Banner giua trang

Người phụ nữ phi thường

Đăng lúc: Thứ năm - 16/02/2017 20:37 - Người đăng bài viết: ccshue
-

-

Người phụ nữ phi thường đó là Helen Adams Keller – người khiếm thị đầu tiên trên thế giới nhận bằng đại học, rồi trở thành Tiến sĩ danh dự của Đại học Harvard và nhiều trường đại học danh tiếng khác.
Người phụ nữ phi thường
 
Trong thập niên 1960 của thế kỷ XX, hai bộ phim (một tài liệu và một phim truyện) cùng nói về cuộc đời của một phụ nữ đã được trao hai giải Oscar, gây xôn xao ngành công nghiệp giải trí thế giới. Người phụ nữ phi thường đó là Helen Adams Keller – người khiếm thị đầu tiên trên thế giới nhận bằng đại học, rồi trở thành Tiến sĩ danh dự của Đại học Harvard và nhiều trường đại học danh tiếng khác.
 
 
Helen Adams Keller (27/6/1880 – 1/6/1968) là nhà văn, nhà hoạt động chính trị và giảng viên người Mỹ. Bà là người mù và điếc đầu tiên nhận được bằng Thạc sỹ Nghệ thuật. Câu chuyện về cô giáo của bà, Anne Sullivan, vượt qua sự cô lập gần như hoàn toàn trong sự thiếu vắng ngôn ngữ để dạy bà cách giao tiếp và nhận thức thế giới được biết tới rộng rãi trên thế giới qua vở kịch và bộ phim The Miracle Worker– Người Lao động Phi thường.
 
Đã có 7 Tổng thống Mỹ và Thủ tướng của nhiều nước dành thời gian tiếp kiến bà. Helen Keller đã cất công đi khắp thế giới để nói với những người cùng cảnh ngộ một điều giản dị: “Khuyết tật không phải là bất hạnh tột cùng của con người. Người mù không phải là thiên tài cũng không phải là một kẻ ngốc. Trách nhiệm của cộng đồng là giúp đỡ người đó làm hết khả năng của mình để có thể chiến thắng ánh sáng qua công việc”… Bằng tất cả những nỗ lực phi thường, Helen Keller đã viết nên 12 cuốn sách – 12 bài ca huy hoàng nhất về sự vươn lên của con người…
 
Helen Adams Keller là người Mỹ gốc Đức, sinh ngày 27/6/1880 tại Tuscumbia thuộc vùng Tây Bắc Alabama. Trong 19 tháng đầu tiên của cuộc đời, Helen là một bé gái bụ bẫm, xinh xắn, đáng yêu, suốt ngày líu lo như chim hót. Nhưng chỉ sau một trận sốt bại não, cô bé đã mất đi gần như tất cả các khả năng giao tiếp của một con người: không nhìn thấy ánh sáng, không nghe thấy âm thanh…Phải rất lâu sau khi Helen bình phục, cha mẹ cô bé mới nhận thấy các dấu hiệu bất bình thường đó. Họ đã trải qua tất cả các nấc thang tâm lý khi phải đối mặt với một sự thật quá phũ phàng: hoảng sợ, chạy trốn, phủ nhận, giấu giếm nỗi đau, bế tắc… Nhưng may thay, cuối cùng họ đã thoát ra được tất cả các trạng thái tâm lý đó và đã gắng làm tất cả những việc có thể để cứu cô bé khỏi thế giới mù lòa. Và việc làm có ý nghĩa lớn lao nhất của họ là đã tìm được những vị “cứu tinh” cho cuộc đời khốn khổ của cô bé.
 
Vị “cứu tinh” đầu tiên của Helen là Alexander Graham Bell. Lúc bấy giờ Bell là một nhà chuyên môn làm việc tại trường của trẻ em điếc. Nhờ có ông, Helen mới có cơ hội được gặp gỡ Anagnos – Hiệu trưởng Học viện Y khoa Perkins kiêm Giám đốc Bệnh viện tâm thần Massachusetts. Chính Anagnos đã tìm cho Helen một “vị cứu tinh” thứ hai, người được tôn vinh là “thiên sứ của ánh sáng” đã đưa cô bé quay trở lại với cuộc sống và trở thành người có ích cho xã hội.
 
