuận theo các lý do tự nhiên, cũng chẳng lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị đã là Tông Đồ trước tôi…”, thánh nhân tức khắc loan báo Tin Mừng khi sang xứ Ả-rập, rồi trở về Đa-mát.
 
Thánh Phao-lô đòi hỏi sự độc lập của mình; thánh nhân khởi sự công cuộc truyền giáo một cách vô tư lợi mà thánh nhân sẽ xem đó như khuôn mẫu của mình, nhưng luôn trong tâm thế của một nhà tiền phong. Ba năm sau, thánh nhân mới quyết định lên Giê-ru-sa-lem gặp gỡ thánh Phê-rô, thủ lãnh của Giáo Hội, và thánh Gia-cô-bê, thủ lãnh của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem. Thánh Phao-lô luôn luôn bày tỏ một lòng trung thành gắn bó với Giáo Hội-mẹ.
 
Khi nhắc lại những sự kiện này, thánh Phao-lô bảo đảm với các tín hữu Ga-lát sứ mạng chính truyền của mình và sự liên đới của thánh nhân với nhóm Mười Hai, trong sự duy nhất của cùng một Tin Mừng.
 
TIN MỪNG (Lc 7: 11-17)
 
Các tác giả Tin Mừng thuật lại cho chúng ta Chúa Giê-su thực hiện ba cuộc phục sinh: cuộc phục sinh con gái ông Gia-ia thuộc nguồn chung của Tin Mừng Nhất Lãm, cuộc phục sinh con trai bà góa Na-im thuộc nguồn riêng của thánh Lu-ca và cuộc phục sinh anh La-da-rô thuộc nguồn riêng của thánh Gioan. Trong cuộc đời thi hành sứ mạng, cuộc phục sinh con trai bà góa thành Na-im là cuộc phục sinh đầu tiên.
 
1. Chúa Giê-su động lòng trước tình cảnh thương tâm của một bà góa (7: 11-13)
 
Na-im là một thị trấn cách Na-da-rét khoảng tám cây số về phía đông nam. Biến cố được đặt vào thời kỳ Chúa Giê-su thi hành sứ vụ tại Ga-li-lê: “Có các môn đệ và một đám đông cùng đi với Người”. Như vậy có hai đám đông gặp nhau: một đám đông theo Chúa Giê-su vào thành Na-im và một đám đông theo bà góa ra ngoài thành Na-im để chôn cất đứa con trai một của bà.
 
Chúa Giê-su xuất hiện ở đây như vị Thiên Chúa làm người giàu lòng xót thương, rất nhạy bén trước nỗi đau thương mất mát của tha nhân: “Trông thấy bà, Chúa Giê-su chạnh lòng thương”. Thánh Lu-ca đã sử dụng động từ Hy-lạp: “chạnh lòng thương” để diễn tả mối cảm xúc quặn đau từ tận tâm can của Chúa Giê-su. Không phải vì người chết mà Chúa Giê-su động lòng xót thương, mà vì cảnh ngộ của bà góa này thật thương tâm. Bà này đã mất chồng; bây giờ còn một người con trai duy nhất, bà cũng mất luôn. Vì thế, bà rất đau khổ, không có chỗ nương tựa trong cuộc sống tinh thần lẫn vật chất. Khi tường thuật câu chuyện này, thánh Lu-ca dư biết đó cũng là hoàn cảnh của Đức Ma-ri-a và Chúa Giê-su, người con trai duy nhất. “Trái tim con người vốn giàu tình thương. Nhưng vì nhiều lý do, trái tim có thể bị chai lì đi, không còn xúc động gì trước cảnh khổ của người khác…Lạy Chúa, xin đổi trái tim bằng đá của con bằng trái tim bằng thịt” (“Hạt Giống Nẩy Mầm”).
 
Trong nỗi đau tận cùng, bà không biết người đàn ông đứng ở cổng thành hôm ấy là Chúa Giê-su, Đấng có quyền năng ban sự sống. Bà không ngỏ lời cầu xin Chúa. Nhưng Chúa động lòng thương, Ngài đích thân lại gần và kéo bà ra khỏi cơn đau khổ khi an ủi bà: “Bà đừng khóc nữa!”. Qua lời an ủi này, Chúa Giê-su như muốn nói với bà: “Tôi không muốn thấy bà khóc; tôi đã đến trần gian để đem niềm vui và sự bình an”.  
 