Cô giáo của Helen tên là Anne Sullivan, 20 tuổi, người Irland, là một người có hoàn cảnh khá đặc biệt. Cô mồ côi cả cha lẫn mẹ, cũng từng sống trong thế giới mù lòa suốt mười lăm năm trời. Cô đã tốt nghiệp Học viện Y khoa Perkins và nhờ hai lần phẫu thuật mắt nên đã lấy lại được một phần thị lực. Thấm thía nỗi đau của một người đã từng sống trong bóng tối, khi được Anagnos giới thiệu làm gia sư cho Helen, Anne đã nhận lời, với hy vọng cứu vớt một sinh linh khốn khổ.
 
Thật khó có thể kể hết những gian nan vất vả của Helen trên hành trình tìm đến với “ánh sáng”. Đành rằng Helen may mắn gặp được cô giáo Anne có trái tim nhân hậu, có kỹ năng sư phạm, song nếu cô bé Helen chẳng chịu hợp tác với cô giáo, chấp nhận buông trôi cuộc đời mình vĩnh viễn trong tăm tối thì cô giáo Anne cũng đành phải bó tay. Nhưng Helen đã không chịu đầu hàng số phận, đã nhẫn nại tìm hiểu ý nghĩa của từng từ một và cố gắng viết lại từ đó trên lòng bàn tay. Cảm giác về cái ngày 5/4/1887, cái ngày Helen hiểu và viết lại được từ đầu tiên là từ “nước” ấy sẽ không bao giờ phai mờ trong ký ức của cô bé.
 
Trong cuốn tự truyện “Cuộc Đời Tôi”, Helen Keller đã ghi lại cảm xúc kỳ diệu của mình vào thời khắc đó:“Lúc đó chúng tôi đi ra giếng nước trong vườn và ngất ngây trước hương thơm ngào ngạt của loài hoa honey-suckle. Cô giáo tôi viết từ “water” (nước) vào tay tôi trong khi rót một dòng nước mát lạnh vào tay kia, tôi đứng lặng cảm nhận cử động ngày càng nhanh của các ngón tay của Anne. Bất thình lình một cảm giác mơ hồ, bị lãng quên từ lâu đã sống dậy trong tôi. Một cảm xúc trào dâng và không sao hiểu nổi sự bí ẩn của ngôn ngữ bỗng dưng hé mở với tôi. Tôi nằm trên chiếc giường nhỏ và trải qua cái ngày có ý nghĩa trọng đại vô cùng trong đời tôi. Lần đầu tiên tôi chờ đợi một ngày mai với một tâm trạng háo hức”.
 
Sau khi được cô Anne dắt vào thế giới của ngôn từ, Helen bắt đầu được cô dạy chữ braille (chữ nổi dành cho người khiếm thị) và sử dụng chiếc máy chữ dành cho người khiếm thị. Lên mười tuổi, Helen được Mary Swift Lamson dạy nói. Cuối cùng thì sau chín năm im lặng, cô bé mù và điếc đã biết nói: “Bây giờ tôi không còn câm nữa”.
 
Năm 16 tuổi, Helen vào học trường nữ sinh Cambridge và 4 năm sau trở thành sinh viên mù, điếc đầu tiên của Đại học Radcliffe. Tất nhiên là cô giáo Anne đã phải học cùng với Helen ở tất cả các cấp học. Helen luôn có cô Anne ngồi cạnh để viết lại nội dung bài giảng vào lòng bàn tay, còn cô dùng máy chữ để ghi lại bài giảng. Số lượng bài vở khổng lồ ở Đại học Radcliffe là một thách thức cực kỳ to lớn đối với cả hai cô trò, nhưng với sự kiên định của mình, Helen không chỉ hoàn thành tất cả các yêu cầu của một sinh viên, mà còn viết nên cuốn sách đầu tiên của cuộc đời bằng chữ braille, cuốn “Cuộc Đời Tôi”. Cuốn sách được xuất bản năm 1903, trước khi Helen nhận bằng cử nhân một năm, đã gây xôn xao dư luận toàn nước Mỹ và đưa cô gái mù lòa vào đội ngũ các nhà văn thế giới. “Cuộc Đời Tôi” đã nhận được giải thưởng Văn học Mỹ, trở thành một trong những cuốn sách kinh điển của văn học thế giới và sau đó được chuyển thể thành kịch bản “Người Sáng Tạo Kỳ Tích”.
 
Làm gì sau khi tốt nghiệp đại học để kiếm sống là một câu hỏi khá hóc búa đối với Helen. Nếu chỉ trông vào nhuận bút của những cuốn sách, chắc chắn cô sẽ không thể tự nuôi sống bản thân, càng không thể trả lương cho cô Anne và cô thư ký Poly Thomson. Thế là Helen nảy ra sáng kiến đi diễn thuyết để kiếm tiền. Cùng với Anne, Helen bắt đầu những cuộc thuyết trình vòng quanh thế giới. Thù lao thu được từ những buổi diễn thuyết xuyên lục địa đó đã đảm bảo cho hai cô trò cuộc sống tương đối đầy đủ. Về sau, khi nhu cầu nghe của khán thính giả giảm dần, họ chuyển sang làm kịch vui và thu được thành công vang dội, với thù lao khoảng hai ngàn đôla mỗi tuần.
 
Không chỉ nuôi sống bản thân và thực hiện những dự án văn chương, Helen còn nỗ lực phấn đấu vì quyền lợi của người mù, trước hết trên toàn nước Mỹ, sau đó là toàn thế giới. Helen đã dùng chính ngôi nhà của mình làm trụ sở để gây quỹ từ thiện giúp người mù và điếc. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, cùng với nữ thư ký Polly Thomson, Helen đã đến Nhật, Australia, Nam Phi để gây quỹ cho tổ chức “Những Người Mù Hải Ngoại”.
 
Trong hai cuộc chiến tranh thế giới, Helen đã có mặt tại hơn 70 bệnh viện để an ủi, động viên thương bệnh binh kiên cường chống chọi với số phận, làm cho họ hiểu rằng tàn phế không có nghĩa là hết hy vọng trước cuộc sống. Trong ba lần tới nước Nhật, bà được nhân dân Tokyo tiếp đón nồng nhiệt. Bà kể với mọi người rằng, mình chỉ là một người không may mắn nhưng đã dùng ý chí nghị lực để chống trả lại số phận trớ trêu, nhằm mang lại tình thương và sự bù đắp cho người tàn tật.
 
Trong khi không ngừng phấn đấu vì quyền lợi của người mù, Helen vẫn dành nhiều thời gian và tâm huyết để hoàn thành những cuốn sách của cuộc đời. Cùng với “Cuộc Đời Tôi”, Helen còn viết “Thế Giới Trong Tôi”, “Cô Giáo Của Tôi”… Trong “Cô Giáo Của Tôi”, Helen đã dùng những lời đẹp nhất, có ý nghĩa nhất để tri ân đối với cô giáo Anne:“Nếu không có Anne thì chằng bao giờ thế giới biết đến cái tên Helen Keller”. Không giống như những cuốn sách khác, hành trình “Cô giáo của tôi” đến với công chúng khá đặc biệt. Khi bản thảo “Cô Giáo Của Tôi” đã hoàn thành, chuẩn bị đưa in thì bị thiêu cháy cùng với ngôi nhà của Helen. Phải mất tới vài năm, Helen mới viết lại được bản thảo “Cô Giáo Của Tôi”.
 
Trong bộ ba Helen, Anne, Poly Thomson, Anne là người rời bỏ cuộc sống sớm nhất. Bà mất năm 1936, khi Helen 56 tuổi và 24 năm sau, Poly Thom Sơn cũng từ trần, để lại Helen đơn độc trên cõi đời. Đó là hai người thân thiết nhất đối với Helen, họ vừa là tai, vừa là mắt, vừa là miệng để Helen nhìn, sống, và cống hiến cho cuộc đời những gì bà đã trải nghiệm, đã giác ngộ.
 
Đây là một số câu danh ngôn “nổi bật” của bà Hellen Adams Keller:
 
– Tôi đã khóc vì không có giày để đi chỉ đến khi tôi gặp một người khóc vì không có chân để đi giày.
 
– Những gì tốt đẹp nhất phải được cảm nhận bằng trái tim.
 