2. Chúa Giê-su phục sinh con trai bà góa Na-im (7: 14-15)
 
Với tấm lòng thương cảm trước một cảnh ngộ bi thương như thế, Chúa Giê-su không ngại vượt qua những tập tục nghi thức về thanh sạch và ô uế khi “Người lại gần, sờ vào quan tài”, đụng chạm đến tử thi, một hành vi được xem là ô uế (Ds 19: 11, 16). Yêu thương giúp đỡ đòi hỏi phải can đảm dám vượt qua những dị nghị của người khác. Thời xưa, người Do thái thường đặt thi hài trên cái cáng. Nếu thi hài được đặt trong quan tài, thì làm sao liền ngồi dậy được? Ở đây, rõ ràng thánh Lu-ca đã dùng từ “quan tài” cho dể hiểu hơn đối với dân ngoại.
 
Chúa Giê-su truyền lệnh cho chàng thanh niên: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy chỗi dậy!”. Chúa Giê-su cũng truyền lệnh như thế cho con gái ông Gia-ia: “Này cô bé, chỗi dậy đi!” (Lc 8: 54) cũng như cho anh La-da-rô: “Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ” (Ga 11: 43). Trong Tân Ước, động từ “chỗi dậy” được dùng để diễn tả cuộc Phục Sinh của Chúa Giê-su. Lời Ngài: “Tôi bảo anh: hãy chỗi dậy” có tác dụng ngay tức khắc: “Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói”, nghĩa là người thanh niên tái lập mối liên hệ với đám đông chung quanh, trước đây đã bị cắt đứt do cái chết.
 
“Đức Giê-su trao anh ta cho bà mẹ”: Chi tiết này gợi nhớ đến câu chuyện ngôn sứ Ê-li-a phục sinh đức con trai duy nhất của bà góa thành Xa-rép-ta. Lòng xót thương của Thiên Chúa trong Đức Giê-su lại một lần nữa được nhấn mạnh. Tuy nhiên, có một sự khác biệt cần phải ghi nhận. Trong khi ngôn sứ Ê-li-a đã phải “nằm dài trên đứa bé” (1V 17: 21), còn Chúa Giê-su thì chỉ cần một lời đứa bé tức khắc sống lại. Chính với tư cách là Chúa có quyền năng trên sự sống và sự chết mà Chúa Giê-su hành động.
 
Thánh Âu-gút-ti-nô giải thích niềm vui khôn xiết của người mẹ này khi được hoàn lại đứa con trai của mình với niềm vui của Giáo Hội, Mẹ chúng ta khi những đứa con tội lỗi của Giáo Hội trở về với cuộc sống ân sủng: “Bà mẹ góa vui mừng vì đứa con của bà đã được sống lại, Giáo Hội, Mẹ chúng ta, vui mừng mỗi ngày khi dân chúng được tái sinh trong Thánh Thần. Cậu bé đã chết về phương diện thể lý; dân chúng đã chết về phương diện tinh thần. Cái chết của cậu bé đã được khóc than về phương diện hữu hình; cái chết của dân chúng là vô hình, vì thế không có tiếng khóc than. Ngài tìm kiếm họ, vì đã biết họ phải chết; chỉ mình Ngài mới có thể đem họ trở lại cuộc sống” (Sermon, 98, 2).
 
3. Mọi người đều kinh sợ (7: 16-17).
 
Như thường thấy trong các trình thuật phép lạ, đoạn kết ghi lại phản ứng của những người chứng kiến. Tác cả đám đông nhận thấy nơi Đức Giê-su “một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta”. Việc hiểu biết này dĩ nhiên chưa trọn vẹn, tuy nhiên không phải là không có giá trị, bằng chứng là mọi người nhận ra phép lạ này là dấu chỉ cho thấy “cuộc viếng thăm của Thiên Chúa”, Đấng đến giải thoát Ít-ra-en, đó là sự can thiệp đầy lòng xót thương mà ngôn sứ Da-ca-ri-a đã ca tụng (Dcr 1: 68-78). Và tin này đã được lan truyền ra “khắp cả miền Ga-li-lê và vùng phụ cận”.
 