– Lạc quan là niềm tin dẫn tới thành tựu. Bạn chẳng thể làm được điều gì mà thiếu đi hy vọng và sự tự tin.
 
– Tính cách không thể phát triển một cách dễ dàng và yên lặng. Chỉ qua trải nghiệm thử thách và gian khổ mà tâm hồn trở nên mạnh mẽ hơn, hoài bão hình thành và thành công đạt được.
 
– Chúng ta không bao giờ có thể học được sự can đảm và kiên nhẫn nếu chỉ có niềm vui trên thế gian này.
 
– Điều tôi đi tìm không ở ngoài kia, nó ở trong bản thân tôi.
 
Bà Hellen Adams Keller là một phụ nữ phi thường đáng khâm phục, bà là tấm gương vượt khó để chúng ta phải cố gắng noi theo.
 
Thánh Phaolô xác định: “Nếu phải tự hào thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi” (2 Cr 11:30).
 
Tại sao lại hãnh diện về sự yếu đuối của mình? Thánh Phaolô bộc bạch: “Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi: ‘Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối’. Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi.10 Vì vậy, tôi cảm thấy vui sướng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12:7-10).
Tác giả bài viết: Trầm Thiên Thu (sưu tầm và tổng hợp)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

ĐỨC THÁNH CHA TRÊN TWITTER 03/2017


Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 28/03/2017 

- If we learn to read everything in the light of the Holy Spirit, we realize that everything is grace!
Nếu chúng ta học biết nhìn mọi sự dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ thấy rằng mọi sự đều là ân sủng!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 27/03/2017 

- Caring for the sacred gift of all human life, from conception to death, is the best way of preventing every type of violence.
Chăm sóc món quà thiêng liêng của mọi đời sống con người, từ lúc thụ thai đến khi chết, là cách tốt nhất để ngăn ngừa mọi hình thức bạo lực.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 26/03/2017 

- Lent is a favourable season for deepening our spiritual life through fasting, prayer and almsgiving.
Mùa Chay là thời cơ thuận tiện để làm sâu sắc thêm đời sống thiêng liêng của chúng ta qua việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc từ thiện.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 25/03/2017 

- The word of God is alive and powerful, capable of bringing about the conversion of hearts.
Lời của Thiên Chúa là lời hằng sống và mãnh liệt, có khả năng thúc đẩy sự hoán cải trong tâm hồn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/03/2017 

- Let us remember our Christian brothers and sisters who are suffering persecution for their faith. May we be united with them.
Chúng ta hãy nhớ đến các anh chị em Kitô hữu của chúng ta đang bị bách hại vì đức tin. Chúng ta hãy hiệp nhất với họ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 24/03/2017 

- Fasting is fruitful when accompanied by concrete expressions of love towards our neigbors, especially those in difficulty.
Việc ăn chay mang lại hoa trái khi kèm theo đó là những biểu hiện cụ thể tình yêu thương đối với người lân cận của chúng ta, đặc biệt những ai đang gặp khó khăn.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 23/03/2017 

- May the certainty of faith be the engine of our lives.
Mong sao niềm xác tín trở thành động lực cho đời sống chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 22/03/2017 

- Even if we may be men and women of little faith, the Lord saves us. We must always have hope in the Lord!
Ngay cả khi chúng ta có đức tin non yếu, Chúa vẫn cứu chúng ta. Chúng ta hãy luôn đặt hy vọng vào Chúa!

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 21/03/2017 

- It is vital that we sow the seeds of goodness in order to cultivate justice, foster accord, and sustain integration, without growing weary.
Chúng ta hãy cấp bách gieo vãi hạt giống điều thiện để vun trồng công lý, phát triển hòa giải, cổ vũ hội nhập, mà không biết mệt mỏi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 19/03/2017 

- May St Joseph, Spouse of Mary and Patron of the Universal Church, bless you and watch over you. And best wishes to fathers!
Nguyện xin Thánh Giuse, hôn phu của Mẹ Maria và là Đấng Bảo trợ của Giáo Hội Hoàn Vũ, chúc phúc và gìn giữ các bạn. Tôi gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến những người cha gia đình !