Tác giả bài viết: Lm Hồ Thông HT68
Nguồn tin: Gia đình Cựu Chủng sinh Huế
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 04/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 29/04/2017 

- May the Lord today grant us to set out together as pilgrims of commUNI0N and messengers of peace.
Ngày hôm nay, nguyện xin Chúa cho chúng ta cùng nhau trở thành những người hành hương của tình hiệp thông và những sứ giả của hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/04/2017 

- We are called to walk together, in the conviction that the future also depends on the encounter of religions and cultures.
Chúng ta được mời gọi cùng chung nhịp bước, trong niềm xác tín rằng tương lai cũng phụ thuộc vào sự gặp gỡ giữa các tôn giáo và các nền văn hóa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/04/2017 

- Please pray for my journey tomorrow as a pilgrim of peace to Egypt.
Xin vui lòng cầu nguyện cho chuyến đi ngày mai của tôi hành hương vì hòa bình đến Ai Cập.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/04/2017 

- Let’s promote friendship and respect between men and women of different religious traditions in order to build a world of peace.
Chúng ta hãy thúc đẩy tình hữu nghị và sự tôn trọng giữa những con người của các truyền thống tôn giáo khác nhau nhằm xây dựng một thế giới hòa bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/04/2017 

- He died, He was buried, He rose and He appeared. Jesus is alive! This is the heart of the Christian message.
Ngài đã chết, Ngài đã được khâm liệm, Ngài đã sống lại và Ngài đã hiện ra: Đức Giêsu là Đấng Hằng Sống! Đó là tâm điểm của sứ điệp Kitô giáo.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/04/2017 

- If we had God’s Word always in our heart, no temptation could separate us from God.
Nếu Lời Chúa luôn ở trong con tim chúng ta thì không cám dỗ nào có thể làm chúng ta xa rời Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/04/2017 

- Let us pray for the grace to never grow tired of drawing from the well of the Father’s mercy and bringing it to the world.
Chúng ta hãy cầu xin ơn Chúa cho chúng ta đừng bao giờ mỏi mệt múc lấy lòng thương xót của Chúa Cha và mang đến cho thế giới.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/04/2017 

- God’s mercy is forever; it never ends, it never runs out, it never gives up when faced with closed doors, and it never tires.
Lòng thương xót Chúa tồn tại đến muôn đời: nó không có kết thúc, không khô cạn, không bỏ cuộc trước những tâm hồn khép kín, và không bao giờ biết mệt mỏi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/04/2017 

- Lord, bring healing to our lives, that we may protect the world and not prey on it, that we may sow beauty, not pollution and destruction.
Lạy Chúa, xin cứu chữa chúng con, để chúng con trở thành người bảo vệ thay vì hủy hoại thế giới, trở thành người vun trồng vẻ đẹp thay vì làm ô nhiễm và tàn phá.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/04/2017 

- When we have reached the lowest point of our misery and our weakness, the Risen Christ gives us the strength to rise again.
Khi chúng ta rơi vào tận cùng nỗi thống khổ và yếu nhược, Đức Kitô phục sinh ban cho ta sức mạnh để lại chỗi dậy.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 20/04/2017 

- During this week of Easter it would do us good every day to read a passage from the Gospel which speaks of the Resurrection of Christ.
Từ khi Đức Kitô phục sinh, chúng ta có thể nhìn mọi biến cố của đời sống chúng ta bằng con mắt mới và trái tim mới, ngay cả biến cố bi quan nhất.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/04/2017 

- Let us meditate with wonder and gratitude on the great mystery of the Lord’s Resurrection.
Chúng ta hãy chiêm ngắm mầu nhiệm phục sinh vĩ đại của Chúa với niềm ngợi khen và tri ân.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/04/2017 

- During this week of Easter it would do us good every day to read a passage from the Gospel which speaks of the Resurrection of Christ.
Trong tuần Phục sinh này, thật có ích cho chúng ta khi mỗi ngày đọc một đoạn Tin Mừng nói về sự sống lại của Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/04/2017 

- Yes, we are sure of it: Christ indeed from death is risen!
Vâng, chúng tôi xác thực điều này: Đức Kitô đã thực sự sống lại từ cõi chết!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/04/2017 

- Happy Easter! May you bring to all the joy and hope of the Risen Christ!
Mừng Chúa Phục Sinh! Ước mong anh chị em mang niềm vui và niềm hy vọng của Đức Kitô Phục Sinh đến cho tất cả mọi người!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/04/2017 