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 18/03/2017 

- I invite you not to build walls but bridges, to conquer evil with good, offence with forgiveness, to live in peace with everyone.
Tôi kêu mời các bạn xây những cây cầu thay vì những bức tường, lấy điều thiện chinh phục điều ác, tha thứ chinh phục lỗi lầm, để sống trong an hòa với mọi người.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 17/03/2017 

- Fasting means not only abstaining from food, but also from any unhealthy attachment, and especially sin.
Ăn chay không chỉ là kiêng thức ăn, nhưng còn phải lánh xa bất cứ điều gì không lành mạnh, đặc biệt là tội lỗi.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 16/03/2017 

- The Church wishes to be close to each person with the love, compassion and consolation that come from Christ.
Giáo Hội mong ước gần gũi với mỗi người bằng tình yêu, lòng trắc ẩn và sự an ủi đến từ Đức Kitô.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 15/03/2017 

- The word of God helps us to open our eyes to welcome and love life, especially when it is weak and vulnerable.
Lời Chúa giúp chúng ta mở mắt để đón nhận và yêu quý sự sống, đặc biệt khi đó là sinh linh yếu đuối và dễ bị tổn thương.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 14/03/2017 

- Let us pray for one another so that we may open our doors to the weak and poor.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau để chúng ta biết mở cửa đón nhận người yếu đuối và nghèo khổ.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 13/03/2017 

- May the Holy Spirit lead us on a true journey of conversion, so that we can rediscover the gift of God’s word.
Xin Chúa Thánh Linh dẫn dắt chúng ta trên con đường hoán cải đích thực, hầu chúng ta có thể tái khám phá ân ban của Lời Chúa.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 12/03/2017 

- Lent is the favourable season for renewing our encounter with Christ, living in his word, in the sacraments and in our neighbour.
Mùa Chay là mùa thuận tiện để làm mới lại sự gặp gỡ với Đức Kitô, để sống trong lời Ngài, trong các bí tích và người lân cận của chúng ta.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 11/03/2017 

- The road from love to hate is easy. The one from hate to love is more difficult, but brings peace.
Con đường từ yêu đến ghét thì dễ dàng. Con đường từ ghét đến yêu thì khó khăn hơn nhiều, nhưng nó mang lại sự an bình.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 10/03/2017 

- Let us strive to fast during Lent with a smile, rather than a long face.
Trong mùa Chay chúng ta hãy cố gắng ăn chay với nụ cười chứ không phải với khuôn mặt nhăn nhó.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 06/03/2017 

- I ask, please, for your prayers for me and my collaborators, who until Friday will be on retreat.
Xin các bạn vui lòng cầu nguyện cho tôi và các cộng sự của tôi sẽ dự tuần tĩnh tâm cho đến thứ Sáu.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 05/03/2017 

- Jesus is the faithful friend who never abandons us. Even when we sin, he patiently awaits our return.
Đức Giêsu là người bạn thủy chung không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Kể cả khi chúng ta phạm tội, Ngài kiên nhẫn chờ đợi chúng ta quay về.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 04/03/2017 

- Lent urgently calls us to conversion. We are called to return to God with all our heart.
Mùa Chay khẩn thiết mời gọi chúng ta hoán cải. Chúng ta được mời gọi trở về với Thiên Chúa bằng tất cả con tim.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 02/03/2017 

- God is always faithful and never stops for a moment loving us, following our steps, and running after us when we have strayed from him.
Thiên Chúa luôn trung tín và không ngừng yêu thương ta, không ngừng theo bước chân ta và chạy theo ta khi ta lạc lối khỏi Ngài.

Pope Francis (@Pontifex)
    Ngày 01/03/2017 

- Lent is a new beginning, a path leading to the certain goal of Easter, Christ’s victory over death.
Mùa Chay là một cuộc khởi đầu mới, con đường dẫn đến mục tiêu xác định là Lễ Phục Sinh, sự chiến thắng của Đức Kitô trên cái chết.
Chuyen muc Hoi Ngo

ỦNG HỘ-CHIA SẺ




HIỆP THÔNG THÁNG 03/2017

Websites Gia đình

BỘ ĐẾM

  • Đang truy cập: 41
  • Khách viếng thăm: 38
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 1689
  • Tháng hiện tại: 316362
  • Tổng lượt truy cập: 16541399