- Today is the celebration of our hope, the celebration of this truth: nothing and no one will ever be able to separate us from God’s love.
Hôm nay là lễ mừng niềm hy vọng của chúng ta, là sự biểu dương sự thật này: Không gì và không ai có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến của Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/04/2017 

- O Cross of Christ, teach us that the rising of the sun is more powerful than the darkness of night, and God’s eternal love wins always.
Hỡi thập giá Đức Kitô, xin dạy chúng tôi biết ánh bình minh mạnh hơn bóng đêm, và tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa luôn chiến thắng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/04/2017 

- It is good for us to break out of our set ways, because it is proper to the Heart of God to overflow with tenderness, with ever more to give.
Thật là tốt khi chúng ta thoát khỏi lề lối của bản thân, bởi vì đó là đặc trưng của trái tim Thiên Chúa tràn ngập lòng thương xót, tràn ngập, tuôn chảy tình thương của Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/04/2017 

- While the mystery of evil is profound, the reality of God’s Love poured out through Jesus is infinite and victorious.
Trong lúc bí ẩn của sự dữ là vực sâu, thì hiện thực Tình Yêu Thiên Chúa tuôn đổ qua Đức Giêsu là vô biên và vinh thắng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/04/2017 

- Jesus comes to save us; we are called to choose his way: the way of service, of giving, of forgetfulness of ourselves.
Đức Giêsu đến cứu chúng ta; chúng ta được mời gọi chọn con đường của Ngài: Đường phục vụ, đường trao ban, đường quên mình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/04/2017 

- During this Holy Week let us focus our gaze on Jesus and ask for the grace to better understand the mystery of his sacrifice for our sake.
Trong Tuần Thánh này chúng ta hãy hướng sự chú ý vào Chúa Giêsu và cầu xin ơn Chúa cho chúng ta thấu hiểu hơn mầu nhiệm hy tế của Ngài vì chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 09/04/2017 

- O Cross of Christ, inspire in us a desire for God, for goodness and for light.
Hỡi thập giá Đức Kitô, xin khơi dậy nơi chúng tôi niềm khao khát Thiên Chúa, khao khát điều tốt lành và ánh sáng.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 08/04/2017 

- Dear young friends, don’t be afraid to say “yes” to Jesus with all your heart, to respond generously and to follow him!
Các bạn trẻ thân mến, đừng sợ nói “vâng” với Đức Giêsu bằng tất cả tâm can, để quảng đại đáp lại và bước theo Ngài!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 07/04/2017 

- Lent is a period of repentance aimed at enabling ourselves to rise with Christ, to renew our baptismal identity.
Mùa Chay là thời kỳ sám hối để chúng ta được sống lại với Đức Kitô, để làm mới lại căn tính bí tích rửa tội của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/04/2017 

- Hope helps believers to be open to the surprises God has in store for us.
Niềm hy vọng giúp người tín hữu cởi mở với những điều bất ngờ Chúa dành cho chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/04/2017 

- Let us follow in the footsteps of Christ, especially by dedicating ourselves to our brothers and sisters in need.
Chúng ta hãy theo dấu chân Đức Kitô, đặc biệt dấn thân phục vụ anh chị em đang cần giúp đỡ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/04/2017 

- Today is the International Day of Mine Awareness. Let us please renew the commitment for a world without mines!
Hôm nay là ngày Quốc Tế Phòng Chống Bom Mìn. Chúng ta hãy làm mới lại cam kết cho một thế giới không có bom mìn!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 03/04/2017 

- Lent is, by nature, a time of hope because it leads us to be born anew “of the spirit”, by the love of God.
Bản chất Mùa Chay là mùa của hy vọng vì đưa chúng ta đến cuộc tái sinh “thiêng liêng” bởi tình yêu của Thiên Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/04/2017 

- When the Holy Spirit abides in our hearts, it is he who makes us understand that the Lord is near and takes care of us.
Khi Chúa Thánh Thần cư ngụ trong trái tim chúng ta, Ngài sẽ cho chúng ta hiểu rằng có Chúa kề bên và chăm sóc chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/04/2017 

- Even in the hardest and most disturbing moments, the Lord’s mercy and goodness are greater than every thing.
Ngay cả trong những lúc khó khăn và rắc rối nhất, lòng thương xót và lòng nhân hậu của Thiên Chúa vẫn lớn hơn mọi thứ.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 04/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 59
  • Hôm nay: 9322
  • Tháng hiện tại: 374144
  • Tổng lượt truy cập: 16944658